Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 2 năm 2015

Khúc hoan ca của một thời trai trẻ


Nếu chỉ được quyền chọn mười tác phẩm văn học của Việt Nam trong thế kỷ XX để mang theo vào thế kỷ XXI, bạn sẽ chọn những tập sách nào? Đã có câu hỏi đặt ra như vậy với Tế Hanh và ông nhà thơ lớn này đã không trù trừ khẳng định ngay: Ông chỉ chọn hai tác phẩm thôi, một văn, một thơ. Đó là tập "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân và tập "Thơ thơ" của Xuân Diệu.

Nếu chỉ được quyền chọn mười tác phẩm văn học của Việt Nam trong thế kỷ XX để mang theo vào thế kỷ XXI, bạn sẽ chọn những tập sách nào? Đã có câu hỏi đặt ra như vậy với Tế Hanh và ông nhà thơ lớn này đã không trù trừ khẳng định ngay: Ông chỉ chọn hai tác phẩm thôi, một văn, một thơ. Đó là tập "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân và tập "Thơ thơ" của Xuân Diệu.
Tôi không "mạo hiểm" như Tế Hanh khi quyết định chọn "Thơ thơ" làm "tập thơ thế kỷ", song nếu ai đó bảo tôi bỏ phiếu chọn lấy một tập thơ đặc sắc nhất của phong trào Thơ Mới, hẳn tôi cũng sẽ nghiêng về tác phẩm này.
Có thể với từng bài, trong thể hiện tư tưởng Xuân Diệu không có được cái mạch lạc, khúc chiết như ở "Nhớ rừng" của Thế Lữ; trong xúc cảm chưa gợi được sự bâng khuâng, mơ màng như ở "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư; trong giọng điệu chưa có được cái ngùi ngẫm, thấm thía như của Huy Cận ở "Tràng giang", và trong hình ảnh chưa có được chất liêu trai, gây ấn tượng mạnh như ở "Đây thôn Vỹ Dạ" của Hàn Mặc Tử. Nghĩa là theo kiểu "bó đũa chọn cột cờ" thì không phải ưu thế đã hoàn toàn thuộc về "Thơ thơ", nhưng xét về tổng thể thì không tập thơ nào của thời Thơ Mới tập trung được nhiều cái hay, cái lạ như ở tập thơ đầu tay của Xuân Diệu.
Quang cảnh buội hội thảo "Xuân Diệu - người tình si" do Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội tổ chức.
Nói không sợ quá lời: Với "Thơ thơ" (1938) và sau này là "Gửi hương cho gió" (1945), Xuân Diệu ở một đẳng cấp khác hẳn, gần như không có đối thủ. Không phải ngẫu nhiên mà một thi sĩ từng có lúc ngông ngạo, coi trời bằng vung như Chế Lan Viên, khi đề tặng Xuân Diệu tập "Điêu tàn" đã có những lời lẽ hết sức khiêm cung: "Anh Xuân Diệu, sách của em đây. Anh nhận cho em, anh". Còn Hàn Mặc Tử thì viết bên lề tập "Gái quê" gửi tặng Xuân Diệu: "Tôi gửi tặng anh tập thơ của tôi, vì đọc thơ anh, tôi thấy nỗi khổ của tôi được xoa dịu nhiều lắm".
Bản thân nhà phê bình văn học Hoài Thanh, trong "Thi nhân Việt Nam", khi nói về Xuân Diệu đã phải dùng tới hai chữ "tối tân": "Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy".
Cái "y phục tối tân", cái "hình thức phương xa" mà Hoài Thanh nói tới chính là cách đặt câu, dùng chữ quá Tây của Xuân Diệu, từng khiến nhiều người choáng ngợp ngay khi thơ ông mới xuất hiện.
Tuy nhiên, xét cho cùng, mọi sự cách tân muốn chinh phục được đông đảo người đọc và chinh phục được một cách bền lâu thì không chỉ là cái mới, cái lạ thể hiện ở lối nói, mà cao hơn thế, nó phải thể hiện ở sự bứt phá của cái "tôi" cá nhân thi sĩ. Nghĩa là phải mới thực sự về "chất", chứ không phải chỉ ở "y phục". Mà đây thuộc về vấn đề thời đại, kết hợp với cá tính của chính tác giả. Hãy bỏ qua cái "tôi" thể hiện một cách quá ư ẩn khuất trong thơ cổ, ngay trong các nhà thơ cùng thời với Xuân Diệu, dù là đã "cựa quậy" lắm so với trước, song phần nhiều nó vẫn thể hiện trong một phong thái lịch sự, kín đáo, theo lối cổ truyền Á Đông. Xuân Diệu khác hẳn, cái "tôi" của ông bạo dạn, táo tợn lạ thường. Các động tác thể hiện trong thơ ông mới dữ dội làm sao: Nào là "cắn" ("Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi" - bài "Vội vàng"), là "bấu" ("Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời" - bài "Hư vô"), là ôm, là ghì ("Giơ tay muốn ôm cả trái đất/ Ghì trước trái tim, ghì trước ngực" - bài "Bài thơ tuổi nhỏ")…mà toàn là với thiên nhiên, tạo vật, với đấng Vĩ Đại.
Ví mình là "một cây kim bé nhỏ", trong khi "vạn vật là muôn đá nam châm", Xuân Diệu cho mình cái quyền được lả lơi, mơn trớn, được xô đẩy, được bị tác động bởi ngoại cảnh, bởi người đời, tình đời. Không rõ ai là người đầu tiên trong thơ Việt đề cập tới việc trai gái hôn nhau? Chỉ biết, ở thời Xuân Diệu, những câu như thế này của Hàn Mặc Tử đã được xem là "bạo" lắm rồi: "Làn môi mong mỏng tươi như máu/ Đã khiến môi tôi mấp máy thèm" (bài "Gái quê"). Vậy nhưng so với câu thơ của Xuân Diệu "Kẻ uống tình yêu dập cả môi" (bài "Hư vô"), nó cũng chưa nhằm nhò gì.
Đến cái "ăn", cái "uống" của Xuân Diệu cũng khác người. Ông nhìn "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần" (bài "Vội vàng"); ông muốn "Nên lúc môi ta kề miệng thắm/ Trời ơi, ta muốn uống hồn em" (bài "Vô biên"). Trước Xuân Diệu, trong thơ Việt làm gì có ai có lối thể hiện cảm xúc mạnh mẽ nhường này? Phải yêu đời, yêu người, phải khát sống đến độ nào người ta mới cuồng nhiệt đến vậy.
Trong "Thi nhân Việt Nam", viết về Xuân Diệu, nhà phê bình Hoài Thanh đã có một nhận xét mang tính đúc kết mà tôi phải ngẫm ngợi rất nhiều. Vâng, đó là câu: "chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu mà đã thích thì phải mê".
Đã có lúc tôi đặt câu hỏi: Chẳng lẽ "chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu"? Nhưng rồi tôi hiểu ra là, những người "lòng còn trẻ" khác với những người "còn trẻ" (có những người tuổi cao nhưng "lòng còn trẻ"). Mà số này chưa hẳn đã ít. Và tôi cũng ý thức được rằng, trong thực tế, cũng đã có những độc giả không thật thích thơ Xuân Diệu.
Với những người này, thơ Xuân Diệu thời trẻ có gì đó "bồng bột", ồn ào chứ không được sâu lắng, thấm thía như một số bài trong "Lửa thiêng" của Huy Cận. Riêng tôi, nhớ lại những cảm xúc ban đầu khi đến với thơ Xuân Diệu, tôi thầm bái phục sư phụ Hoài Thanh sao mà nói "trúng tim đen" đến vậy. Đúng là với "Thơ thơ", với "Gửi hương cho gió", nói "thích" chưa đủ, phải nói là "mê" mới đúng. Những hình ảnh trang hoàng lộng lẫy, đẹp một cách đài các được lồng trong những vần thơ ngân vang như chuông vàng khánh bạc đã gây xôn xao náo nức hồn tôi suốt một thời hoa niên…
Đến nay, tôi vẫn không sao quên được những cảm xúc dào dạt khi ở tuổi chớm yêu, lần đầu được đọc thơ Xuân Diệu:
Đêm thứ bảy, chính là đêm thứ nhất
Chẳng bao giờ ngăn được gót thanh niên
Khi bóng tối cũng reo hò: chủ nhật
Và áo màu làm gió, phất qua hiên

