Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa - Du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa - Du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

Trống – Báu vật của người Jrai ở Gia Lai

Với dân tộc Jrai (Gia Lai), trống không đơn thuần là một loại nhạc cụ truyền thống mà trống còn được xem là một vật chứa đựng giá trị về vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống, nó mang ý nghĩa thiêng liêng trong sinh hoạt tín ngưỡng, là biểu hiện những đặc trưng cơ bản truyền thống văn hóa người Jrai tồn tại từ bao đời nay.
     Trống – Báu vật của người Jrai (Ảnh: Internet)
    Trống của người Jrai được phân loại theo kích thước thành 3 nhóm chính: trống nhỏ gồm 3 hiện vật có chiều dài tang trống từ 24 cm đến 40 cm và đường kính mặt trống từ 14 cm đến 20 cm; trống trung gồm 8 hiện vật, có chiều dài tang trống từ 40 cm đến 60 cm và đường kính mặt trống từ 30 cm đến 45 cm; trống lớn gồm 13 hiện vật, có chiều dài tang trống từ 85 cm đến 110 cm và đường kính mặt trống từ 60 cm đến 100 cm.
    Quy trình chế tác trống của người Jrai trải qua nhiều công đoạn hết sức công phu, phức tạp và phải tuân theo các luật tục, nghi thức thần linh một cách nghiêm ngặt. Trước hết là khâu tuyển chọn nguyên liệu, như đã nói ở trên tang trống được làm phần lớn từ thân cây gỗ sao, khác với tang trống của người Việt và một số dân tộc khác được làm từ gỗ mít và tang trống được ghép nhiều thanh lại với nhau. Khi chọn nguyên liệu làm trống người Jrai phải giết gà, heo để cúng.
    Theo quan niệm khi chọn cây họ chỉ ước lượng đường kính, chiều cao của thân cây, tuyệt đối không được dùng thước để đo để tránh làm náo động thần cây. Trong trường hợp khi đi chọn chặt cây mà thấy rắn bò ngang qua đường thì phải lùi ngày lại để tránh điềm xấu xảy ra, hoặc khi chặt cây người ta thường kiêng kỵ đối với các trường hợp như cây đổ đè phải con vật nào đó (thỏ, sóc, chồn...), thân cây không nằm xuống đất, cây đổ mà ngọn chắn ngược dòng suối chảy hoặc bất chợt một con vật nào chạy ngang qua thân cây... đều bị coi là điềm xấu, cây này không thể dùng để làm trống.
    Mặt trống, người Jrai thường sử dụng da của con trâu, bò để làm; thông thường người ta hay sử dụng da trâu để bịt mặt trống. Với quan niệm vạn vật, hiện tượng luôn luôn tồn tại song song hai mặt, âm-dương, đất-trời,... nên khi làm trống đặc biệt với loại trống lớn có đường kính mặt trống từ 0,8 mét đến 1,2 mét người ta sử dụng da của 2 con trâu (trâu đực và trâu cái). Khi trống được hoàn thành, 2 mặt trống người Jrai vẫn thường gọi là mặt đực và mặt cái. Mặt đực và mặt cái không những chỉ phân biệt dựa vào da trâu đực hay da trâu cái mà còn được phân biệt qua cấu tạo trên mặt trống (mặt đực có khoét lỗ thông hơi, mặt cái không khoét lỗ) và còn được phân biệt qua âm thanh phát ra khi đánh trống (đánh vào mặt đực có âm trầm, hào hùng; đánh vào mặt cái âm phát ra thanh, bay bổng).
    Trống của người Jrai dù to hay nhỏ đều được làm từ gỗ nguyên thân và sử dụng kỹ thuật đục, đẽo, khoét rỗng thân cây được cắt ra và đục khoét tang trống tại nơi lấy cây. Người Jrai sử dụng các dụng cụ thô sơ như rìu, rựa... để đục khoét tang trống từ hai mặt dần dần vào, hoặc có khi người ta đốt lửa hai đầu cho cháy thâm vào từ hai bên sau đó dùng rìu, rựa để tu chỉnh và đục đến khi thông nhau. Sau khi tang trống được đục khoét xong người ta không đưa về nhà ngay mà để lại ở đó cho khô (trung bình khoảng 20-30 ngày), sau đó trở lại rừng và làm lễ rước trống về làng. Tiếp đến là công đoạn bọc (bịt, bưng) trống. Những người được tham gia bọc da trống phải là người biết đánh trống, thường là các già làng. Để làm căng mặt trống, người Jrai cũng dùng chèn, đai mây, búa gỗ, đinh ghim bằng tre để níu căng da trống. Trên tang trống người ta khoan nhiều lỗ để ghim đinh từ mặt trống cho đến giữa thân. Trước đây trống được bọc kín cả tang trống từ hai mặt vào và dùng bằng đinh tre hoặc đinh gỗ; càng về sau người ta chỉ bọc ở hai mặt trống, tang trống để trần và dùng đinh kim loại.
    Trống thường do nam giới sử dụng và được biên chế cùng với cồng chiêng, chũm chọe, lục lạc… trong các dịp lễ hội của gia đình, cộng đồng như: lễ bỏ mả, lễ cúng cầu mưa, lễ mừng lúa mới… Đặc biệt đối với chiếc trống lớn người Jrai thường được sử dụng vào các nghi lễ tại nhà, họ không bao giờ hoặc cho phép ai đưa trống ra khỏi nhà, một phần vì kích thước lớn không thể di chuyển, một phần vì họ cho rằng nếu làm vậy rất tội lỗi và điều xui sẽ đến với những người thân trong gia đình. Người sử dụng trống thường là những người có uy tín, là người chỉ huy. Mỗi khi tiếng trống vang lên là sự báo hiệu cho dân làng biết có việc hệ trọng xảy ra.
    Đối với trống trung, cũng do nam giới sử dụng do hai người vừa khiêng vừa đánh hoặc có bốn hay sáu người vừa khiêng vừa đánh dẫn đầu dàn cồng chiêng và vòng xoang. Có khi chỉ một người đeo ngang trống trước bụng, dùng tay vỗ trống, vừa đánh vừa múa theo tiết tấu, nhịp điệu của dàn chiêng. Riêng trống nhỏ khi sử dụng bằng cách quàng một sợi dây qua cổ và để trống ngang trước bụng, hai tay vỗ vào hai mặt trống; khi đánh không sử dụng cả bàn tay mà chỉ sử dụng các ngón tay để vỗ vừa di chuyển cùng dàn chiêng vừa đánh vừa nhảy nhót hay còn gọi là múa trống.
    Người Jrai coi trống là một tài sản quý, là một vật thiêng liêng biểu thị tiếng nói của thần linh. Trống là một loại nhạc cụ gõ, đồng thời còn là phương tiện thông tin. Khi nghe tiếng trống vang lên theo nhịp điệu rộn ràng thì dân làng biết được nhà có việc vui để kéo đến uống rượu mừng. Còn khi nghe tiếng trống giật đứt quãng, dặt dìu nghe như đau đớn, ai oán thì dân làng đều biết đấy là báo hiệu nhà có chuyện buồn và cùng đến để sẻ chia...
    (theo Dân tộc Việt)

    Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

    Thăm bộ tộc có phụ nữ đẹp và hạnh phúc nhất thế giới

    Mai An | 05/10/2015 19:00
    Thăm bộ tộc có phụ nữ đẹp và hạnh phúc nhất thế giới

    Ở châu Á nhưng người dân bộ tộc Kalasha lại sở hữu làn da trắng, đôi mắt xanh biếc đẹp như người châu Âu.

