Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Nội dung ôn tâp lớp cao học Viện môi trường và tài nguyên năm 2026

 

NỘI DUNG ÔN TẬP

  1. Phương thức sản xuất – Nhân tố giữ vai trò quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội?

  2. Hoàn cảnh địa lý – nhân tố tất yếu thường xuyên đối với sự tờn tại, vận động và phát triển của xã hội?

  3. Dân số - nhân tố tất yếu thường xuyên đối với sự tờn tại, vận động và phát triển của xã hội?

  4. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên?

5. Ý nghĩa phương pháp luận của cách tiếp cận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trong nhận thức và thực tiễn của sự phát triển xã hội?

  

NỘI DUNG CƠ BẢN

1. Phương thức sản xuất – Nhân tố giữ vai trò quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội?

a. Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ những phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.

Tồn tại xã hội có 3 yếu tố:

- Hoàn cảnh địa lý

- Dân số

- Phương thức sản xuấtnhân  tố giữ vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Vì PTSX là qui luật chung của sản xuất vật chất vật chất xã hội. Đó là qui luật QHSX phù hợp với tinh chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

b. Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

- Phương thức sản xuất là cách thức sản xuất vật chất của xã hội. Kết cấu của phương thức sản xuất bao gồm 2 yếu tố: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

+ Lực lượng sản xuất là mối quan hệ con người với tự nhiên trong sản xuất vật chất của xã hội. LLSX là cơ sở vật chất kỹ thuật và phản ánh trình độ SXVC của 1 PTSX nhất định.

+ Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa con người và con người trong sản xuất vật chất. QHSX phản ánh bản chất xã hội của 1 PTSX nhất định.

- Biện chứng giữa LLSX và QHSX

+ Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất    

Sự vận động của PTSX bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi và phát triển của LLSX. Đó là sự thay đổi của công cụ lao động, phân công lao động và năng suất lao động xã hội.

   Trong một PTSX, LLSX phát triển đến một giới hạn nhất định mâu thuẫn QHSX cũ, đòi hỏi xóa bỏ QHSX cũ xây dựng một QHSX mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất…

   Tính chất của LLSX là tính chất lao động xã hội thể hiện tính chất cá thể hay xã hội hóa của lao động.

Trình độ của LLSX là trình độ của người lao động, công cụ lao động, phân công lao động xã hội…

Ví dụ: Sự thay thế PTSX TBCN đối với PTSXPK bắt đầu từ cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII là sự ra đời cùa sản xuất công nghiệp, phân công lao động xã hội phát triển và năng suất lao động cao … đã mâu thuẫn với QHSXPK đòi hỏi xóa bỏ QHSXPK thiết lập QHSX TBCN và PTSX TBCN…

Trong xã hội có giai cấp giải quyết mâu thuẫn giữa QHSX và LLSX thông qua một cuộc cách mạng xã hội nhất định. Ví dụ: Sự chuyển hóa từ PTSXPK sang PTSXTB thông qua cách mạng tư sản…

+ Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX có hai khuynh hướng chung:

Thúc đẩy sự phát triển của LLSX, nếu QHSX phù hợp với sự phát triển của LLSX;

Ví dụ: sự hình thành và phát triển QHSX TBCN ở thế kỷ XVII, XVIII đã thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất công nghiệp…

Kìm hãm sự phát triển của LLSX, nếu QHSX không phù hợp với sự phát triển của LLSX;

Ví dụ: QHSX Phong kiến ở thế kỷ XVII…

Ví dụ: Liên hệ thực tiễn Việt Nam cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX.

c. Ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn

- Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất khẳng định lịch sử phát triển của của xã hội là lịch sử của các phương thức sản xuất vật chất khác nhau theo một quá trình từ thấp đến cao.  Đó là từ phương thức sản xuất nguyên thủy đến phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.

- Vận dụng vào thực tiễn hiện nay ở Việt Nam

Tham khảo tài liệu trên mạng

2. Hoàn cảnh địa lý  – nhân tố tất yếu, thường xuyên đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội?

a. Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ những phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.