(bài "Đêm thứ nhất").
Nói về hay thì những câu thơ trên chưa thuộc những câu hay nhất, đáng nhớ nhất của Xuân Diệu, nhưng nó rất gợi những xúc cảm thời thanh xuân. Có lẽ chỉ "khi người ta trẻ", người ta mới thấy hết cái hay, cái ý vị của câu thơ "Đêm thứ bảy, chính là đêm thứ nhất", mới thấy sức gợi và cái hay của câu "Khi bóng tối cũng reo hò: chủ nhật". "Bóng tối" hay tiếng lòng của người thanh niên reo hò đón chào ngày chủ nhật - ngày nghỉ và cũng là ngày hò hẹn của các cô cậu học sinh, sinh viên, khi vút qua mắt họ là những "áo màu làm gió phất qua hiên"?
Cũng dào dạt, phơi phới như vậy là mấy khổ thơ trong bài "Xuân đầu":
Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ!
Trở về đây! và đem trở về đây
Rượu nơi mắt với khi nhìn ướm thử
Gấm trong lòng và khi đứng chờ ngây

Và nhạc phất dưới chân mừng sánh bước
Và tơ giăng trong lời nhỏ khơi ngòi
Tà áo mới cũng say mùi gió nước
Rặng mi dài xao động ánh dương vui.

Đúng là "Xuân đầu", không khí xôn xao, náo nức như ngày hội. Chỉ với vẻn vẹn 16 chữ: "Tà áo mới cũng say mùi gió nước/ Rặng mi dài xao động ánh dương vui", tác giả trẻ đã làm nổi bật lên được vẻ đẹp cũng như những xao động trong tâm hồn các thiếu nữ ở buổi bình minh của cuộc đời. Câu thơ không chỉ tràn ngập nắng gió, tiếng reo vui của lòng người mà còn có cả sự "tiền hộ hậu ủng" của thiên nhiên tạo vật…
Trong "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió", không ít lần Xuân Diệu cất tiếng hát ca ngợi tuổi xuân, cũng như không ít lần ông thể hiện nỗi hoang mang trước bước nhảy của thời gian. Nói về chủ đề này, câu thơ Xuân Diệu đầy xốn xang, chộn rộn. Trước Xuân Diệu, Thế Lữ từng viết trong "Khúc ca hoài xuân":
Tiếng ve ran trong bóng cây râm mát
Giọng chim khuyên ca ánh sáng mắt trời
Gió nồng reo trên hồ sen rào rạt
Mùa xuân còn, hết? khách đa tình ơi!

Cũng là tiếng ve ran, là gió nồng reo, là khách đa tình, là hồ sen, là sự rào rạt, vậy nhưng câu thơ vẫn có gì đó hụt hơi, như thể bậc danh ca đã không còn ở đỉnh cao danh vọng? Trong khi, hãy nghe Xuân Diệu, cũng chủ đề trên, giọng thơ rộn rã, rung vang, khỏe khoắn lạ thường, tưởng như đó là khúc ca bất tận:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
 
Của ong bướm nay đây tuần trăng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si

(bài "Vội vàng")
Tất cả là ở sức trẻ. Thơ Xuân Diệu có ma lực bởi giọng điệu thơ ông lúc thì thổn thức, khắc khoải, khi thì réo rắt si mê, nó là tiếng hoan ca và bi ca của một người lòng tràn đầy sức trẻ và luôn hướng về tuổi trẻ.
  • Phạm Khải - Xuân 2015

Thứ Ba, ngày 24 tháng 2 năm 2015

Bức tranh Tết khiến Ngô Đình Diệm 'lồng lộn'

Đăng Bởi -

ngo dinh diem

Ai đã sống ở miền Nam Việt Nam, đặc biệt là Sài Gòn, vào năm 1960 (thời Ngô Đình Diệm) thì có thể ít nhiều biết câu chuyện này. Tranh bìa số Xuân của báo Tự Do năm Canh Tý 1960 vẽ 5 con chuột đang ăn quả dưa hấu: một bìa báo bình thường, chủ đề bức họa là chỉ về con giáp của năm mới, một thói quen của làng báo lúc bấy giờ.