    Nhiều người Kalasha sở hữu da trắng, tóc vàng, mắt xanh 
    Nhiều người Kalasha sở hữu da trắng, tóc vàng, mắt xanh 
    Người Kalasha (hay còn gọi người Kalash) là một tộc người Dardic bản địa, cư trú tại thung lũng Kalasha, vùng núi Hindu Kush của Pakistan. Họ nói ngôn ngữ Kalasha, một loại ngôn ngữ đặc trưng vùng Ấn-Iran.
    Khác với những người Pakistan bản địa với nước da ngăm mạnh khỏe, người Kalasha được coi là bộ tộc "người đẹp" với nước da trắng, đôi mắt nâu; thậm chí có người còn sở hữu đôi mắt màu xanh như những người châu Âu.
    Cộng đồng ngươi Kalasha có khoảng trên dưới 3.000 người, tương truyền, họ là hậu duệ của quân đội Alexandre Đại đế. Tuy vậy, những người Kalasha không hề thiện chiến, ngược lại, họ rất hòa bình, yêu đời và luôn vui vẻ, lạc quan.
    Dù không mang DNA của người châu Âu nhưng rất khó để phân biệt người Kalasha với những người Nga, Pháp, Mỹ…
    Dù không mang DNA của người châu Âu nhưng rất khó để phân biệt người Kalasha với những người Nga, Pháp, Mỹ…
    Bộ tộc Kalasha được cho là có nền văn minh bắt nguồn từ Hy Lạp cổ xưa nhưng khi xét nghiệm DNA cho thấy Kalasha không có bất kỳ sự kết nối hay mối liên hệ nào với người Hy Lạp.
    Họ cũng được biết đến là tộc người có bộ DNA hiếm và độc đáo nhất thế giới, dù không mang DNA của người châu Âu, song với hình dáng bên ngoài, thật khó phân biệt họ với những người Nga, Pháp, Mỹ…
    Nhà của người Kalasha thường được làm từ thân cây bách hương theo thiết kế cổ xưa.
    Chúng được xây đơn lẻ hoặc xếp chồng lên nhau ven sườn đồi. Bộ tộc sống hòa hợp với thiên nhiên, giữa các khu rừng, sườn núi đầy cây cối như cây óc chó, cây mai, dâu tằm… và hai bên là dòng suối chảy.
    Ngôi nhà của người Kalasha cũng rất đặc biệt, được làm bằng gỗ, xếp bằng đá, chúng nằm bên vách đá khoét sâu vào trong núi
    Ngôi nhà của người Kalasha cũng rất đặc biệt, được làm bằng gỗ, xếp bằng đá, chúng nằm bên vách đá khoét sâu vào trong núi
    Hiện cuộc sống của người Kalasha vẫn còn nghèo đói và vất vả do công việc kiếm sống của họ chủ yếu là nghề nông. Đàn ông chăn nuôi, chủ yếu là chăn dê ở trong rừng, còn phụ nữ quán xuyến gia đình, trồng trọt, lấy củi.
    Trong làng có một ngôi nhà gọi là “bashelini”, mỗi khi có phụ nữ đến kỳ kinh nguyệt hay mang thai họ sẽ được gửi đến ngôi nhà ấy cách ly và sau khi thực hiện một nghi lễ, lấy lại sự “tinh khiết” thì sẽ được trở về nhà cùng chồng con.
    Ngôi nhà bashelini
    Ngôi nhà "bashelini"
    Mặc dù thuộc đất nước Hồi giáo nhưng bộ tộc Kalasha gần như không theo những phong tục tập quán của đạo Hồi. Người Kalasha rất “thoáng” trong quan niệm về tình yêu, hôn nhân, họ coi trọng tự do trong đời sống tình cảm cũng như đời sống tình dục.
    Họ có thể tự chọn chồng/vợ cho mình. Nếu như người chồng đối với vợ không tốt hoặc cả hai bên không thể hòa hợp được nữa, họ có thể ly hôn và ngay lập tức tìm đối tượng mới.
    Thậm chí phụ nữ có chồng có thể bỏ trốn gia đình theo tình yêu mới mà không bị bất kỳ sự chỉ trích nào. Người phụ nữ đó sẽ viết một lá thư, thông báo với người tình mới về việc bồi hoàn lại lễ vật cho người chồng cũ của cô.
    Người Kalasha được mệnh danh là bộ tộc hạnh phúc nhất thế giới
    Người Kalasha được mệnh danh là bộ tộc hạnh phúc nhất thế giới
    Một cô gái thuộc bộ tộc chia sẻ: “Chúng tôi chọn chồng của chúng tôi, và nếu họ đối xử không tốt với chúng tôi hay không chịu làm việc, chúng tôi có thể bỏ đi và tìm một người chồng mới”.
    Mặc dù hàng ngày họ chật vật với miếng ăn như vậy nhưng người Kalasha lại được bình bầu là bộ tộc hạnh phúc nhất thế giới, nhờ tư tưởng tình yêu hôn nhân cởi mở này.
    Một trong những hoạt động nhảy múa trong lễ hội Joshi kéo dài trong 3 ngày
    Một trong những hoạt động nhảy múa trong lễ hội Joshi kéo dài trong 3 ngày
    Một phần không nhỏ trong cuộc sống của người Kalasha là lễ hội và nhảy múa. Lễ hội Joshi kéo dài trong 3 ngày vào tháng 5 hàng năm là một trong những lễ hội lớn nhất của người Kalasha.
    Vào ngày này, phụ nữ cùng nhau hát hò, nhảy múa, trong khi đó, những người đàn ông sẽ đánh trống, thổi sáo, vỗ tay cổ vũ cho họ.
    • Theo Báo giao thông

    Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

    Đến Việt Nam là một trong những trải nghiệm tuyệt vời nhất

    Dân trí Cặp vợ chồng người Mỹ - anh Chris và chị Danika Garlotta - đã quyết định cùng nhau gác lại mọi công việc để lên đường đi du lịch. Trong suốt một năm qua, họ đã đi qua nhiều nước trên thế giới và vẫn chưa có ý định dừng lại.
    Một buổi tối tháng 10/2013, cặp vợ chồng người Mỹ - anh Chris và chị Danika Garlotta - đang ngồi trò chuyện thì họ bất ngờ nảy ra ý tưởng về một “kỳ nghỉ phép dài hạn”. Chỉ một lát sau, cả hai đã quyết định sẽ bỏ việc để đi du lịch nước ngoài trong vòng 6 tháng.
    Anh Chris và chị Danika Garlotta
    Anh Chris và chị Danika Garlotta
    Kể từ lúc đưa ra quyết định, họ đã bắt đầu dành ra một năm để sắp xếp mọi việc, sau đó là 6 tháng cùng nhau đi du ngoạn qua nhiều nước trên khắp thế giới. Nhưng để có thể đi đến tất cả những nơi mà cặp đôi muốn đến, họ thấy 6 tháng là không đủ, vì vậy, cuộc hành trình đã kéo dài tới một năm.
    Trong khi Chris - một chuyên gia thiết kế đồ họa - đã có dịp đi nhiều nơi trước khi lập gia đình, thì Danika - chuyên viên truyền thông cho một chuỗi khách sạn - lại rất hiếm khi được đi ra nước ngoài. Giờ đây, họ có mong muốn được cùng nhau trải nghiệm những nền văn hóa mới, thăm thú những vùng đất mới, nhưng kế hoạch đó lại bị cản trở bởi công việc của cả hai.
    Gia đình Garlotta hiện vẫn đang trong chuyến du lịch đã kéo dài gần một năm, họ vẫn chưa hề có ý định quay trở lại Mỹ. Trong suốt cuộc hành trình, họ đã đăng tải nhiều hình ảnh lên mạng xã hội và chia sẻ những kinh nghiệm thực tế để các cặp đôi khác có thể thực hiện những chuyến đi tương tự.
    Anh Chris và chị Danika Garlotta 
    Chuyến thăm vịnh Hạ Long của Việt Nam cho tới giờ vẫn là “một trong những trải nghiệm tuyệt vời nhất trong suốt chuyến đi” của vợ chồng nhà Garlotta.
    Chris
ngồi trên một chiếc xuồng đi thăm thú vùng đồng bằng sông Mekong của Việt Nam. 
    Chris ngồi trên một chiếc xuồng đi thăm thú vùng đồng bằng sông Mekong của Việt Nam.
    Chris
ngồi trên một chiếc xuồng đi thăm thú vùng đồng bằng sông Mekong của Việt Nam. 
    Thành phố Amsterdam của Hà Lan là “một trong những nơi cảnh vật đẹp đẽ và quyến rũ nhất” với những con kênh duyên dáng tô điểm cho thành phố.
    Cảnh vật thành phố Berlin, Đức trong lễ hội ánh sáng. 
    Cảnh vật thành phố Berlin, Đức trong lễ hội ánh sáng.
    Chuyến đi của cặp đôi Garlotta thực sự gây phấn khích đối với nhiều cặp đôi khác. Câu hỏi mà họ nhận được nhiều nhất chính là làm thế nào để đủ tiền đi du lịch như vậy. Thực tế, gia đình Garlotta đã không phải tiết kiệm nhiều lắm cho cuộc hành trình bởi trong quá trình đi du lịch, họ vẫn tiếp tục làm việc, những công việc bán thời gian qua mạng.
    Chris vẫn tiếp tục hợp tác với một số công ty chuyên về mảng công nghệ và Danika vẫn làm các chương trình truyền thông và quảng cáo trên mạng cho một số khách hàng.
    Chris cho rằng công việc của chúng ta nhiều khi chỉ phụ thuộc vào những liên lạc qua email và cuộc gọi, nhiều khi không cần phải gặp gỡ khách hàng trực tiếp, vì vậy, việc bạn làm việc ở đâu không quan trọng. Khi công việc trở thành bán thời gian, chúng ta sẽ có thể thay đổi lịch làm việc để phù hợp với những chuyến đi.
    Chris và Danika đều nhận thấy rằng họ làm việc hiệu quả hơn bởi họ không muốn mất cả ngày với công việc. Thay vào đó, họ sẽ nhanh chóng hoàn tất mọi việc để có thể dành thời gian ra ngoài vui chơi, khám phá.
    Bên cạnh đó, cặp đôi cũng nhận ra rằng dù thu nhập của hai vợ chồng giảm tới 60%, nhưng chất lượng cuộc sống của họ không hề sụt giảm. Lý do là bởi giá cả cuộc sống ở nhiều nước mà họ đến thăm rẻ hơn so với chi phí sinh hoạt ở Mỹ.
    Chris
ở bờ biển Bali, Indonesia. 
    Chris ở bờ biển Bali, Indonesia.
    Gia đình Garlotta cũng không mấy khi ở khách sạn, thay vào đó, họ thuê trọ ở nhà dân để tiết kiệm chi phí và thực sự hiểu hơn về cuộc sống của người dân bản địa. Với mỗi điểm đến, họ sẽ lưu lại khoảng một tuần cho tới một tháng nên việc thuê phòng trọ đã giúp họ tiết kiệm kha khá. Anh chị Garlotta không hẳn chỉ đi tham quan, du lịch mà họ còn thực sự muốn trải nghiệm.
    Rừng
trúc ở Kyoto, Nhật Bản để lại ấn tượng đối với anh chị Garlotta như một xứ sở
thần tiên. 
    Rừng trúc ở Kyoto, Nhật Bản để lại ấn tượng đối với anh chị Garlotta như một xứ sở thần tiên.
    Việc liên tục di chuyển từ địa điểm này tới địa điểm khác thực tế khiến người ta hết sức mệt mỏi và không còn nhiều thời gian để đi thăm thú. Đó là lý do tại sao mà Chris và Danika muốn gác lại mọi công việc để thực sự có thời gian và sự tự do, linh động trong khi đi du lịch và trải nghiệm nhiều hơn với mỗi vùng đất mà họ đi qua.
    Danika
đạp xe đạp giữa một vùng trồng nho ở Pháp. 
    Danika đạp xe đạp giữa một vùng trồng nho ở Pháp.
    Khu đèn đỏ ở Tokyo, Nhật Bản là một nơi… “đầy những biển hiệu
neon sặc sỡ”. 
    Khu đèn đỏ ở Tokyo, Nhật Bản là một nơi… “đầy những biển hiệu neon sặc sỡ”.
    Chris trên bãi biển ở Bali, Indonesia. 
    Chris trên bãi biển ở Bali, Indonesia.
    Danika thăm thú một thửa ruộng bậc thang ở Bali. 
    Danika thăm thú một thửa ruộng bậc thang ở Bali.
    Danika thăm thú một thửa ruộng bậc thang ở Bali. 
    Một xã có tên Corniglia ở Ý. Đây là điểm đến mà gia đình Garlotta th
    ích nhất khi tới Ý. Khung cảnh thật yên bình và người dân rất dễ mến.
    Hồng
Kông đối với anh chị Garlotta là một “nơi hỗn mang xinh đẹp”. 
    Hồng Kông đối với anh chị Garlotta là một “nơi hỗn mang xinh đẹp”.
    Một hiệu ứng tuyệt vời mà anh chị Garlotta hiện giờ đang tận hưởng, đó là họ khỏe mạnh hơn bao giờ hết. Kể từ ngày bắt đầu thực hiện chuyến hành trình đến giờ, họ nhận thấy mỗi ngày họ đều đi bộ khá nhiều để thăm quan, và vì vậy mà cả hai đều giảm cân và có tâm trạng vui vẻ, phấn khích hơn bao giờ hết, những căng thẳng, áp lực không còn.
    Ở
thủ đô Brussels của Bỉ.Ở thủ đô Brussels của Bỉ.
    Trong “kỳ nghỉ phép dài hạn” này, Chris cảm thấy hài lòng nhất vì vợ chồng anh có thêm nhiều thời gian rảnh rỗi để ở bên nhau. Chị Danika thì rất hạnh phúc vì hiện giờ chị có thể đi du lịch ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào chị muốn.
    Buổi
tối ở viện bảo tàng Louvre, Paris, Pháp. 
    Buổi tối ở viện bảo tàng Louvre, Paris, Pháp.
    Bích NgọcTheo Business Insider

    Thứ Năm, 21 tháng 5, 2015

    Phố Hiến - "Tiểu Tràng An" xưa

    “Thứ Nhất Kinh Kỳ, thứ Nhì Phố Hiến”. Là câu truyền miệng của người đất Nhãn, từ đời này sang đời khác, họ nhắc để nhớ, để tư hào, về một quá khứ phồn hoa đô hội của Phố Hiến năm xưa. Trải qua thời gian, sự bồi lấp của dòng sông đã làm Phố Hiến bị sa vào lãng quên, thế nhưng những dấu tích của Phố Hiến thì còn sống đến tận hôm nay.


    Phố Hiến là một trong những đô thị cổ nhất của Việt Nam, theo những tài liệu lịch sử cho thấy,  Phố Hiến là kết tinh của một quá trình buôn bán giao thương diễn ra nhiều thế kỷ, thế nhưng đến khoảng thế kỷ thứ 16, 17  đô thị Phố Hiến chính thức hình thành. Trước kia phố hiến là cảng biển sầm uất bậc nhất của dải đất hình chữ  S, so sánh với hội an, bấy giờ Phố Hiến sầm uất hơn nhiều, bởi Phố Hiện có vị trí thuận lợi hơn cho việc giao thương,cũng như sông Hồng lớn hơn sông Hoài của Hội An. 

    Từ sự giao thương phát triển đó, đã có nhiều công trình kiến trúc lớn của một thời phồn hoa. Băng qua bão táp thơi gian để đến hôm nay, những trầm tích, phế tích năm nào được vinh danh để người đất tự hào.

    Phố Hiến sau khi suy tàn nhưng vẫn còn hiện hữu đến ngày nay nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo, chứng minh cho thời kỳ phát triển rực rỡ của một "Tiểu Tràng An" xưa, là di sản vô giá của kho tàng văn hóa dân tộc và nhân loại. Nổi bật trong đó là những công trình kiến trúc thuần Việt như: Chùa Chuông, chùa Nễ Châu, đình chùa Hiến, đền Mẫu, đền mây, đền Kim Đằng, Văn Miếu Xích Đằng... Tại các di tích này còn lưu giữ được các mảng chạm khắc hoa văn chủ yếu là tứ linh, tứ quý, hoa văn, đầu rồng cùng các bức châm thư với nghệ thuật thư pháp thanh thoát, uyên bác. Riêng chùa Chuông, đình An Vũ được làm kiểu bốn mái mang nét đặc trưng của kiến trúc thời Lê. Còn đền Mây, đề Mẫu, đền Trần, Văn Miếu Xích Đằng mang đặc trưng kiến trúc thời Nguyễn với kiểu dáng tường hồi bít đốc, cùng các mảng chạm khắc tứ linh và tứ quý đan xen. Trong khi đó, đình chùa Hiến, chùa Nễ Châu mang dáng dấp nghệ thuật chạm khắc thời Lê - Nguyễn cũng là dấu tích về sự phát triển rực rỡ của Phố Hiến thời hoàng kim. 