Tồn tại xã hội có 3 yếu tố:

- Dân số

- Phương thức sản xuất

 - Hoàn cảnh địa lý – nhân tố tất yếu, thường xuyên đối với sự phát triển của xã hội

b. Hoàn cảnh địa lý – nhân tố tất yếu, thường xuyên đối với sự tờn tại, vận động và phát triển của xã hội

- Hoàn cảnh địa lý là giới tự nhiên bao quanh nơi ở và hoạt động của con người. Bao gồm các yếu tố tự nhiên như khí hậu, tài nguyên hoặc là điều kiện tự nhiên là môi trường sống của con người....

Môi trường và vai trò của môi trường đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội?

Tài nguyên và vai trò của tài nguyên đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội?

c. Ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn... 

3. Dân số – nhân tố tất yếu thường xuyên đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội?

a. Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ những phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.

Tồn tại xã hội có 3 yếu tố:

 - Hoàn cảnh địa lý

 - Phương thức sản xuất

 - Dân số – nhân tố tất yếu, thường xuyên đối với sự phát triển của xã hội

 b. dân số  – nhân tố tất yếu, thường xuyên đối với sự phát triển của xã hội

- Dân số - mật độ dân số

+ Các quan niệm về vấn đề dân số…

+ Qui luật tỷ lệ nghịch đối với sự phát triển dân số trong sự phát triển kinh tế - xã hội

- Dân số đối với sự phát triển của xã hội

c. Ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn...

4. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên?

a. Khái niệm hình thái kinh tế xã hội: Dùng để chỉ xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó.

Cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội (các nhân tố tạo thành hình thái kinh tế xã hội): Quan hệ sản xuất; Lực lượng sản xuất; Cơ sở hạ tầng; Kiến trúc thượng tầng.

Mối quan hệ giữa các nhân tố hợp  thành hình thái kinh tế – xã hội phản ánh các qui luật chung của xã hội

 b. Quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh tế – xã hội

- Qui luật về mối quan hệ biện chứng QHSX – LLSX

Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất khẳng định lịch sử phát triển của của xã hội là lịch sử của các phương thức sản xuất vật chất khác nhau theo một quá trình từ thấp đến cao. 

Đó là từ phương thức sản xuất nguyên thủy đến phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.

Qui luật về mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT là qui luật chung của xã hội. Đó là nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển các nền kinh tế, hệ thống chính trị xã hội…

- Sự phát triển của xã hội phụ thuộc yếu tố thời đại lịch sử xét về 2 phương diện:

Thời đại của các bước ngoặt trong lịch sử bởi phát triển của khoa học...

Thời đại của các giai cấp tiến bộ, cách mạng đại diện cho sự phát triển của LLSX...

Ví dụ: Thời đại của giai cấp tư sản, giai cấp tư sản và giai cấp công nhân...  

5. Ý nghĩa phương pháp luận của cách tiếp cận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trong nhận thức và thực tiễn của sự phát triển xã hội?

a. Khái niệm và các nhân tố hợp thành hình thái kinh tế - xã hội

- Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội: Dùng để chỉ xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó.

- Cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội (các nhân tố tạo thành hình thái kinh tế xã hội):

   + Quan hệ sản xuất;

   + Lực lượng sản xuất;

   + Cơ sở hạ tầng;

   + Kiến trúc thượng tầng.

- Mối quan hệ giữa các nhân tố hợp  thành hình thái kinh tế – xã hội phản ánh các qui luật chung của xã hội:

+ Qui luật về mối quan hệ biện chứng QHSX – LLSX;

+ Qui luật biện chứng giữa CSHT – KTTT.

b. Ý nghĩa phương pháp luận của cách tiếp cận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trong nhận thức và thực tiễn của sự phát triển xã hội;

- Lý luận hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở lý luận về thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội.