Báo phát hành từ giữa Tháng Chạp âm lịch năm trước, mọi người mua, đọc, biếu bạn bè... như vẫn làm trong sinh hoạt đón Xuân. Nhưng đến mồng 5 Tết thì đột nhiên tòa báo Tự Do bị cảnh sát xông vào đập phá, tịch thu hết các số báo Xuân còn lại, cả số đã phát hành mà chưa bán cũng có lệnh thu hồi. 
Tại sao có chuyện như vậy? Vì có người diễn dịch ý nghĩa bức tranh đó là ám chỉ năm anh em của nhà họ Ngô đang đục khoét đất nước Việt Nam, và nếu lật ngược bức tranh lại thì theo đường viền vàng của vỏ trái dưa có thể thấy mường tượng hình thù nước Việt Nam, hoặc có thể một nửa nước phía nam, tùy người suy đoán. 
Người ta nói 5 con chuột đó là tượng trưng cho 5 anh em nhà Ngô Ðình đang trực tiếp cầm nắm vận mệnh miền Nam: Ngô Ðình Thục, Ngô Ðình Diệm, Ngô Ðình Nhu cùng vợ Trần Lệ Xuân, và Ngô Ðình Cẩn. Có người thì cho chỉ năm anh em họ Ngô thôi, không có bà Nhu, và người thứ năm là ông Ngô Ðình Luyện, nhưng thời gian đó ông Luyện làm việc tại nhiệm sở ngoại quốc.
Nhưng tất cả chỉ là suy luận, ức đoán. Chẳng có bằng chứng nào có thể đoan chắc bức tranh vẽ toàn chuột đó là ám chỉ các anh em trong một gia đình. Trừ một việc: chính các anh em đang cầm quyền đó đã phản ứng một cách giận dữ. Tức là họ tự nhận 5 con chuột đó đúng là tượng trưng cho chính họ. Chính hành vi cho thuộc hạ đập phá tòa soạn báo Tự Do, tịch thu báo, và truy tìm tác giả bức tranh đã xác nhận cái ám chỉ mà dân chúng nghi ngờ đó là đúng.
Nhưng ở đây chúng ta không bàn luận về chuyện chính trị cách đây đã hơn nửa thế kỷ, như giải thích tại sao giữa thời thịnh trị của chế độ đệ nhất Cộng Hòa lại xuất hiện một đả kích táo tợn và dữ dội đến thế. Chúng ta chỉ đang tìm kiếm tác giả của bức tranh. Có hai người được nhắc đến: họa sĩ Phạm Tăng và họa sĩ Nguyễn Gia Trí.
Hai họa sĩ Phạm Tăng và Nguyễn Gia Trí là bạn thân với nhau. Khi tờ báo Tự Do ra đời tại Sài Gòn sau năm 1954, Phạm Tăng có chân trong ban biên tập, chuyên vẽ hí họa cho báo. Tờ Tự Do do ông Phạm Việt Tuyền làm chủ nhiệm, không phải là một tờ báo đối lập với chính quyền, nhưng bài vở trí thức, khách quan, lại có những người cộng tác không ưa chính quyền Ngô Ðình Diệm như Như Phong Lê Văn Tiến, Hiếu Chân (tức Nguyễn Hoạt), thường hay có những bài phê phán hoặc châm biếm ám chỉ chính quyền. 
Riêng họa sĩ Phạm Tăng, qua lần điện đàm với người viết bài này vào tháng 1.2012, cho biết đã bị bắt vào năm 1958 cùng với Hiếu Chân và Mặc Thu nhưng không bị ra tòa như hai vị này, mà được thả sau ba tuần bị nhốt ở bót Catinat. Sau đó họa sĩ Phạm Tăng xin đi du học tại Ý, và lên đường sang Ý vào năm 1959. Họa sĩ Phạm Tăng còn cho biết những hí họa trên báo Tự Do hầu hết là do ông vẽ, nhưng thỉnh thoảng họa sĩ Nguyễn Gia Trí cũng có đóng góp vài bức nhưng không bao giờ ký tên. 
Sau khi đi Ý, vì xa xôi và bận việc học, ông không còn cộng tác với báo Tự Do nữa, nhưng vẫn liên lạc thư từ rất thường xuyên với người bạn Nguyễn Gia Trí. Báo Thế Kỷ 21 Xuân Ất Dậu 2005 xuất bản tại Quận Cam California có đăng bản chụp bức thư của Nguyễn Gia Trí viết từ Sài Gòn gửi sang Ý cho Phạm Tăng đề ngày 24 tháng 1 năm 1960, và cho biết thêm hai người bạn tiếp tục trao đổi thư từ với nhau cho đến tháng 8 năm 1974.
Khi vụ bức tranh chuột trên báo Tự Do xuân Canh Tý 1960 bùng nổ, nhiều người nghĩ Phạm Tăng là tác giả bức tranh, mặc dù thời điểm này Phạm Tăng đang ở Ý. Sự gán ghép này chúng tôi nghĩ là tiện lợi cho tình thế lúc bấy giờ, rất có thể do chính tòa soạn báo Tự Do khai với chính quyền đồng thời tung ra dư luận, rằng Phạm Tăng đã vẽ, để tránh cho sự bắt bớ tác giả thật, là họa sĩ Nguyễn Gia Trí, đang sống tại Sài Gòn. Mà quả vậy, thời gian ấy họa sĩ Nguyễn Gia Trí vẫn sống bình thường tại nhà, không trốn tránh hay bị bắt bớ gì cả.
Thế thì có gì chứng minh bức tranh chuột ấy là do Nguyễn Gia Trí vẽ?
Thứ nhất là những dòng sau đây của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, trích từ bài Sự Thật Về Cái Chết Nhất Linh đăng trên nhật báo Người Việt (Quận Cam, California) và Người Việt Online vào đầu năm 2012:
“Vào năm 1960 trên bìa báo Tự Do Xuân Canh Tý xuất hiện bức tranh năm con chuột đang đục khoét một quả dưa đỏ và nếu lật ngược cái bìa thì quả dưa đỏ là hình bản đồ nước Việt Nam, hàm ý các anh em của gia đình họ Ngô đang phá hoại đất nước. Tờ báo bị chính quyền tịch thu sau khi báo đã phát hành được một số khá lớn. Không một ai biết tác giả bức tranh là ai. Người ta đoán mò họa sĩ Phạm Tăng là tác giả. Nhưng cha tôi cho chúng tôi biết tác giả là một người rất thân cận với ông: họa sĩ Nguyễn Gia Trí”.
Nguyễn Gia Trí gắn bó với Nhất Linh từ thời khởi sự làm báo Phong Hóa đầu thập niên 1930, rồi cùng hoạt động chống Pháp và bị Pháp bắt cùng Hoàng Ðạo, Khái Hưng vào năm 1942. Ông là người cứng cỏi, bị tra tấn rất nhiều. Ðầu thập niên 1950 ông bị Pháp chỉ định cư trú tại Thủ Dầu Một, cũng thời gian này Nhất Linh từ Trung Hoa về Hà Nội rồi vào Nam, hai người đồng chí cùng trong Việt Quốc chống Pháp một thời, nay lại gặp nhau. 
Nhất Linh lập nhà xuất bản Phượng Giang và Nguyễn Gia Trí phụ trách vẽ bìa các sách Nhất Linh xuất bản. Ðến thời đệ nhất Cộng hòa, cả hai ông đều bất mãn với chế độ gia đình trị của ông Ngô Ðình Diệm và sự kiện Nhất Linh biết rõ Nguyễn Gia Trí vẽ bức tranh chống đối này là việc dễ hiểu.
Ngày nay nhìn lại vụ bức tranh này, phải nhận đây là một sự kiện rất quan trọng, như một quả bom tấn nổ bùng khơi ngòi cho một loạt hoạt động chống đối chế độ trong những năm tiếp theo, với sự bất mãn của dân chúng ngày một tăng. 
Phải là người gan góc, đầy bản lãnh và tài năng mới thực hiện được một hình thức chống đối chế độ ngoạn mục như vậy: một bức tranh rất nghệ thuật nhưng hiền lành như một tranh dân gian đón mừng năm mới, in trên bìa số Xuân của một tờ nhật báo uy tín nhất nước, chỉ trong một thời gian ngắn là đến tay bạn đọc khắp nước, lại ẩn chứa một nội dung tố cáo tính cách không lành mạnh của một chế độ chính trị (mang cả gia đình nhà mình ra mà nắm vận mệnh đất nước). 
Giữa khung cảnh của một chế độ độc tài, đó là cách làm của một bàn tay từng trải với hoạt động cách mạng, cộng với tâm hồn của một nghệ sĩ lớn, không mấy ai đủ đởm lược và tầm vóc để thực hiện, như Nguyễn Gia Trí đã làm. 
Sự kiện Nhất Linh, người mà Nguyễn Gia Trí gắn bó mật thiết thời ấy, cho con cái trong gia đình ông biết ai là tác giả bức tranh ngay trong thời điểm nó xuất hiện là một xác định chắc chắn, hoàn toàn khả tín.
Thứ hai, chính họa sĩ Phạm Tăng đã khẳng định với nhà nghiên cứu Thụy Khuê vào đầu năm 2012 rằng, chính Nguyễn Gia Trí là tác giả bức tranh ấy. Vào đúng ngày Tết Nhâm Thìn (tháng 1, 2012) người viết bài này sau một thời gian tìm kiếm, đã có được phóng ảnh bìa số báo Xuân Tự Do Canh Tý 1960 lưu trữ tại thư viện Ðại Học Cornell; và vì muốn biết rõ một cách dứt khoát ai là người vẽ bức tranh chuột này, chúng tôi đã nhờ nhà nghiên cứu Thụy Khuê bên Pháp liên lạc với họa sĩ Phạm Tăng để hỏi, và đã nhận được câu trả lời rõ rệt như trên.
Ngoài ra chúng tôi cũng đã liên lạc và chuyện trò nhiều lần với:
- Bác Sĩ Nguyễn Gia Tiến (hiện ở Thụy Sĩ) cháu gọi họa sĩ Nguyễn Gia Trí bằng chú ruột, thời 1960 là sinh viên Y khoa, vẫn lui tới nhà ông chú hằng ngày,
- Nhiếp ảnh gia Nguyễn Tất Ðạt (ở Nam California), con của họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường, thời 1960 ở ngay trong nhà họa sĩ Nguyễn Gia Trí.
Thì cả hai đều xác nhận với chúng tôi rằng, thời ấy trong vòng gia đình, ai cũng biết chính họa sĩ Nguyễn Gia Trí vẽ bức tranh ấy.
Nguyễn Gia Trí là họa sĩ lớn của Việt Nam. Ông cũng là một chiến sĩ cách mạng gan lì và kiên cường. Những phẩm chất ấy hun đúc nơi ông một nhân cách lớn. Trong sự nghiệp hội họa của ông, các nhà nghiên cứu ít khi nhắc tới bức tranh chuột này, nếu có thì chỉ như dấu vết một hành động chính trị hơn là nghệ thuật. Nhưng chính bức tranh ấy đã có một vai trò đặc biệt trong lịch sử chính trị cũng như báo chí Việt Nam, mà vì hoàn cảnh xuất hiện đã tạo nên một sự lẫn lộn về tác giả. 
Tất cả sự sưu tầm, hỏi chuyện và gom góp tài liệu của chúng tôi chỉ nhằm một mục đích làm sáng tỏ ai là tác giả đích thực của bức tranh ấy. Và đến đây, câu trả lời đã có thể khẳng định: đó là họa sĩ Nguyễn Gia Trí.
Theo Reds