    Tại Phố Hiến còn có những công trình kiến trúc của người Việt kết hợp với kiến trúc Trung Hoa và phương Tây như: Đông đô Quảng Hội, đền Thiên Hậu, chùa Phố, Võ Miếu. Mái của các công trình này chủ yếu là lợp ngói ống. Các mảng chạm khắc được dựa theo các tích cổ trong dân gian như: Cá chép vượt vũ môn hóa rồng, hoa sen úp, lân hý cầu, kết nghĩa vườn đào, bát mã quần phi... Ngoài ra, nhà thờ thiên chúa giáo tọa lạc giữa trung tâm Phố Hiến được xây từ thế kỷ thứ 17 mang đậm kiến trúc gô-tích vòm theo kiểu vòng cung ba thùy. Nét kiến trúc mỹ thuật của từng di tích đều góp phần vào việc chứng nhận làm sáng tổ các giai đoạn, các thời kỳ lịch sử; là cơ sở để các nhà khoa học nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, mỹ thuật của Phố Hiến nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

    Cùng với kiến trúc độc đáo, các di tích đều toát lên sự thâm nghiêm của không gian u tịch gắn với sự bài trí tượng thờ trong khung cảnh thiên nhiên hài hòa khiến nhiều di tích ở Phố Hiến tạo được ấn tượng khá mạnh và sâu lắng trong du khách. Đó là chùa Chuông phong cảnh tuyệt mỹ được ví là thắng cảnh "đẹp nhất Sơn Nam", là đền Mẫu cổ kính ẩn mình dưới bóng cây cổ thụ 3 gốc soi bóng lung linh bên hồ Bán nguyệt thơ mộng, là đền Mây thấp thoáng bên bờ sông Hồng được coi là đệp hơn cả "trăm cảnh nghìn cảnh". Những di tích này cũng được coi là những địa danh nổi tiếng trong tuyến du lịch xuôi sông Hồng về Phố Hiến.

     Mới đây tỉnh Hưng Yên nói chung, TP Hưng Yên nói riêng  nhận được vinh hạnh khi được Bộ văn hóa công nhận là  "Di tích Quốc gia đặc biệt". Đây cũng là sự khẳng định những giá trị to lớn của Phố Hiến trong lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam; đồng thời đặt ra vấn đề lớn trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của một vùng đất cổ Phố Hiến xứng tầm với một di tích Quốc gia đặc biệt. Có lẽ với thành phố ngủ quên về tiềm năng du lịch từ lâu thì đây là dịp tốt để khơi dậy truyền thống xưa.

    Nguyễn Tùng

    Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

    Chùa Thiên Mụ đẹp nhất xứ đàng trong

    SỰ KIỆN TIÊU ĐIỂM
    Là một ngôi chùa gắn liền với những di tích và danh lam thắng cảnh của cố đô Huế, chùa Thiên Mụ nổi tiếng và thu hút du khách bốn phương không chỉ bởi những câu chuyện huyền thoại kỳ bí, mà còn một vẻ đẹp cổ kính thâm nghiêm, cộng với sự bình yên thơ mộng..
    chua Thien Mu
    Nằm ở tả ngạn sông Hương, trên ngọn đồi Hà Khê thơ mộng, cây xanh phủ dày, gió mát rượi bốn mùa, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về hướng Tây, chùa Thiên Mụ nằm giữa một không gian non nước hữu tình, đã từng là nguồn cảm hứng của bao tác phẩm thi ca nhạc họa.
    chua Thien Mu
     Chùa Thiên Mụ nhìn từ sông Hương, thật là một bức tranh thanh bình, thơ mộng.
    chua Thien Mu

    Từ trên chùa Thiên Mụ, có thể nhìn xuống dòng sông Hương đang lặng lờ trôi. 
    Được chính thức khởi lập vào năm Tân Sửu, tức 1601, vào thời Chúa Tiên (Chúa Nguyễn Hoàng), vị chúa đầu tiên của xứ Đàng Trong, chùa Thiên Mụ trải qua nhiều lần trùng tu, nhiều biến cố, chịu thiên tai đổ nát rồi lại được xây dựng lại, mở rộng thêm, cho đến nay vẫn sừng sững nét oai nghiêm, và mang nét đẹp bền vững với thời gian.
    Từ bến sông Hương nhìn lên chùa, sẽ thấy ngay Tháp Phước Duyên đứng ngay giữa sân, trước cổng chùa, oai nghiêm cao vút vươn lên trời. Tháp được vua Thiệu Trị cho xây dựng vào năm 1844, hình bát giác cao 21 mét bao gồm 7 tầng, mỗi tầng đều có những tượng Phật đặt bên trong.
    chua Thien Mu
    Tháp Phước Duyên nhìn từ bên ngoài giữa trời xanh nắng vàng. 
    Qua khỏi Tháp Phước Duyên là Điện Đại Hùng, ngôi điện chính trong chùa, một công trình kiến trúc được bảo tồn khá nguyên vẹn dù trải qua nhiều biến cố của thời cuộc. Vẻ đẹp của điện Đại Hùng vừa cổ kính thâm nghiêm, vừa nguy nga đồ sộ. Xung quanh chùa là khuôn viên với vườn hoa cỏ tươi tốt, xanh xanh, được chăm sóc hàng ngày.
    chua Thien Mu
    Điện Đại Hùng cổ kính, thâm nghiêm và nguy nga, đồ sộ. 
    Từ sân chùa nhìn xuống là dòng sông Hương lững lờ trôi nhẹ nhàng giữa vùng trời nước mênh mông thăm thẳm. Những chiếc thuyền neo đậu hiền hòa dưới bến, chờ đợi những người khách đang viếng thăm chùa. Những hàng thông ba lá của xứ ôn đới kỳ lạ lại luôn tỏa một màu xanh tươi mát ở đây, xõa bóng xuống che các khoảng sân chùa mát rượi. Đến viếng chùa là quên hết mệt nhọc, nóng bức hay đường xa.. Đến đây, chỉ còn sự thanh bình, thư thái, mát dịu trong tâm hồn.
    chua Thien Mu
     
    Xung quanh chùa là phong cảnh nên thơ
    chua Thien Mu
    Nhiều bức tượng, hình ảnh chạm trổ, tạc trên những bức tường khéo léo
    chua Thien Mu

    Trên những mái chùa là những chi tiết chạm trổ rất nghệ thuật, điêu luyện.
    Ngoài vẻ đẹp về kiến trúc, lịch sử hiếm có, chùa Thiên Mụ còn là nơi lưu giữ nhiều cổ vật quý giá, những bức hoành phi, những câu đối cổ, những bức tượng cổ quý hiếm, nhiều bia đá chuông đồng, vừa quý giá về lịch sử, vừa giá trị về nghệ thuật.
    chua Thien Mu

    Một chiếc thuyền neo đậu trên bến sông, đưa khách vào viếng cảnh chùa.