- Lý luận hình thái kinh tế - xã hội khẳng định xã hội là một hệ thống toàn vẹn của các phương diện đời sống xã hội tồn tại trong một cấu trúc thống nhất.

Xã hội không phải là sự kết hợp một cách máy móc ngẫu nhiên giữa các cá nhân, mà là cơ chế tác động qua lại giữa các quan hệ xã hội.

- Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội chỉ ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội như là một quá trình lịch sử tự nhiên…

- Sự vận dụng các qui luật chung của xã hội còn phù thuộc điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc tạo nên tính đặc thù trong sự vận động phát triển các các hình thái kinh tế - xã hội nhất định.

 - Lý luận hình thái kinh tế - xã hội có ý nghĩa phương pháp luận khoa học đối với nhận thức và thực tiễn xã hội mặc dầu có nhiều quan điểm khác nhau về lý luận hình thái kinh tế - xã hội. Đó là quan điểm về các nền văn minh:  Nông nghiệp,công nghiệp hậu công nghiệp (Văn minh trí tuệ).

- Phê phán phương pháp tiếp cận và những quan điểm duy tâm, siêu hình về lịch sử của các trường phái triết học.

c. Vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội vào thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay.

- Việc lựa chọn con đường xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

+ Tiếp tục khẳng định vai trò của hệ tư tưởng Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam hiện nay.

+ Thời kỳ quá độ đi lên CNXH hiện nay ở Việt Nam là một quá trình lâu dài và phức tạp… bao hàm sự kế thừa những thành tựu của chủ nghĩa tư bản… 

- Xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hương XHCN

  + Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá lớn của CNTB trong thời đại ngày nay;

  + Qui luật của kinh tế thị trường bao gồm: qui luật giá trị; qui luật giá trị thặng dư; qui luật cung cầu; qui luật tiền tệ thế giới…

  + Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là đa dạng hoá các thành phần kinh tế và khẳng định vai trò của kinh tế nhà nước…

  + Kinh tế thị trường gắn liền với quá trình xã hội hoá về giáo dục, y tế và văn hoá xã hội

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự nghiệp cách mạng hiện nay ở Việt nam.

   + Tại sao phải tiến hành công nghiệp hoá?

   + Tiến hành công nghiệp hoá trong điều kiện hoàn cảnh cuộc cách mạng công nghệ… có những thuận lởi và khó khăn gì?

   - Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội.

   + Phát triển kinh tế thị trường trên cơ sở công nghiệp hoá hiện đại hoá là xây dựng phát triển LLSX, QHSX, CSHT và KTTT XHCN quan hệ quốc tế…

   + Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN

+ Xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc…            

 

 

 

 

 

  

 

 

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2022

Một người

 

Một người nhớ

Một người thương

Một người dạo ấy vẫn thường qua đây

Một người ngoảnh mặt là ngơ

Một người đau đáu như chờ đợi ai?

Tình thơ

 Vì tình anh phải lụy tình

Vì yêu anh chỉ yêu mình em thôi

Vì đời phải biết khóc cười

Vì duyên anh phải ngậm ngùi se duyên

Vì trái tim khổ trái tim

Vì hồn mơ mộng phải tìm mộng mơ

Vì mộng mơ lụy nàng thơ

Vì thơ anh phải tôn thờ tình em

Vì em chia sẻ riêng chung

Vì anh em hóa thiên thần tình yêu


Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2022

Hạt cát

 

Em là hạt cát 
ngập vùi nơi biển mặn, 
Vẫn khát khao 
mơ ước những bến bờ. 
Dấu chân anh 
vô tình làm tung sóng cả, 
Chợt thấy 
cát vàng lóng lánh nét hoang sơ.

Cố hương

Con đã lang thang

hơn nửa cuộc đời

Dọc ngang phiêu lưu buồn vui lận đận...