Chủ Nhật, ngày 15 tháng 2 năm 2015

Nhà văn tuổi Mùi và dấu ấn... trường thọ


Theo quan niệm dân gian, dê chính là sự hội tụ đầy đủ của Phúc - Lộc - Thọ". Nhân dịp Xuân mới Ất Mùi đang cận kề, xin giới thiệu chân dung một số nhà văn, nhà thơ tuổi mùi- những người mà tên tuổi từ lâu đã trở nên quen thuộc với đông đảo bạn đọc. Điều đáng nói là, bên cạnh một sự nghiệp văn học đáng nể trọng, họ còn là những người có sức khỏe dẻo dai, bền bỉ, với tuổi thọ khiến không ít người phải mơ ước...

Nếu có nhu cầu tìm hiểu về loài dê - cả trong đời thực và trong biểu tượng tâm linh, chỉ cần gõ vào Google, ta có thể dễ dàng bắt gặp những dòng như sau: "Trong dân gian, dê rất gần gũi và là một linh vật được yêu quý... Dê trở thành nhiều bài thuốc quý đem lại sức khỏe cho con người, mang đến sự trường thọ theo Đông y.
Theo quan niệm dân gian, dê chính là sự hội tụ đầy đủ của Phúc - Lộc - Thọ". Nhân dịp Xuân mới Ất Mùi đang cận kề, xin giới thiệu chân dung một số nhà văn, nhà thơ tuổi mùi- những người mà tên tuổi từ lâu đã trở nên quen thuộc với đông đảo bạn đọc. Điều đáng nói là, bên cạnh một sự nghiệp văn học đáng nể trọng, họ còn là những người có sức khỏe dẻo dai, bền bỉ, với tuổi thọ khiến không ít người phải mơ ước...
Theo quan niệm dân gian, dê chính là sự hội tụ đầy đủ của Phúc - Lộc - Thọ. Bởi vậy, tượng dê hiện là mặt hàng được nhiều người chào đón trong năm mới Ất Mùi này.
Nhà thơ Thế Lữ
Nhà thơ Thế Lữ sinh ngày 6/10/1907 (năm Đinh Mùi) và mất ngày 3 tháng 6 năm 1989 (năm Kỷ Tị). Ông là một trong những nhân vật chủ chốt của nhóm Tự lực văn đoàn, là người tiên phong không chỉ trong phong trào Thơ Mới (1932-1945), mà còn cả trong lĩnh vực truyện trinh thám ở Việt Nam.
Trong cuốn "Thi nhân Việt Nam", các tác giả Hoài Thanh - Hoài Chân đã dành cho ông những dòng tôn vinh xác đáng: "Độ ấy Thơ Mới vừa ra đời, Thế Lữ như vừng sao đột hiện, ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Dầu sau này danh vọng Thế Lữ có mờ đi ít nhiều nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công Thế Lữ đã dựng thành nền thơ mới ở xứ này…". Nhà thơ Thế Lữ từng được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Ngày nay, nếu xét ở góc độ tuổi thọ, có thể ai đó sẽ thấy trường hợp Thế Lữ (ông mất năm 82 tuổi) cũng không hẳn có gì đặc biệt cho lắm, nhất là khi tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam đã tăng lên đáng kể (theo kết quả khảo sát của Tổng cục Thống kê năm 2014 thì tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam là 73,2 tuổi, trong đó nam là 70,6 tuổi). Tuy nhiên, vào những năm tám mươi của thế kỷ trước, thọ như Thế Lữ không phải là điều ai cũng dám mơ tới, nhất là khi những thi nhân ở lứa tuổi đàn em so với ông, nhiều người đã phải "lên đường theo tổ tiên" khi còn rất trẻ (như Nguyễn Nhược Pháp, Hàn Mặc Tử, Bích Khê).
Một điều lạ nữa, Thế Lữ đã lập kỷ lục là người… thọ nhất trong các vị chủ soái của phong trào Thơ Mới, trong khi từ những năm ba mươi của thế kỷ trước, nhà văn Nguyễn Tuân đã "cảnh báo" qua bài viết "Một đêm họp đưa ma Phụng" (nhà văn Vũ Trọng Phụng): "Nhân Phụng vừa nằm xuống, tôi lại tìm trong đầu xem trong bọn nhà văn trẻ, những người nào là cầm lỏng được cái chết.
Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Lan Khai, Đoàn Phú Tứ, Thạch Lam… đều là những người đủ tư cách để sớm lên đường. Ngực người nào cũng lép như cái đồng hồ Ômêga trông nghiêng. Những người trẻ trung này có nằm xuống cũng đều nhẹ nhõm lắm đây".
Trong danh sách những người mà tác giả "Vang bóng một thời" xem là yểu mệnh kể trên, Thế Lữ được điểm tên… đầu tiên, song, như một nghịch lý, ông lại là người có tuổi thọ cao nhất trong số đó. Thế Lữ sinh trước Nguyễn Tuân 3 năm và trước Xuân Diệu tới gần chục năm, vậy mà ông lại là người lần lượt gửi thư, điện chia buồn và vòng hoa viếng khi Xuân Diệu, Nguyễn Tuân tạ thế.
Nhà văn Bùi Hiển
Nhà văn Bùi Hiển sinh ngày 22/11/1919 (năm Kỷ Mùi) và mất ngày 11/3/2009 (năm Kỷ Sửu). Ra đi ở tuổi 90, ông là một trong những nhà văn tiền chiến có tuổi thọ cao nhất (chỉ sau nhà văn Tô Hoài, sinh năm 1920, mất năm 2014). Sinh thời, nhà văn Bùi Hiển đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Nhà thơ Võ Văn Trực từng viết về nhà văn Bùi Hiển: "Trong cuộc đời thực, anh không nổi nóng gắt gỏng, xử sự ác với ai, trong tác phẩm anh cũng không xử sự ác với nhân vật".
Không biết có phải vì vậy mà nhà văn Bùi Hiển luôn giữ được sự thanh thản trong tâm hồn, giữ được phong độ, nhịp sống ổn định? Hãy xem ông tự mô tả hình ảnh của mình trong một bài viết (có tên gọi "Những năm 40 còn nhớ"): "Trong sớm mai trong trẻo, hai ông già thong thả đếm bước, cùng nhau đi ra phường lĩnh lương hưu, vừa đi vừa đàm đạo. Một ông ngấp nghé cổ lai hy, một đã ngoại bát tuần, bên chân bị đau hơi lê. Có lúc náo nức theo câu chuyện, ông cổ lai hy vô tình dấn bước. Bị tụt lại sau vài mét, ông bát tuần cất tiếng nhắc, giọng nhẹ nhàng và rất thanh, không có vẻ gì già lão: Anh đi hơi nhanh, tôi không theo kịp". Thì ra, cái "ông cổ lai hy", "ông đi hơi nhanh" được đề cập trong bài viết chính là nhà văn Bùi Hiển và bậc lão trượng "bát tuần" là nhà văn Vũ Ngọc Phan.
Nói vậy không có nghĩa là ở vào giai đoạn tuổi cao, lúc nào nhà văn Bùi Hiển cũng ỷ vào phong độ trời cho của mình mà phăm phăm… dấn bước. Cùng sinh năm 1919 với nhà thơ Huy Cận, ở tuổi 80, trong khi Huy Cận đi đứng vững chãi thì lúc ra đường, Bùi Hiển đã phải cậy nhờ vào chiếc ba toong. Huy Cận hỏi tại sao, ông dí dỏm đáp: "Chả là hậu sinh khả… huých, thanh niên đi ngoài đường nhỡ bước vội, vô ý huých cho mình một cái, khéo mà ngã chổng kềnh".
Với trí tuệ minh mẫn, sức khỏe dẻo dai, ở tuổi ngoài 80, nhà văn Bùi Hiển vẫn được Hội nghề nghiệp trọng dụng. Ông được mời làm Chủ tịch Hội đồng văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam, khi mà các thành viên còn lại trong hội đồng đều thuộc hàng con cháu ông. Và ông là nhà văn duy nhất thành danh từ trước Cách mạng Tháng Tám có chân trong Hội đồng này. Nội điều đó đã đủ cho thấy khả năng "đồng hành cùng thời đại" của nhà văn Bùi Hiển.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng sinh ngày 12/1/1932 (tức ngày mùng 5 tháng Chạp năm Tân Mùi) và mất ngày 13/2/2014 (năm Giáp Ngọ), hưởng thọ 82 tuổi.
Sinh thời, từng có người hỏi Nguyễn Quang Sáng (điều này ông đã thuật lại trong cuốn bút ký "Nhà văn về làng" do NXB Văn nghệ ấn hành năm 2008):
"Người bạn hàng xóm cùng lứa tuổi hỏi:
- Sáng, mày tuổi gì?
- Tân Mùi.
- Con dê.
- Ừ.
Hai tay nó đánh chát một cái:
- Đúng rồi.
Tôi hỏi:
- Đúng cái gì?
Mắt nó bỗng sáng lên:
- Mày không phải tá, không phải tướng là phải rồi. Tuổi con dê của mày chỉ làm nghệ sĩ thôi".
Nghe người bạn nhận định chắc như đinh đóng cột vậy, Nguyễn Quang Sáng chợt nghĩ đến đám bạn văn nghệ cùng tuổi Tân Mùi với mình: Nhạc sĩ Hoàng Hiệp, nhà thơ Phùng Quán, và thấy sự suy đoán của người bạn hàng xóm cũng có phần… đúng.
Sinh thời, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. 
Dừng cuộc "hành trình" ở tuổi 82, sự ra đi của nhà văn Nguyễn Quang Sáng được xem là có phần đột ngột. Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, con trai thứ của nhà văn Nguyễn Quang Sáng kể: "Mấy hôm nay thấy ba khỏe hơn, đi lại nhiều nhưng không ngờ ba lại ra đi". Theo đạo diễn Nguyễn Quang Dũng cho biết, anh không kịp có mặt ở giây phút cuối đời của ba anh. Khi ấy chỉ có mẹ anh. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng ra đi hơi đột ngột nhưng nhẹ nhàng.
Nói đột ngột là bởi với phần đông bạn bè, người thân nhắc tới Nguyễn Quang Sáng là họ luôn hình dung tới vóc dáng đậm, chắc, vâm váp của ông. Lại nhớ, trước khi nhà văn Nguyễn Quang Sáng mất chừng hơn một năm, gặp ông ở Hà Nội, khi tôi hỏi lão nhà văn về tình hình sức khỏe của một nhà văn ở Sài Gòn ốm đã lâu ngày, ông nửa đùa nửa thật cho biết: Ông không "dám" đến thăm vì người này vốn kình địch với ông. Sợ ông ấy nhìn thấy một Nguyễn Quang Sáng khỏe nhường này sẽ lên cơn sốc, ảnh hưởng đến việc… dưỡng bệnh.
Giờ thì cả hai nhà văn nói trên đều đã trở về với tiên tổ.
Tường Duy - Xuân 2015