    Tất cả đã tăng thêm sự cuốn hút của ngôi chùa cổ nhất, đẹp nhất xứ Huế. Nơi đây đã được xếp vào bảng danh sách 20 thắng cảnh tuyệt vời nhất đất Thần Kinh, nơi bạn nhất định phải ghé qua thì về thăm cố đô Huế một ngày nào đó

    Kinh nghiệm du lịch Huế và thăm chùa Thiên Mụ:  
    - Thời tiết dễ chịu nhất để đến Huế là vào tháng 1 đến tháng 2. Tuy vậy, có rất nhiều người chọn tháng 5, tháng 6 để đến Huế dù trời mưa nhiều và thời tiết nóng, nhưng là mùa hoa phượng nở đỏ rực, rất hợp với phong cảnh ở Huế. Đặc biệt là khi đến thăm chùa Thiên Mụ vào mùa Hè, bạn sẽ thấy những tán phượng nở đỏ rực buông xuống trước cổng chùa, một cảnh sắc rất đẹp.
    - Từ Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đều có nhiều chuyến bay đến Huế khởi hành hàng ngày. Nếu đã có kế hoạch du lịch Huế thì nên đặt vé sớm để có vé giá rẻ. Ngoài ra bạn cũng có thể đến Huế bằng xe khách giường nằm hoặc bằng tàu Thống Nhất. Giá vé tàu từ 400.000đ đến hơn 1 triệu tùy vào ghế ngồi cứng hay giường nằm và có máy lạnh.
    - Từ Huế muốn đi chùa Thiên Mụ bạn có thể đi bằng thuyền, mua vé tại bến sông Hương ngay trung tâm thành phố, hoặc đi xe ôm, hoặc thuê xe máy tự đi. Giá thuê xe máy từ 120.000 – 200.000 tùy theo thỏa thuận và tùy loại xe. Bạn hỏi thuê xe tại khách sạn.
    - Gần chùa Thiên Mụ là Điện Hòn Chén và Lăng Minh Mạng, bạn có thể mua vé đi luôn các điểm trên kết hợp với chùa Thiên Mụ để tiết kiệm thời gian.
    • Bài và ảnh: Huỳnh Thu Dung

    Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau

    Một xác ướp là con người đã chết hoặc động vật có bề mặt da và các cơ quan khác được bảo quản một cách ngẫu nhiên hoặc cô ý bằng hóa chất, làm lạnh sâu, làm khô hoặc trong môi trường yếm khí khiến cơ thể giữ nguyên hiện trạng.

    Xác ướp có thực hay không?
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 1
    Xác ướp người và các loài động vật khác nhau được tìm thấy ở tất cả các châu lục. Đó là kết quả của việc bảo tồn tự nhiên trong những điều kiện bất thường và văn hóa nhân tạo. Riêng ở Ai Cập đã có hơn một triệu xác ướp động vật được tìm thấy, phần lớn là mèo.
    Một nét văn hóa ngoài Ai Cập
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 2
    Ngoài những xác ướp nổi tiếng thế giới của Ai Cập cổ đại, việc cố ý ướp xác lại chính là biểu hiện của nhiều nền văn hóa cổ đại ở khu vực Nam Mỹ và Châu Á, tại những nơi có khí hậu khô ráo. Xác ướp nhân tạo cổ nhất từng được biết đến là của một đứa trẻ.Còn xác ướp tự nhiên lâu đời nhất lại là một cái đầu bị cắt rời có niên đại 6.000 năm.
    Cách ướp xác của các nền văn hóa khác nhau
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 3
    Phần lớn xác ướp được tìm thấy là của người Ai Cập, nhưng trên thực tế, đó chỉ là một phần của thuyền thống văn hóa trên toàn thế giới. Nhiều nhà nghiên cứu tiết lộ những bí ẩn phía việc này. Vậy chúng ta hãy cùng khám phá các nền văn hóa khác nhau thông qua việc ướp xác.
    Xác ướp Châu Phi.
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 4
    Ngoài các xác ướp tìm thấy ở Ai Cập, còn có một lượng lớn khác ở các nơi khác nhau trên lục địa Châu Phi. Các xác ướp này cho thấy sự pha trộn giữ việc tiến tiến hóa và ướp xác tự phát, trong số đó có những xác ướp có niên kỉ hàng ngàn năm.
    Xác ướp ở Libya
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 5
    Xác ướp một trẻ nhỏ được phát hiện trong cuộc thám hiểm của nhà khảo cổ Fabrizio Mori tới Libya, vào mùa đông năm 1958-1959, tại hang động tự nhiên vùng Uan Muhuggiag. Sau khi phát hiện dấu vết đáng ngờ và các bức vẽ trong hang. Người cầm đầu nhóm thám hiểm quyết định khai quật chung quanh.Họ đã đào bới cho đến tận khi tìm thấy bên cạnh những dụng cụ bằng xương động vật là một xác ướp trẻ em được bọc trong da thú và trên cổ đeo chiếc vòng làm tử vỏ trứng đà điểu.
    Xác ướp tại Bảo tàng Lịch sử Kinh Châu
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 6
    Những xác ướp ở Châu Á thường chỉ là do cơ duyên tình cờ mà thành. Người chết được chôn cất đúng vào chỗ có yếu tố môi trường phù hợp với điều kiện bảo quản. Đặc biệt ở khu vực sa mạc thuộc lòng chảo Tarim và Iran. Khi các xác này bị đào lên khỏi mộ, tiếp xúc với khí hậu ẩm ướt của Châu Á, chúng thường nhanh chóng bị phân hủy.
    Xác ướp “Quý bà Trung Hoa”
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 7
    Một phiên bản xác ướp của một phụ nữ Trung Quốc cổ vẫn còn được bảo quản nguyên vẹn đến tận hôm nay mặc dù được chôn ở chỗ có môi trường không thuận lợi cho việc hình thành xác ướp vùng Xin Zhui. Xác này có tên là quý bà Dai, bà được phát hiện đầu năm 1970 ở địa điểm khảo cổ học Mawangdui, Changsha. Bà là vợ của Hầu tước Dai triều đại nhà Hán, người cũng được chôn cùng với bà.
    Ướp xác ở Iran
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 8
    Trong năm 2012, ít nhất 8 xác ướp người còn nguyên vẹn đã được tìm thấy ở khu mỏ muối Douzlakh tại Chehr Abad, tây bắc Iran. Do được bảo quản bởi muối, các xác này được gọi chung là “Người muối”. Năm 2008, qua phương pháp thử nghiệm Carbon-14, 3 trong số xác này có niên đại vào khoảng 400 năm trước công nguyên. Sau đó, dùng phương pháp đồng vị xác định được các xác còn lại cũng có cùng niên địa tương đương. Tuy nhiên trong những vùng cách xa khu mỏ muối, cũng tìm thấy một số xác ướp khác.
    Xác ướp người Siberi
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 9
    Cách ướp xác ở Siberi cũng là một khám phá rất thú vị. Năm 1993, một nhóm khảo cổ học người Nga do Tiến sĩ Natalia Polosmak dẫn đầu đã phát hiện xác một phụ nữ Siberi thời đại Băng hà Maiden, thuộc chủng tộc Scytho-Siberian, trên cao nguyên Ukok ở dãy núi Altay gần với biên giới Mông Cổ. Xác được bảo quản vì đông lạnh do điều kiện khí hậu khắc nghiệt của vùng thảo nguyên Siberi.
    Xác ướp ở Châu Âu.
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 10
    Lục địa châu Âu lại phản ánh hình ảnh sự đa dạng về xác ướp. Ở đây có cả hai loại xác ướp: tự nhiên và nhân tạo. Các xác ướp được bảo quản tốt nhất là ở các vùng đầm lầy phân bố trên tòa lục địa. Các tu sĩ Capuchin, những người đã sống ở những khu vực này đa để lại hàng trăm xác ướp nhân tạo, cung cấp cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về phong tục, văn hóa của người dân các thời kì khác nhau.
    Xác ướp ở Bắc Mỹ
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 11
    Những xác ướp ở Bắc Mỹ lại thường chìm ngập trong các tranh cãi vì phần lớn các xác có liên quan tới nền văn hóa bản địa tôn sùng sự tồn tại vĩnh hằng. Trong khi các xác này là nguồn cung cấp rất nhiều tư liệu lịch sử có ý nghĩa, thì các quan niệm theo truyền thống văn hóa bản địa lại yêu cầu phải trả các xác này lai nơi yên nghỉ ban đầu. Mâu thuẫn này đã khiến Hội đồng người Mỹ bản địa kêu gọi can thiệp pháp luật khiến hầu hết các bảo tàng hiện đang giữ các xác ướp phải không được trưng bày cho người xem.
    Xác ướp người Chinchorro
    Bí ẩn đằng sau việc ướp xác của các nền văn hóa khác nhau - Ảnh 12
    Những xác ướp Chinchorro là những xác ướp nhân tạo cổ xưa nhất được tìm thấy. Bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ 5 trước Công nguyên kéo dài suốt khoảng 3.500 năm. Tất cả các thi hài được đem đi chôn đều được chuẩn bị kĩ càng cho việc ướp xác. Các thi thể được chuẩn bị cẩn thận, bắt đầu bằng cách cắt bỏ cơ quan nội tạng, sau đó đem phơi khô trong khí hậu khô nóng của vùng sa mạc Atacama. Phần lớn các xác ướp Chinchorro đều do các nghệ nhân có tay nghề cao đảm nhiệm đảm bảo các xác đều được bảo quản tốt. Mặc du vậy, ý nghĩa của việc làm này vẫn còn đang được các nhà nghiên cứu tranh cãi.
    • Nguyễn Mai (Theo Speaking Tree)

    Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

    Tượng đài không phải lúc nào cũng... bồng súng

    “Hầu hết tượng đài của Việt Nam đều na ná giống nhau, không sáng tạo, gần gũi nên người dân không hào hứng ngắm”.
    Theo đề xuất của Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn Quốc gia, mỗi thị trấn của Thủ đô Hà Nội cần xây dựng 1 tượng đài. Kinh phí thực hiện mỗi tượng đài ít nhất từ 20 tỷ đồng trở lên.
    Xung quanh vấn đề này, chúng tôi có cuộc trao đổi với Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
    Thưa ông, vừa qua Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn Quốc gia đề xuất, mỗi thị trấn của Thủ đô cần xây dựng một tượng đài trong đó kinh phí mỗi tượng đài ít nhất 20 tỷ đồng. Là một nhà nghiên cứu về tượng đài, bảo tàng, ông đánh giá như thế nào về đề xuất này?
    Tượng đài, nhóm tượng là một nét văn hóa ở các nước Âu, Mỹ nhưng ở ta những nhà làm tượng đều theo xu hướng làm lớn, tốn rất nhiều tiền, chọn không gian lớn, địa điểm đẹp để làm bức tượng với nền cao như quả núi.
    Tượng đài ở Việt Nam to, hoành tráng đến nỗi những người ở dưới nhìn lên cảm thấy mình quá nhỏ bé. Những tượng đài như thế thường thiếu sự gần gũi với cộng đồng, và người dân sở tại. Nhiều khi người ta nhìn tượng đài lại cảm thấy xa cách.
    Người ngắm tượng đài ở Việt Nam chỉ nhìn xa xa như các biểu tượng. Tượng đài có khi lại ở trên núi, ngắm từ xa. Tượng đài không thật sự sống, ít gắn với cộng đồng.
    Trên thế giới, trong các thành phố người ta chú trọng đến tượng, vườn tượng. Tượng, vườn tượng gắn liền với đời sống. Nó thân thiện với người dân.
    Chẳng hạn bức tượng nằm ở công viên, nằm trên đồi, nó nhỏ bé, người dân có thể ngồi ghế nghỉ ngơi, ngắm nhìn.
    Hơn nữa, ở các nước trên thế giới, tượng không phải chỉ chủ đề chiến đấu, giải phóng dân tộc mà còn thể hiện những vấn đề xã hội, văn hóa, tinh thần.
    Có quốc gia làm tượng để nói về quyền phụ nữ. Quyền phụ nữ được ghi trong hiến pháp được coi là sự kiện của xã hội thì được quốc gia đó được làm tượng chứ không nhất thiết lúc nào tượng cũng mang hình ảnh phải bồng súng, bắn tên lửa.
    Trên thế giới, có nhiều chủ đề khác nhau được lấy làm tượng. Chẳng hạn, trong công viên chỉ là những tượng đài nhỏ, có thể nằm trên lối đi nhưng lại là những tác phẩm nghệ thuật.
    Ở ta cứ nghĩ tượng đài lúc nào cũng phải hoành tráng, vị trí, không gian ở ngã ba, ngã tư nhưng ở Mỹ tượng đài đặt trong công viên là những người lính rất nhỏ chứ không nhất thiết phải làm tượng đài to hoặc chiếm cả một quả đồi cao tách biệt cuộc sống cư dân.
    Có ý kiến cho rằng, nhiều nơi làm tượng đài chẳng có ai ngắm, tượng đài xấu, hay hỏng nên người dân không hào hứng? Ông nghĩ sao về ý kiến này?
    Làm tượng đài hay hỏng vì làm quá hoành tráng. Họ nghĩ làm hoành tráng mới xứng đáng. Tuy nhiên, nó không gần gũi, nhiều khi quá sức với cả người làm.
    Tại Việt Nam, làm tượng đài đa phần chỉ nghĩ đến câu chuyện những người anh hùng. Dù đề tài này rất quan trọng nhưng đó không phải là duy nhất cho tượng.
    Tượng đài cũng giống như văn học nghệ thuật, nó có rất nhiều các chủ đề khác nhau, đề tài khác nhau, tùy anh xây dựng. Chúng ta có thể có tượng đài liên quan đến mặt xã hội. Ví dụ tượng đài về tuyên ngôn độc lập hoặc tượng đài liên quan đến bước tiến của xã hội như bước ngoặt nào mở ra thời kỳ đổi mới, hội nhập.
    Bây giờ, tôi thấy chẳng có tượng đài nào nói về chủ đề đổi mới hay chấm dứt tư duy về bao cấp, tư duy về thời kỳ không phát triển kinh tế thị trường sang phát triển kinh tế thị trường.Vậy thì tại sao ta không có tượng đài nói về sự thay đổi của xã hội, chuyển đổi của xã hội, của văn hóa.
    Ở các quận huyện ở Hà Nội nên phát triển thêm nhóm tượng như: vườn tượng nhỏ, phù hợp, nằm trong môi trường sinh hoạt, sinh sống, công viên  của người dân địa phương. Điều này còn hơn tạo ra tượng đài lớn ở cổng các quận, huyện hoặc ở các vị trí ở ngã ba trung tâm mà chúng ta vẫn làm.
    Mục đích làm tượng đài phải gắn với cư dân sở tại, thiết thực chứ người dân không phải đứng xa chiêm ngưỡng. Đặc biệt, làm tượng sao cho không cần hoành tráng về kích thước mà nó vẫn gần gũi, đi vào lòng người .
    Vậy ông nghĩ sao khi Việt Nam làm tượng đài vẫn theo một quy định bất thành văn “tượng đài phải theo chủ đề danh nhân, chiến tranh, người anh hùng"?
    Đấy là tư duy cũ, chủ đề cũ. Họ đề xuất làm tượng đài như thế rất dễ được duyệt bởi đề tài mang tính chất kinh điển. Cần phải thay đổi cách nghĩ, cách làm tượng đài. Làm tượng đài nên suy nghĩ  cả đến chủ đề văn hóa, dân sinh. Chủ đề chiến tranh, anh hùng cũng nên có nhưng phải làm hay, làm sao cho người dân sở tại tâm phục, khẩu phục.
    Ông là người làm bảo tàng, thành công của bảo tàng không phải chỉ là hiện vật. Vậy theo ông, làm tượng đài có cần hoành tráng, chọn chỗ đẹp?
    Đa phần tượng đài hoành tráng theo kiểu kích thước lớn không đi vào lòng người, không tạo cảm giác thân thiện. Nếu ta làm vườn tượng nho nhỏ, nó gần gũi với cộng đồng thì hiệu quả xã hội sẽ rất mạnh. Tượng đài ở Việt Nam hiện nay lại còn gắn với tâm linh, yểm tâm mà các nước thì không đâu làm thế nên chỉ nghĩ đến mục đích để thắp hương và dâng hoa tưởng niệm trong ngày lễ kỷ niệm.
    Tôi thích tượng đài, vườn tượng nhỏ (có thể chỉ có 1 người hoặc một nhóm người) nói về sự kiện xã hội khác nhau. Tôi thấy hầu hết tượng đài của chúng ta đều na ná giống nhau không có sự sáng tạo, gần gũi, có sức thu hút buộc người ta đi thăm nó, say mê với nó.
    Vậy nếu dự án này thông qua, làm thế nào để có được các tượng đài đẹp khiến người dân thích thú ngắm thay vì bị ép xem?
    Có nhiều cách làm tượng đài, nhưng phải đa dạng hóa cách làm đó. Chúng ta làm nhiều dạng tượng đài khác nhau, làm nhiều nơi khác nhau. Phát triển tượng đài tại nơi công viên, đường phố, khuôn viên nghỉ ngơi nhỏ trong các khu dân cư, tạo ra điểm nghỉ ngơi gắn với vườn tượng.
    Câu chuyện tượng đài theo tôi chủ yếu là làm sao gần gũi, gắn bó với cộng đồng, với cuộc sống của người dân. Theo tôi, không nên làm tượng đài kích thước to quá vì vừa không hiệu quả, vừa tốn tiền.
    Muốn làm được như thế đòi hỏi phải quy hoạch không gian phù hợp, những người làm tượng đài phải thay đổi tư duy, trước hết nghĩ đến cộng đồng và người dân sở tại.
    Xin trân trọng cảm ơn ông!
    Theo Diệu Thu (Dân Việt)

    Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

    Làng khỏa thân ở Anh

    Dân trí Nhìn bên ngoài, ngôi làng Spielplatz tại hạt Hertfordshire, nước Anh, cũng giống như bao ngôi làng khác ở vùng ngoại ô London, nhưng có một điều rất đặc biệt, đó là cư dân ở đây không bao giờ mặc quần áo.

    Đây được coi là cộng đồng khỏa thân lâu đời nhất nước Anh. Sau 85 năm "ăn mặc" theo kiểu kỳ lạ này, họ sẽ lần đầu tiên công khai câu chuyện của mình trước công chúng trong một bộ phim tài liệu trên kênh truyền hình More4 của Anh vào ngày 11/12 tới. Người dân làng Spielplatz luôn khỏa thân trong mọi hoạt động, dù là đi bơi, cắt cỏ trong vườn, rửa xe hay đi quán bar...Tuy đã tồn tại cách đây 85 năm, nhưng ít người biết đến cộng đồng khỏa thân Spielplatz.
    Bà Iseult Richardson, 82 tuổi, người đã gắn bó với ngôi làng gần cả cuộc đời, cho hay: “Mọi người không nên quá nhạc nhiên khi xem bộ phim sắp phát sóng. Không có sự khác biệt nào giữa chúng tôi và những người khác. Chúng tôi có cuộc sống bình thường và cảm thấy may mắn khi được sống tại ngôi làng Spielplatz thân yêu.”
    “Chúng tôi có người đưa sữa, người đưa thư, đưa báo đến tận nhà và cũng giao dịch với các thương nhân. Ban đầu, họ có vẻ bối rối khi nhìn thấy chúng tôi nhưng dần dần họ cũng quen và mọi việc diễn ra hoàn toàn bình thường,” bà Richardson nói.

    Ngôi làng được ông Charles Macaskie, cha của bà Iseult, thành lập vào năm 1929. Ngôi làng hiện là nơi cư trú của 34 hộ dân sống trong các căn nhà gỗ một tầng. Ngoài ra, tại đây cũng có 24 căn nhà khác dành cho du khách thuê vào dịp nghỉ hè. Trung tâm của ngôi làng là một câu lạc bộ, nơi người dân có thể tới để tham gia các hoạt động vui chơi giải trí như nhảy múa, hát karaoke và thi đấu...
    Ngôi làng hoạt động giống như một câu lạc bộ và bất kỳ ai muốn mua một ngôi nhà gỗ có giá trung bình khoảng 85.000 bảng Anh đều phải được chính quyền thông qua. Khách hàng được chấp nhận thường là những người đã đến ngôi làng nhiều lần và có hiểu biết nhất định về nơi đây. Đặc biệt là  họ sẵn sàng khỏa thân theo truyền thống của làng.
    Theo bà Richardson, việc mua bán nhà tại làng Spielplatz cũng giống như những nơi khác. Có người bán nhà khi họ nghỉ hưu và muốn tìm một nơi khác để thay đổi không khí. Gần đây, một cặp vợ chồng đã đến mua nhà, sau đó, họ đã xin phép chính quyền địa phương sửa nhà theo ý họ.
    .
    Bà Tina Yates, 64, tuổi, cho biết, người dân trong làng đang tranh luận về việc có nên buộc du khách phải khỏa thân khi đến thăm những hộ gia đình trong ngôi làng hay không. Những người theo chủ nghĩa khỏa thân bảo thủ muốn khách cũng phải cởi đồ khi thăm làng, còn những ôn hòa hơn thì muốn để khách mặc đồ theo ý họ muốn.
    Ông Vic Lightfoot, 68 tuổi, người đã kết hôn hai lần và có ba con, cũng đang gặp khó khăn khi thuyết phục bạn gái của mình và cô con gái của vợ cũ về việc khỏa thân khi đến ngôi làng Spielplatz.
    Ông Lightfoot thậm chí đã phải đuổi con gái của mình ra khỏi buổi lễ trong làng vì cô không chịu cởi đồ. “Thật không thể chấp nhận bất kỳ ai vào ngôi làng mà vẫn khư khư giữ bộ quần áo trên mình. Những người khỏa thân như chúng tôi cảm thấy không thoải mới trước những người không chịu cởi đồ,” ông giải thích.

    Minh Việt
    Theo Mirror

    Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

    Nón lá - nét đẹp hồn quê



    Từ lâu, chiếc nón lá đã trở thành một hình ảnh hết sức thân quen của người dân ở thôn quê. Nó gắn liền với đời sống sinh hoạt hằng ngày của mọi người. Nón lá theo người phụ nữ ra ruộng ra vườn, nón lá theo các chị gánh hàng rong len lỏi khắp các làng quê ngõ xóm, nón lá theo chân nữ sinh, cô giáo đến trường. Và nón lá đội đầu cho thiếu nữ thêm duyên…

    Theo dòng thời gian, xã hội ngày một phát triển. Có rất nhiều loại nón vừa đẹp vừa sang trọng ra đời để làm nổi bật thêm những ai muốn ra dáng quý phái. Nhưng chiếc nón lá vẫn không hề đánh mất vẻ đẹp dịu dàng tự nhiên vốn có lâu đời của mình.
    Ông bà ta ngày xưa chọn chiếc nón lá làm dụng cụ che nắng che mưa có lẽ là vì nó vừa rộng vừa nhẹ lại vừa bền. Thêm một tiện lợi khác nữa là khi đang lao động mệt vã mồ hôi thì liền lấy nón lá đội đầu xuống làm chiếc quạt để quạt cho đỡ mệt lúc trời nóng nực.
    Ngày nay, có rất nhiều loại nón mẫu mã đẹp được làm từ nhiều loại vải đủ màu sắc, chất liệu tốt, bày bán nhiều ngoài chợ. Rất tiện lợi cho mọi người ngã giá chọn mua. Song song bên cạnh đó, chiếc nón lá ngày nay cũng được thợ sản xuất nón làm khéo léo và bền chắc hơn chiếc nón lá ngày xưa. Chính vì vậy mà người nông dân ở thôn quê vẫn chọn cho mình chiếc nón lá làm phương tiện đội đầu trong mỗi sớm mỗi chiều. Nón lá không chỉ che mưa che nắng cho người mà nón lá từ lâu chính là người bạn luôn nhìn thấy được khuôn mặt và ánh mắt buồn, vui, sướng, khổ của mọi người trong cuộc sống thường ngày.
    Thật duyên dáng biết bao khi những người phụ nữ nón lá đội đầu, nụ cười thân thiện, tóc dài thướt tha… tô đậm thêm vẻ đẹp đặc trưng của một dân tộc ngàn năm văn hiến.
    Nón lá đi vào thơ, vào nhạc, vào văn học, ca dao… và trở thành một niềm tự hào của người Việt Nam chúng ta.
    Xã hội ngày càng phát triển. Đời sống và nhu cầu của con người cũng có những thay đổi. Cái gì cũ kĩ, lạc hậu thì người ta sẽ bỏ đi để tiếp nhận những gì tân tiến hợp thời hợp cảnh. Nhưng chiếc nón lá vẫn luôn tồn tại không rời xa mọi người.
    Trên quê hương tôi đã có nhiều đổi thay, nhưng mỗi ngày từ ngoài vườn, ngoài rẫy hay trên từng con đường thênh thang vẫn còn nguyên đó những chiếc nón lá cho người che nắng che mưa.
    Tôi yêu chiếc nón lá và tôi gọi đó là một nét đẹp văn hóa để giữ hồn quê


      Trần Thị Thùy Linh



    Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

    Swaziland ngực trần dự hội cho Vua kén vợ - Truyền hình VietNamNet

    Lễ hội Umhlanga (lễ hội cây sậy) được tổ chức hàng năm với mục đích tôn vinh sự trinh tiết của các cô gái. Đây cũng là dịp để quốc vương Mswati III tuyển chọn vợ cho mình.