Con vẫn nghe trái tim mình thầm nhắc

Tiếng mẹ hiền – hai chữ cố hương

 

Hành trình cuộc đời

trong mỗi bước tha hương

Trong cõi nhân gian gian ai còn ai mất

Một nén nhang cho những người đã mất

Cõi tâm linh trong kiếp con người.

 

Con đã về đây

– nơi con khóc chào đời

Vẫn trắng đôi tay –  tình đời đen bạc

Vòng tay mẹ vẫn muôn đời ấm áp

Xin được hôn người – hai chữ cố hương. 

Nhố nhăng

 

Nhố nhăng

cái thói ở đời

Dựa hơi lên mặt đua đòi bon chen.

Một lời chị một lời anh

Kiếp này tôi mọi cũng đành đưa chân.

Nợ

 

Nợ nghĩa tình

xin hẹn ngày sau trả

Nợ ái tình xin giữ mãi trong tim

Anh và em như những kẻ trốn tìm

Chợt đến chợt đi còn tình yêu trở lại

Luẩn quẩn


Muôn ngả đường đời

– muôn ngả đường sông.

Như dòng chảy

trôi vào trong vô tận…

Ta vẫn còn em

như tình đời chân thật

Chuyện chúng mình

luẩn quẩn cái yêu đương…

 

Nỗi niềm tâm sự

     Yêu nhà giáo

nên thương nhà giáo

Kỹ sư tâm hồn

tâm hồn nghĩa là thơ

Nên phải yêu ước mơ

Nên phải yêu trí tuệ

Qúi những giọt mồ hôi và thương giọt lệ

Đã từng rơi trên trang giấy học trò

Yêu những bến bờ

yêu những con đường phải đến

Yêu cái phải nhớ yêu nỗi nên quên...

 

Cây phượng sân trường

bông nắng rung rinh

Nghe tiếng trống nhớ giờ lên lớp học

Trên giảngđường hôm nay những ai vắng mặt

Nỗi buồn vui ai đó ở trong ai?

 

Hiện tại nói gì

với cuộc sống ngày mai

Niềm tin nói gì ới ước mơ tuổi trẻ

Trang giấy học trò theo dòng đời muôn ngả

Hạnh phúc ở gần hay hạnh phúc ở xa?

 

Yêu cái của riêng tôi

yêu cái của chúng ta

Phấn trắng bảng đen tình đời nhân nghĩa

Nghĩ suy những gì những gì cấn suy nghĩa

Riêng tôi vẫn yêu nghề yêu tuổi tre và thơ.

Thứ Tư, 24 tháng 11, 2021

Bây giờ điên nữa cho đời điên thêm...

Trong những thi sĩ Việt Nam thế kỷ XX, Bùi Giáng có lẽ là người duy nhất xứng với hai từ “quái kiệt”. 

§  Xì phé với Bùi Giáng

§  "Chuyện tình" của thi sĩ Bùi Giáng và "kỳ nữ Kim Cương: Lãng mạn dị thường

§  Thi nhân Bùi Giáng: Một tiếng lá rơi dội trong sương mù

Vừa là học giả, là nhà nghiên cứu, là dịch giả, là thầy giáo... nhưng sau hết ông là một thi sĩ đã để lại cho đời vô số giai thoại nửa thực nửa hư, bi hài trộn lẫn.

Nhiều người đương thời không hề ngần ngại gọi ông là nhà thơ điên, thế nhưng cái điên của ông lại quá đỗi đặc biệt, như một tỷ lệ thuận với những lao động sáng tạo mà ông để lại cho đời.

Cuộc đời của Bùi Giáng được công nhận như một kỳ tích đặc biệt, hiếm có: “Viết đôi lời hay nhiều lời về Bùi Giáng không bằng đọc Bùi Giáng. Đọc Bùi Giáng không bằng giao du với Bùi Giáng. Giao du với Bùi Giáng không bằng sống như Bùi Giáng. Mà sống như Bùi Giáng thì thật vui và thật khó vậy” (Bùi Văn Nam Sơn). Bản thân thi sĩ tự bạch về mình qua mấy chữ: Điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang.