Thứ Bảy, ngày 07 tháng 2 năm 2015

'Nhận diện' tướng người thông minh, trường thọ

Đăng Bởi -
tuong thong minh va truong tho
Xem tướng người thông minh trong tử vi tướng số theo nhân diện học, trán là bộ phận quan trọng trong việc xem xét năng lực cũng như vận may của cá nhân

Thông minh, tài trí, trường thọ dường như là mong muốn của tất cả mọi người. Song người xưa với tư duy kính nghiệm đậm chất duy vật cổ sơ thì cho rằng trí tuệ và sự thọ yểu lại có mối quan hệ bí ẩn với tướng số, cái phần nhiều do thiên định.

Tướng người thông minh
Dân gian có câu "Trán cao phúc đức vô cùng/ Mày cao mắt sáng tinh thông hơn người". Theo diện tướng học, trán là bộ phận quan trọng trong việc xem xét năng lực cũng như vận may của cá nhân. Xét riêng về mặt trí tuệ, sự khác nhau ở mỗi người sẽ tùy đặc điểm độ cao, chiều rộng, màu da, tính cân đối, độ bằng phẳng...của trán. Trán tuy rất quan trọng nhưng không mang tính độc lập hoàn toàn, chúng luôn liên kết hỗ trợ, chế ngự và bị chế ngự bởi các yếu tố khác. Vì vậy, ngoài trán có thể xét đoán thêm khi nhìn ở một số cơ quan khác như mắt, mày, tai, nốt ruồi...
Người thông minh thường có các dạng trán sau: trán cao, rộng; trán cao rộng và vuông; trán tròn cao, đầy đặn; trán lẹm; trán cân xứng, hơi lồi lõm nhưng cao và rộng; trán gồ phía dưới nhưng cao và rộng.
Ngoài ra, trán cao có góc tròn là người có năng khiếu nghệ thuật. Trán cao trung bình có khả năng tưởng tượng và óc sáng tạo tốt. Trán thấp, hẹp, có góc tròn tuy có năng khiếu về nghệ thuật nhưng không đủ điều kiện để khẳng định điều đó.
tuong thong minh va truong tho
Tướng thông minh
Trán rộng nhưng độ cao trung bình thì thiếu chủ động trong công việc. Trán rộng, thấp thì thiếu sáng tạo, trí nhớ kém.Trán rộng với phần dưới phẳng thì trí tưởng tượng kém. Trán vuông, thấp, hẹp thì tư duy thiển cận.Trán rộng với phần trên bằng phẳng và rộng, chủ nhân là người mơ mộng. Trán gồ giữa, chủ nhân là người hay sống trong sự hoang tưởng. Tuy nhiên, nếu là tướng trán cao nhưng hẹp thì lại là người kém trí tuệ.
Miệng của người thông minh có góc cạnh rõ ràng, mở to, khép nhỏ, môi trên có vân, hai môi cân xứng, sắc môi hồng nhuận. Nhân trung (khoảng cách từ môi trên đến chóp mũi) có hình tam giác là tướng miệng tốt nhất. Người có tướng miệng này là người thông minh, nhân hậu, tài năng hơn người, thành công trong sự nghiệp.
Lông mày có nốt ruồi là người thông minh hiền hậu mà được sang quý. Lông mày trông như trăng non, thông minh hơn người. Góc mày vào tóc mai, là người thông minh tuấn nhã. Mắt của người thông minh thường sáng (sáng trong, sáng xanh), lòng đen trắng rõ ràng, lòng đen nhiều hơn lòng trắng, tướng mắt cân đối, đây cũng là một phần của tướng người quân tử, chính trực. Tai người thông minh có vành bờ phân minh rõ ràng.
Để xét đoán tướng người thông minh, cũng cần kết hợp với xem đường Trí đạo (Minh đường) trong bàn tay chủ nhân. Bởi đường Trí đạo thể hiện về trí tuệ mỗi người, trong đó gồm trí thông minh, học vấn, tư tưởng. Trí đạo tốt khi dài, sâu, rõ ràng và hồng hào, thể hiện là người thông minh, có óc suy đoán tốt, có tính trung trực, thanh liêm, giàu lòng bác ái.
Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng khái niệm thông minh ở đây nhìn dưới góc độ Nhân tướng học theo kinh nghiệm của cổ nhân, nó không trùng với chỉ số IQ (Intelligent Quotient), một khái niệm hiện đại, được xem là thước đo của trí thông minh của người thời nay.
Tướng người sống thọ
Dân gian có câu "Tai dầy có trái sống lâu/ Tai dầy mà rỗng của thâu không bền". Theo Nhân tướng học, tướng người trường thọ phải hội đủ tối thiểu bảy điều kiện sau:
1. Lông mày phối hợp thích nghi với râu và tóc, càng về già càng dài lại là dấu hiệu tốt. Tuy nhiên, dưới 30 tuổi mà lông mày đột nhiên dài ra một cách bất thường lại là chứng yểu mệnh. 2. Tai có Luân quách rõ ràng, lớn và dầy, rắn chắc, sắc tươi nhuận. 3. sống mũi (phần Niên thượng, Thọ thượng) đầy và có thịt. 5. Nhân trung sâu và rộng. 6. Răng chắc chắn. 7. Tiếng nói rõ ràng, vang dội. Thần khí sung túc.
tuong thong minh va truong tho
Tướng trường thọ. (Trong ảnh cụ bà Antisa người sống thọ nhất thế giới khi bước qua tuổi 132).
Ngoài ra, những dấu hiệu sau đây cũng liên quan khá mật thiết tới tướng thọ mệnh, cổ phía dưới có thêm lớp da trễ xuống vai (trường hợp khi người đứng tuổi và mập). Nếu là lộ hầu thì âm thanh phải trong trẻo và cao. Xương Lưỡng quyền vững vàng và ăn thông lên ngang phía xương hai bên đầu phía trên và sau tai nổi cao rõ rệt.