    Swaziland nổi tiếng với truyền thống kén vợ của các vị vua trong lễ hội Umhlanga. Mục đích của lễ hội nhằm nâng cao nhận thức người dân Swaziland về căn bệnh AIDS, đồng thời khuyến khích các cô gái trẻ trước nguy cơ lây lan của đại dịch thế kỷ này. Đây cũng là dịp để quốc vương Mswati III tuyển chọn vợ cho mình.
    Xem trinh nữ Swaziland ở trần dự hội cho Vua kén vợ
    Lễ hội này kéo dài suốt 8 ngày. Trong ngày đầu tiên, những cô gái đẹp nhất đến từ các bộ lạc kéo đến nơi ở của hoàng thái hậu. Sau đó, cùng với người giám hộ, họ cất tiếng hát làn điệu dân ca các vùng miền. Những ngày sau đó, hằng ngày họ phải kiếm được 20 cây sậy mang về hoàng cung... Cứ thế, mãi đến ngày thứ sáu, các thiếu nữ mới được tham dự cuộc cuồng hoan thực sự. Họ chất đống các bó sậy trước cửa cung điện nơi hoàng thái hậu ở, mặc sức nhảy múa các vũ điệu dân tộc, cả nơi này biến thành vũ trường lớn.
    Xem trinh nữ Swaziland ở trần dự hội cho Vua kén vợ

    Xem trinh nữ Swaziland ở trần dự hội cho Vua kén vợ
    Trong suốt thời gian nhảy sậy, các cô gái khoe ngực trần và diễn điệu nhảy truyền thống. Tâm điểm của lễ hội là sự kiện quốc vương Mswati III, nhà vua chuyên chế cuối cùng của châu Phi, chọn tuyển chọn vợ cho mình. Theo truyền thống của Swaziland, sẽ luôn có một cô dâu ở vị trí dự bị và Mswati III sẽ chỉ kết hôn khi cô ta có bầu. 
    • Theo Dantri


    • Truyền hình VietNamNet

    Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014

    10 thành phố rực rỡ nhất thế giới

    Với những ngôi nhà mang màu sắc tươi sáng, St John ở Canada là một trong những thành phố rực rỡ nhất thế giới, còn Buenos Aires nổi tiếng bởi những bảo tàng ngoài trời.
    thành phố sắc màu
     Izamal, “thành phố ma thuật” ở Mexico, luôn ngập tràn màu nắng với những ngôi nhà sơn màu vàng. Thành phố mang lại cho con người cảm giác ấm áp trong mọi điều kiện thời tiết. Những con đường đá cuội nối liền các nhà thờ bằng đá vôi và các tòa nhà chính phủ mang màu sắc tươi sáng. Nhà thờ San Antonio de Padua từ thế kỷ XVI thu hút khách thập phương bởi những câu chuyện lịch sử và thần thoại.
    thành phố sắc màu
    St John, thủ phủ tỉnh Newfoundland và Labrador, là thành phố lâu đời nhất ở Canada với những kiến trúc rực rỡ. Ở đoạn đường “Jellybean Row”, các ngư dân thường sơn tường nhà màu tươi sáng để mọi người có thể dễ dàng nhìn thấy chúng từ biển. Chính vì thế, St John trở thành một trong những thành phố rực rỡ nhất thế giới.
    thành phố sắc màu
    Rio de Janeiro, thành phố ở Brazil, nổi tiếng bởi những đường phố đầy màu sắc. Năm 2010, chính phủ Brazil chủ trương trang trí lại các khu ổ chuột. Hai nghệ sĩ Hà Lan, Haas và Hahn, đã biến nơi đây thành một bức tranh khổng lồ. Ngày nay, những đường phố rực rỡ ở thành phố Rio de Janeiro trở thành điểm thu hút khách du lịch với những ngôi nhà đa sắc và tia sáng cầu vồng tỏa ra từ các bức tường.
    thành phố sắc màu
    Wroclaw, thủ phủ tỉnh Dolnośląskie, là một trong những thành phố lộng lẫy nhất Ba Lan với hàng loạt điểm thu hút du khách như hàng trăm cây cầu, nhà hàng, quán cà phê, các di tích văn hóa và lịch sử. Tuy nhiên, điểm nổi bật nhất của thành phố nằm ở những ngôi nhà đầy màu sắc mang phong cách kiến trúc và thiết kể cổ.
    thành phố sắc màu
    Buenos Aires, thủ đô Argentina, nổi tiếng với những bảo tàng ngoài trời ở khu La Boca. Khách du lịch thích đi bộ dọc theo phố Caminito ngắm những bức bích họa và nghệ thuật graffiti của các nghệ sĩ đường phố. Khu phố của dân lao động ở cửa sông Riachuelo gồm những ngôi nhà rực rỡ, giống như một hộp bút chì màu khi chúng ta quan sát từ xa.
    thành phố sắc màu
    Valparaiso là trung tâm văn hóa, lịch sử của Chile với một loạt các bảo tàng, thánh đường, nhà thờ và các tòa nhà thuộc địa. Người dân nơi đây sống trong những ngôi nhà rực rỡ. Họ yêu thích sáng tạo nghệ thuật, vẽ các bức bích họa phóng túng, tạo nên vẻ lộng lẫy cho cả thành phố.
    thành phố sắc màu
    Nyhavn là một thị trấn ven sông ở Copenhagen, thủ đô Đan Mạch, kéo dài từ Kongens Nytorv đến bến cảng phía nam Nhà hát Hoàng gia. Các tòa nhà rực rỡ sắc màu được xây dựng trong thế kỷ XVII – XVIII tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy cho cả thị trấn.
    thành phố sắc màu
    Burano là một trong 4 hòn đảo xinh đẹp thuộc thành phố Venice, Italy. Những đường phố, kênh đào ở đây nối liền những ngôi nhà rực rỡ và các bức tường đầy các hình vẽ. Trong quá trình xây dựng, chủ đầu tư phải xin chỉ thị từ chính quyền về màu sơn của ngôi nhà nhằm đảm bảo tính liên kết về màu sắc của các công trình kiến trúc trên đảo.
    thành phố sắc màu
    Pattaya, Thái Lan, là một điểm du lịch hấp dẫn với những món ăn hấp dẫn và các danh lam thắng cảnh. Đặc biệt, những ngôi nhà và khách sạn ở đây đều có màu sắc rực rỡ, tạo nên sức quyến rũ kỳ lạ. Người dân luôn cố gắng tạo ra màu sắc tươi vui cho thành phố.
    thành phố sắc màu
    Jodhpur, bang Rajasthan, Ấn Độ, nổi tiếng với những ngôi nhà màu lam sẫm. Màu xanh tạo cảm giác yên bình và mát mẻ cho thành phố nằm ngay giữa lòng sa mạc. Những chiếc xích lô ở đây cũng có màu xanh lơ để phù hợp với màu sắc chung.
    • (Theo Zing/ Ảnh: Wonderslist)