Điên trong đời

Bùi Giáng ngay từ hồi trẻ đã có những biểu hiện kì dị, khác thường khiến mọi người xung quanh vô cùng “ấn tượng”. Nhiều người cho rằng, gien “điên” của Bùi Giáng ít nhiều ảnh hưởng từ cụ thân sinh là ông Bùi Thuyên, thường được gọi là ông Cửu Tý. 

Tương truyền, ông Cửu Tý bị chứng cuồng nhẹ, hằng ngày thường làm bộ cưỡi ngựa bằng mo cau đi từ làng Trung Phước đến làng Cà Tang đọc thơ, làm câu đối và đặc biệt rất thích chọc ghẹo... các cô gái có nhan sắc. 

Bùi Giáng lấy vợ năm 1945, đến năm 1948 thì vợ sinh non và qua đời cả mẹ lẫn con. Giai thoại kể rằng, ông đã làm thịt 21 con gà, lại còn thành tâm bỏ thịt con gà còn sống vào quan tài tẩm liệm người vợ thân yêu. 

Từ năm 1948 đến khoảng 1951, Bùi Giáng mua đàn dê hàng trăm con và đi chăn dê ở miền đồi núi Trung Phước (Quảng Nam). Ông lang thang lên các quả đồi hái hoa, hái lá về kết vòng đeo vào cổ cho dê. Ông gọi dê là các em dê, mỗi con dê được ông đặt cho một cái tên.

Những ngày tháng chăn dê đã đi vào trong nhiều bài thơ của ông mà tiêu biểu là Nỗi lòng Tô Vũ: “Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm/ Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu/ Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh/ Này em Hoa Cà hỡi! Chiếc nâu/ Ngẩng đầu lên! Dê ơi anh thong thả/ Đeo vòng vào em nghển cổ cong xinh/ Ngẩng đầu lên! Đây lòng anh vàng đá/ Gửi gắm vào vòng mây nhuộm tơ duyên”. 

Những năm 1952 đến 1960, Bùi Giáng từng đi dạy Việt văn ở một số trường trung học tỉnh lỵ. Một hôm, giảng Kiều, đến chỗ Kiều phải hồng trần lưu lạc, thầy Giáng khóc òa. Thế là nhảy phóc qua cửa sổ lớp học, đi bộ ra bến xe rồi về thẳng Sài Gòn. Học trò cứ thế ngồi chờ thầy mãi vì trên mặt bàn, sách vở và bao thuốc lá vẫn còn. 

Thế mà hóa ra thầy đi một mạch, bỏ lớp bỏ trường, bỏ cả tỉnh lỵ nhiều năm sau đó. Sau này hỏi lại, thầy mới nói lý do rằng không thể trở lại nơi em Kiều đã một lần hy sinh cho cái trò chơi nhân gian kỳ ảo chỗ liên tồn. 

Năm 1965, nhà Bùi Giáng gặp cơn hỏa hoạn, cháy rụi nhiều sách quý và các bản thảo. Thi sĩ bị chấn động mạnh, nổi cơn điên và cho đến tháng 5-1969 thì gia đình phải gửi vào Bệnh viện Biên Hòa để điều trị. Một thời gian sau, ra khỏi viện, Bùi Giáng bắt đầu một hành trình... điên mới, sống lang thang nay đây mai đó, lúc ngủ quán này, mai ngủ bãi hoang kia. 

Người đương thời kể lại, ông thường xuất hiện một cách lạ mắt trong trang phục thùng thình trên hè phố, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải lại còn thêm cây gậy, trên cổ có khi đeo toòng teng đủ thứ như hộp lon, nón rách, giày rách, áo quần, rơm rạ. 

Có khi ông đứng giữa ngã ba, ngã tư để hò hét chỉ huy giao thông. Có khi ông chơi cùng bọn trẻ con ở những bãi đất trống, hát hò, đọc thơ với chúng. 