Ngũ nhạc (gồm trán, mũi, cằm, lưỡng quyền trái, phải) đầy đặn và đúng cách cục. Đến tuổi trung niên (khoảng ngoài 30 tuổi) tai mọc lông dài hoặc lông mày bắt đầu mọc dài và sắc thái tươi nhuận. Lưng rộng, bụng dầy.
Người có đầy đủ tất cả các điều kiện kể trên, theo cổ nhân, chắc chắn là tướng trường thọ trong trường hợp bình thường. Tuy nhiên, khi đoán định về thọ yểu còn phải kết hợp với cả xem tướng bàn tay, nhất là đường Sinh đạo. Một đường Sinh đạo dài, rõ nét, không bị đứt quãng thể hiện tuổi thọ, sức sống của chủ nhân. Tuy nhiên, không thể nói thọ yểu phụ thuộc hoàn toàn vào độ ngắn dài của đường này, vì rằng nó còn được hỗ trợ hoặc chế ước bởi các đường Trí đạo, Tâm đạo và ngón tay cái.
Tướng người non yểu
Một cá nhân bị xem là có tướng non yểu nếu đồng thời phạm bảy khuyết điểm sau:
1. Lông mày đẹp đẽ về hình thức nhưng hỏng về thực chất (sợi thô vàng, sắc khô héo). Lông mày mọc xệ xuống phía dưới mi cốt, dáng vẻ lạnh lẽo.
2. Tai nhỏ, úp xuống phía trước mặt. Tai quá mềm và sắc không xạm, tai quá mỏng, nhĩ căn bạc nhược.
3. Mũi gãy khúc, Sơn căn (gốc mũi nằm giữa hai mắt), gập xuống, Chuẩn đầu (đầu mũi) nhỏ nhọn, khiến mũi trở thành liệt thế.
4. Đầu nhỏ, cổ dài, trán nhỏ nhọn và nổi gân xanh, thiếu niên mà đi hoặc ngồi so đầu rụt cổ.
5. Nhân trung ngắn, nông cạn.
6. Tiếng nói đứt đoạn, giọng nói gấp mà hời hợt như người thiếu hơi, âm điệu buồn tẻ như người không có sinh khí.
7. Ánh mắt đờ đẫn như kẻ si ngốc hoặc người ngái ngủ, ngồi thì lưng như gục ngã, đứng nhìn thì chân không có gân cốt, đi thì thân hình xiêu vẹo, bước chân thiếu vững vàng.
Tất cả những dạng thức trên đểu là biểu hiện của "Thần suy nhược, hôn ám đoản xúc" nên không thể nào sống quá 50 tuổi. Bởi lẽ đó, có người tuy về hình tướng rất đẹp đẽ phương phi mà chết yểu chỉ vì khí chất không cân xứng.
Ngoài tổng quát về mạng non yểu kể trên, tác giả Phong Vân Tử trong cuốn "Giám nhân thuật" còn liệt kê một vài hạn tuổi non yểu với một số dấu hiệu đặc biệt, cụ thể là: Chết yểu trong vòng 10 tuổi trở lại: Phàm tướng người non yểu trong tuổi trên được thể hiện qua đầu và trán nhỏ quá mức so với thân mình, trán nổi gân xanh quá rõ rệt, phía sau đầu xương bị lõm xuống. Người to con mà đầu lại nhỏ, cộng thêm tiếng nói quá nhỏ, khó sống qua năm 15 tuổi. Tai mỏng như giấy, nhĩ căn bạc nhược, da mỏng và bóng như bôi dấu, khó vượt qua quãng 16-19 tuổi. Mắt lồi mà lòng đen ít, lòng trắng nhiều, nhĩ căn xạm đen, tai mỏng và hướng về phía trước, khó sống qua tuổi 20.
Lông mày ngắn, mặt ngắn, không thọ quá 25 tuổi. Mày thưa thớt, xâm phá Ấn đường, mắt không có thần, môi xám là tướng đoản thọ trong vòng 26 tuổi. Mắt nhỏ, quyền thấp, xương thô, thịt teo mà Hạ đình quá dài nhọn, không quá 27 tuổi. Lông mày giao nhau mà mát thoát thần, môi vẩu mà môi trên lại ngắn, da mặt quá mỏng, khó sống được quá 30 tuổi.
Mắt lồi, lông mày ngắn, Địa các quá dài không tương xứng với khuôn mặt, khó sống qua 32 tuổi. Mắt thì lúc như lộ chân quang, lúc lại như chìm xuống. Lông mày vừa thô vừa ngắn lại thêm Hạ đình dài hẹp, không quá 34 tuổi. Lộ mắt, lộ hầu, xương nhỏ mà người mập, không quá 36 tuổi. Mắt lộ hung quang hừng hực, tính tình thô bạo thì dẫu mũi cao, Sơn căn không gẫy khúc thì cũng chỉ đến năm 39 tuổi khó tránh được số trời.
Con người quá 50 tuổi mà chết thì không còn gọi là yểu tử nữa mà nên gọi là mạng vong hay thọ chung. Thông thường, kẻ sống mũi không ngay ngắn (có chiều hướng lệch sang bên trái hay bên phải) ít khi sống quá 42 tuổi. Mắt nhỏ, mày co rút lại không tương xứng với khuôn mặt, Sơn căn lại đầy đặn thường sống đến khoảng 42-44 tuổi. Bắt đầu phát phì mà thần khí lại có vẻ co rút, thì khó qua được tuổi 49 và 50.
Dĩ nhiên, đây là theo cách tính của cổ nhân, khi mà người thọ đến tuổi 70 rất hiếm.
Hải Hậu
(Câu Chuyện Pháp luật)

Một kỷ niệm văn chương dở khóc, dở cười

Khi đó tôi đang làm công việc giáo vụ của trường Viết văn Nguyễn Du. Một hôm tôi được giao nhiệm vụ là phải mời bằng được nhà văn N… vào giảng bài cho các sinh viên trường viết văn. Ông là nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, vì thế, sự có mặt của ông vào đúng thời điểm nhà trường đang gặp khó khăn, là vô cùng cần thiết. Vì thế buổi giảng bài của ông được đưa lên thành công việc trọng điểm trong tuần. Khi lãnh đạo nhà trường trực tiếp đến mời, nhà văn N… nói là ông rất ngại. Nhưng rất may là vào phút chót ông cũng nhận lời.

văn chương, kỷ niệm

Trước khi buổi giảng diễn ra vài hôm, tôi đã phải trực tiếp gặp và nói với các sinh viên về tầm quan trọng của sự kiện nhà văn N… đến trao đổi nghề nghiệp. Nhiều sinh viên không quan tâm. Có người còn tỏ ra chế nhạo. Nhưng tôi vẫn kiên nhẫn nhắc lại vài lần nữa, đặc biệt là vào ngay trước hôm diễn ra bài nói chuyện của nhà văn N… Tôi rất sợ mọi việc không như ý thì lợi bất cập hại.
Đúng lịch tôi đến cơ quan rất sớm, cùng lái xe đi đón nhà văn N… ở một khu tập thể. Những gì tôi lo lắng đã không xảy ra. Tuy vẫn còn vắng một hai người, nhìn chung đó là buổi học khá đầy đủ sĩ số. Tôi biết nhiều sinh viên phải miễn cưỡng ngồi nghe nhưng họ cũng không để lộ thái độ làm mếch lòng người khác. Như mọi cuộc diễn thuyết trước đó, nhà văn N… khá bốc. Hôm ấy bỗng đâu ông như trút ra nỗi niềm bấy lâu phải nén xuống trong lòng, khi ông nói to lên rằng: “Điều tôi muốn nói với các em là đừng để cho bất cứ ai, bất cứ thằng nào … xía vào quyết định số phận cuộc đời mình”. Tôi còn nhớ như in vẻ mặt nhà văn N… lúc ông nói điều đó. Nó đầy vẻ bất cần. Cứ như ông vừa tự tháo xiềng cho mình. Sau đó ông cũng nói về thơ, văn nhưng khá khiêm tốn. Cuối cùng ông đọc thơ, một bài thơ chỉ có ý mà không còn lời, tức là chủ về triết lý, khá khô khan.
Chiều hôm ấy, để tăng thêm sự trọng thị của nhà trường, Ban giám hiệu cử tôi cùng với mấy học sinh nữ, ăn mặc tươm tất, mang biếu nhà văn N… một giỏ quà. Chỉ gồm bó hoa và ít quả tươi. Chúng tôi đến đúng lúc nhà văn N… không có nhà. Tôi bèn để quà lại cùng mấy lời ghi trên tờ giấy. Hôm sau nhà văn N… gọi điện cho tôi. Giọng ông nhẹ nhàng, cực kỳ ấm áp. Ông lịch sự và rất xúc động cảm ơn tôi. Sau đó ông thật lòng bảo thêm: “Để đáp lại thịnh tình của nhà trường và các bạn sinh viên, tôi sẽ đến nói chuyện thêm một buổi nữa”.
Tôi buông máy là đi gặp lãnh đạo ngay. Tình huống phát sinh này khiến chúng tôi lúng túng. Một buổi đã khổ với việc gom những ông bà sinh viên kiêu ngạo, giờ thêm buổi nữa không biết sẽ làm thế nào để giữ chân họ đây. Nhưng không thể không đáp ứng tấm chân tình của nhà văn N… Cuối cùng nhà trường vẫn quyết định chính thức mời ông buổi thứ hai. Ông hoàn toàn đồng ý và tỏ ra rất vui. Nhưng tôi thì không thể cười được. Tôi biết là mình sắp khốn nạn. Tôi lại phải dùng mọi cách để nói với sinh viên, về buổi giảng thứ hai của ông, là buổi mà ông chia sẻ nhiều bí mật về ông và thế hệ ông. Tôi nhấn mạnh rằng, nhà văn N… rất quý các bạn nhà văn, nhà thơ trẻ mà ông tin là có tài! Đôi khi tôi vẫn phải dùng bài nịnh rẻ tiền đó. Nhiều người phản ứng ra mặt là họ nghe thế quá đủ rồi. Tôi vẫn kiên nhẫn thuyết phục nhưng không dám nói ra tình cảnh bi hài mà nhà trường đang bị lâm vào.
Thời gian đó trường Viết Văn vừa chiêu sinh một lớp viết báo ngắn hạn. Khóa học dự kiến sẽ khai giảng sau buổi nói chuyện thứ hai của nhà văn N… vài ngày. Một số học viên từ các tỉnh xa đã có mặt, tôi ước khoảng hơn chục người. Khi nhà văn N… bước vào phòng khách, tôi gần như ù hết cả tai. Nhưng tôi vẫn hy vọng các ông bà sinh viên viết văn, sau chầu cà phê sáng, sẽ dẫn xác vào lớp. Chỉ cần họ ngồi trong lớp, còn nghe gì hay nghĩ gì tôi cũng không quan tâm.
Đã quá giờ vào lớp gần tiếng đồng hồ mà vẫn chỉ thấy chưa đầy chục người, ai cũng lộ vẻ thờ ơ. Tôi biết là hỏng to tồi. Tôi vội chạy lên các phòng có học sinh ngắn hạn, chủ yếu ở khu vực phía Nam, đang còn nghỉ lấy sức sau chuyến đi tầu hỏa xuyên Việt. Tôi làm bộ quan trọng bảo với họ như sau: “Các bạn thật là những người may mắn. Các bạn đến nhập học đúng vào hôm nhà trường mời được nhà văn, nhà viết kịch, nhà thơ, triết gia lão thành N… một nhà văn cỡ thế giới. Đây là đặc ân ông chỉ dành cho học sinh viết văn. Bởi vì mời được ông khó vô cùng. Vì thế ngay lập tức chúng tôi nghĩ đến các bạn. Ta cần phải tận dụng cơ hội hiếm hoi này để nghe một nhà văn lớn của đất nước nói chuyện. Trân trọng mời các bạn cứ vào lớp nghe tự nhiên.”
Mọi người mắt đều sáng lên. Họ tin vào lời tôi. Bản thân họ cũng thấy đó là dịp hiếm. Sau khi giục họ nhanh chóng xuống và ổn định chỗ ngồi, tôi chạy vào lớp. Thêm được một, hai người, y như cảnh rã đám của chợ chiều. Có trời cũng không thể tìm thêm được những ông bà sinh viên còn lại. Đành phải mời nhà văn N… lên giảng đường. Mặc dù được bổ sung hơn chục học viên của lớp ngắn hạn nên các bàn không đến nỗi bỏ trống, nhưng nhà văn N… chỉ liếc qua đã biết ngay là ông quá cả tin, bị lừa bởi màn kịch của nhà trường và lẽ dĩ nhiên thủ phạm chính là tôi, khiến ông bị rơi vào tình thế vô duyên. Nhưng là người lịch duyệt và từng trải, ông chỉ hơi nhíu mày lại rồi vẫn nhiệt tình giảng bài, y như chẳng có chuyện gì. Chỉ có điều, kết thúc buổi nói chuyện là ông lên xe về ngay không muốn nhìn thấy bất cứ ai, lòng có lẽ rất buồn và chắc chắn là ông bị tổn thương sâu sắc. Ông có thể đã rất giận tôi là không nói thật với ông. Nhưng tôi cũng như ông, là sản phẩm của một thứ văn hóa đóng kịch. Chúng tôi biết mọi chuyện thế là thất bại. Nghe đâu sau đó cũng có một cái hội nghị bàn về tương lai của trường viết văn và có mặt nhà văn N… Ông nói tốt hay xấu về trường là điều tôi không bao giờ biết, vì tôi không chủ định tìm hiểu. Nhưng cảm giác về sự có lỗi với ông thì sẽ còn bám theo tôi rất nhiều năm sau…
  • (Theo Tạ Duy Anh/ Báo Xuân Tiền Phong)

Thứ Sáu, ngày 06 tháng 2 năm 2015

Hấp dẫn vẻ đẹp vùng cao Việt Nam

Một trong số các điểm hút khách du lịch nhất Việt Nam là những khu vực vùng cao, nơi có mùa lúa vàng, mùa chè xanh, mùa hoa sặc sỡ... với vẻ đẹp quyến rũ và cuộc sống thanh bình.