Có khi ông đến gõ cửa nhà nghệ sĩ Kim Cương - nàng thơ, người trong mộng mà ông hết sức tôn thờ: “Nếu ngày mai tôi chết đi, mà cô không thể rỏ cho một giọt nước mắt/ Thì cô có thể rỏ cho một giọt nước tiểu cũng được/ (Nhớ rỏ ngay trên mồ)/ Ở dưới suối vàng tôi sẽ ngậm cười đón nhận”. 

Bùi Giáng còn nổi tiếng với những câu chuyện về nuôi heo đất, vịt đất bằng rau, gạo như heo vịt thật, hoặc về thói quen ăn uống: Phạm Công Thiện gọi một ly café. Tôi gọi một ly trà đá. Riêng Bùi Giáng gọi một tô hủ tiếu, một tô mì, một ly café sữa và một ly đá chanh (...) 

Ông ăn một miếng mì, rồi lại ăn một miếng hủ tiếu, uống một chút nước chanh, rồi lại nhấm nháp một chút café. Cái lối ăn uống của Bùi Giáng thật là quái đản. Nhưng ông ăn và uống đều ngon lành. Cả café sữa và chút chanh đường. Cả những sợi mì và cả những sợi hủ tiếu. Ông gắp cái này một chút, uống cái kia một chút, như người nhạc trưởng uyển chuyển trước một dàn nhạc. 

Ngay cả đồ gia vị cũng vậy. Ông rắc một chút tiêu lên tô này, lại thêm một chút ớt vào tô nọ. Xúc một muỗng đường. Xin vài hạt muối. Muối cho vào ly đá chanh. Đường cho vào tô mì. Lung linh trộn lộn. 

Có lẽ, chỉ có ông trời xanh hay bà trời trắng mới biết được ông đang ăn uống hay đang chơi dạo giữa mùa trăng châu thổ? (Tuấn Huy - Những ngọn cỏ sầu của Bùi Giáng).

Điên trong thơ

Ở phần trên, chúng tôi vừa lược thuật lại vài câu chuyện đời dị thường của Trung niên thi sĩ. Chất điên ở Bùi Giáng, rõ là không giống ai, đã gợi lên trong mỗi chúng ta một tâm hồn rất đỗi nhạy cảm trước cái đẹp, trước cuộc sống, trước những câu chuyện nhân sinh. 

Và khi đi vào trong thơ để điên trở thành một hình tượng nghệ thuật, thiết tưởng cũng không có thi sĩ nào tạo ra một mật độ dày đặc như Bùi Giáng.

Điên trong thơ Bùi Giáng giống như một hệ hình thẩm mỹ, đi từ tâm thân ra tới ngoại cảnh, có thể bao trùm hết không gian và thời gian, từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, và được dẫn dắt, kéo đi bằng một dòng cảm xúc ngập tràn: Tờ điên trang điểm thêu thùa/Chữ điên càng viết càng đùa giỡn suông/Tình điên đổi ngọn thay nguồn/Mộng điên trút lục giũ hường đổ sông/Một điên cuồng tưởng vời trông/Hai điên tường dại hư không đặt lời/Ba điên dại niệm dài hơi/Bốn điên mê tưởng về nơi phiêu bồng/Năm điên chuốc não bỗng không/Sáu điên sầu tỏa chùm bông giữa hàng/Bảy điên thụ động đầu trang/Tám điên đầu lá nhặt khoan tự tình/Chín điên trường dạ dặm nghìn/Mười điên vĩnh viễn theo bình minh điên (Quà nguyên đán). 

Vậy là thi sĩ thậm chí còn coi điên như một món quà mà Tạo hóa, trời đất, cuộc đời đã tặng cho mình, để mà mình vui thú khoái hoạt triền miên. Điên không có mở đầu, không có kết thúc. 

Điên cũng tự nhiên như hơi thở: Mẹ về ngủ giấc bình yên/Con đi suốt xứ còn điên như thường (Thơ điên tái điệp), Sơ sinh phát tiết muộn lời/Tâm hồn như lộc trang đời như điên (Muôn tâu bệ hạ).

Hình như ở thời kỳ đầu, cụ thể là trong tập Mưa nguồn – tập thơ thứ nhất của Bùi Giáng, cái điên đôi khi còn gắn với những xót xa, day dứt. 

Tâm và cảnh vẫn còn là hai khoảng tách rời nhau: Anh qua miền cao nguyên/Nhìn mây trời bữa nọ/Đêm cuồng mưa khóc điên/Trăng cuồng khuya  trốn gió (Bờ lúa). 

Nhưng càng về sau này, cái điên đã đi hết một hành trình trong thơ Bùi Giáng để tâm và cảnh cùng tan chảy nhuyễn vào nhau thành một. Điên được thụ hưởng như một khoái cảm, được chở che như một hạnh phúc. 

Liệu có phải đó chính là một cách thức để Bùi Giáng tự đo đi suốt một cuộc đời của riêng ông: Nắng trưa nắng xế đầy trời/Bóng cây râm mát che đời ta điên (Thơ tặng)

Bùi Giáng không ngần ngại nhắc đến cái chết, điên không chỉ gắn với từng phút giây của đời sống mà còn theo con người tận tới khi giã từ trần gian. 

Nhưng khi ấy, điên hình như cũng vẫn không mất đi mà lại tiếp tục tái sinh trong một hành trình khác: Cuộc điên đã chấm dứt rồi/Bây giờ điên nữa cho đời điên thêm (Nỗi buồn). 

Có được điều ấy là bởi điên được coi như một tiên thiên, một khởi nguyên xuất phát tự trời xanh: “Một cô hàng xóm nghịch đùa/ Gọi tôi như gọi già nua ông trời/ Thật ra có lẽ lầm rồi/ Ông trời muôn thuở ông trời đã điên” (Lẩm cẩm).

Bùi Giáng rong chơi với tháng ngày bất tận, “phóng túng hình hài, ngang tàng định mệnh”. Ông đùa cợt giễu nhại, mỉa mai tự trào. Cái người ta coi là quan trọng thì đối với ông chẳng hề quan trọng. Cái người ta vứt đi thì đối với ông có khi lại như một báu vật. Cái điên trong thơ Bùi Giáng vì thế thường gắn với một tinh thần hài hước. 

Ông đem mình ra để mà trào lộng: “Giáng bao nhiêu tuổi Giáng già/ Điên bao nhiêu tuổi gọi là điên non/ Người còn thì của hãy còn/ Còn thằng Bùi Giáng hãy còn cái điên” (Bùi Văn Giáng). Có lúc, ta ngỡ ngàng bối rối không biết ông nói đùa hay nói thật: “Bình sinh ta, bình sinh ta/ Vì mê gái đẹp mà ra điên rồ”.

Sinh thời, có một câu nói luôn đồng hành với Bùi Giáng trong mọi cuộc gặp gỡ với anh em bè bạn, trong mọi việc ông làm, dù việc đó có thể được coi là kì tích hay giống như một khoảnh khắc phiêu bồng: “Vui thôi mà!”. Chỉ có ba chữ giản đơn ấy thôi. 

Chất điên trong thơ Bùi Giáng vì thế, hướng tới một cảm giác phiêu thoát và giải phóng, là một tương phản đối đỉnh với chất điên trong thơ một thi sĩ tài danh khác - Hàn Mặc Tử, vốn gắn với những bi kịch đau đớn của một thân phận con người. 

Bùi Giáng đã để lại một cảm hứng đặc biệt cho thi ca Việt, làm cho chúng ta có một cảm giác ông vẫn còn rong chơi quanh đây mỗi ngày, thật gần gũi với chúng ta, như chính những câu thơ mà ông để lại: “Điên duỗi dọc, điên ngửa nghiêng/ Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời...”.

 

Đỗ Anh Vũ