 
Mùa vàng Tả Van - Sapa - Lào Cai. Tác giả: Nguyễn Trung Quân.
Núi xanh, mây trắng và lúa vàng tạo nên một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp quen thuộc của mảnh đất Sa Pa. Đây là điểm đến hấp dẫn khó thể bỏ qua trong hành trình khám phá Tây Bắc.
 
 
Hoàng hôn trên đỉnh Nà Lay. Tác giả: Nguyễn Quang Tuấn
Sau cơn rào bất chợt, cả thung lũng Bắc Sơn như bừng tỉnh đón chào một hoàng hôn rực rỡ.
 
 
Hùng vĩ Tây Bắc. Tác giả: Nguyễn Đình Thành
Cảnh hùng vĩ tại bản Háng Xung, thị xã Mường Lay, Điện Biên khi lúa đang chuẩn bị chín. Những dải lúa vàng uốn lượn ôm lấy núi non Tây Bắc.
 
 
Trên nương trà B'lao. Tác giả: Lê Nguyễn Luân Vũ
Công nhân thu hoạch trà trên nông trường trà Cầu Tre, Bảo Lộc, Lâm Đồng.
 
 
Chiều Tây Bắc. Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn
Những nếp nhà nằm yên bình bên các thửa ruộng bậc thang khi mùa lúa chín về ở bản Lìm Mông, xã Tú Lệ, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
 
 
Về với Hà Giang. Tác giả: Nguyễn Trung Quân
Sủng Là nằm trên quốc lộ 4C, nối những thị trấn trên mảnh đất Hà Giang, cách huyện Đồng Văn hơn 20km, nên ai muốn tới miền cao nguyên đá đều phải đi qua con đường uốn lượn này.
 
 
Mùa vàng Tây Bắc. Tác giả: Nguyễn Trung Quân
Đứng từ trên đèo cao nhìn thung lũng Khau Phạ, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái vào mùa lúa chín, những dải ruộng bậc thanh như được dệt vàng từng thảm. Khau Phạ cũng là một trong số những điểm đến "săn" lúa chín nổi tiếng trong cộng đồng nhiếp ảnh và dân phượt.
 
 
Lụa xanh. Tác giả: Đào Cảnh Tuân
Khung cảnh những ngày đầu vụ, nông dân đi thăm mạ ở Mù Căng Chải, Yên Bái.
 
 
Ngày mùa trên vùng cao Mù Cang Chải. Tác giả: Lê Đức Kim
Bức ảnh được chụp tại Mù Cang Chải vào mùa lúa chín. Những thang ruộng chảy tràn và lúa chín vàng nhuộm màu tươi sáng lên khung cảnh vùng cao Mù Cang Chải.
 
 
 
Mùa vàng Mai Châu. Tác giả: Lê Thanh Tùng
Bức ảnh chụp toàn cảnh thị trấn Mai Châu mùa lúa chín từ trên cao, cho thấy được phần nào vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên và của tạo hóa, được hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình đầy màu sắc và rất nên thơ.
 
 
Bậc thang ở Mù Cang Chải. Tác giả: Nguyễn Đăng Hào
Giữa thu là thời điểm những ruộng bậc thang lúa tại Mù Cang Chải chuyển dần sang màu vàng óng, hút mắt. Đây cũng chính là lúc những người yêu nhiếp ảnh và du lịch lập kế hoạch lên đường để có được những tác phẩm ưng ý nhất.
 
 
Kỳ quan. Tác giả: Nguyễn Văn Miền
Ruộng bậc thang La Pán Tẩn, Mù Cang Chải, Yên Bái, di tích danh thắng cấp quốc gia. Trước đây La Pán Tẩn là một điểm nóng về ma túy nhưng ngày nay được nhiều người biết tới như một nơi có khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, níu giữ bước chân du khách.

  • Hương Chi

 

Thứ Năm, ngày 05 tháng 2 năm 2015

Bài văn tả cảnh sinh hoạt gia đình gây sốt của bé trai 8 tuổi

Đây là bài kiểm tra môn tập làm văn, lấy chủ đề ” Em hãy miêu tả cảnh sinh hoạt trong gia đình em vào một buổi tối ” của một bé trai 8 tuổi, đang học cấp 1 tại trường X – TPHCM.

Cô giáo chấm cho em 4,5 điểm cùng lời phê bình bên dưới ..

van ba 1


” Gia đình con có năm người, ông nội con năm nay bao nhiêu tuổi con cũng không biết, con chỉ biết ông nội là người về hiu thôi, ba con làm việc hải quan ở ngoài sân bay Tân Sơn Nhất, mẹ con làm việc bán hàng chênh mạng inh tơ nét, anh hai của con tên Trung , ảnh học lớp năm.
Chiều nào đi làm về ba cũng đem một bịch đựng tùm lum đồ ở chỗ sân bay về cho mẹ con bán, lúc đó mẹ con mừng lắm đổ ra coi, con thấy có dầu thơm, đồng hồ, son phấn nữa, có  bữa con thấy có điện thoai ai phon nữa . Con thấy mẹ thì mừng nhưng ông nội ghét lắm, lúc ăn cơm nào ông nội cũng la ba con là thằng Hải mày đừng có lấy đồ của người ta nữa được không, thất đức lắm nha mày, ba con cãi lại ông , Kệ bọn tui đi tụi việt kiểu nó giầu lắm nghe ông nội và ba cãi lộn hoài con buồn lắm, ăn xong học bài con với anh hai ngủ chung chênh lầu, ông nội ngủ dưới đất, tối qua nhà con cúp điện con không thấy đường đi tô lét con vô phòng ba mẹ tìm đèn cầy, con thấy ba mẹ cởi chuồng ôm nhau, thấy con mẹ mắc cỡ lấy mềm chùm lại, sáng ba con dặn vô phòng phải gõ cửa nha con, con nói tại thấy cửa phòng mở nên con vô đại, con xin lỗi ba mẹ nha.
Ăn xong mẹ chở hai anh em con đi học là hết sinh hoạt của nhà con. Ước mơ của con là ba đừng lấy đồ của mấy người việt kiều nữa để khỏi cãi lộn với ông nội con và con muốn nhà con đừng bị cúp điện nữa để con khỏi vô phòng ba mẹ tìm đèn cầy nữa .”
  • Duy Ngo – Việt Báo Net

Chủ Nhật, ngày 01 tháng 2 năm 2015

Câu chuyện "Sai mà hay vẫn được" của nhà thơ Vũ Cao


Năm 1965, tôi vào học Trường Trung cao Cơ điện, sơ tán tại Tam Dương - Vĩnh Yên. Trong một đêm liên hoan văn nghệ cuối năm, một học sinh lên ngâm bài thơ ''Núi Đôi'' của nhà thơ Vũ Cao. Bài thơ ''Núi Đôi'' đã gây xúc động trong lòng lũ học sinh chúng tôi khi đó. Những ngày sau, chúng tôi chuyền tay nhau chép bài thơ đó vào sổ tay của mình một cách trân trọng. Tôi thầm ước một ngày nào đó được về thăm địa danh Núi Đôi, được gặp tác giả của bài thơ bất hủ đó.

Cái mơ ước thầm kín đó của tôi rồi cũng được thực hiện. Sau ngày giải phóng, không ngờ trường tôi lại về đóng ở Núi Đôi, thuộc huyện Sóc Sơn, Hà  Nội. Tôi  trở về thăm trường, con đường trải nhựa như một dải lụa uốn lượn dưới chân hai quả núi rợp bóng thông reo. Lần đầu tiên tôi được chiêm ngưỡng một địa danh trở nên nổi tiếng nhờ bài thơ của nhà thơ Vũ Cao "…núi chồng, núi vợ đứng song đôi". Câu chuyện về cô du kích làng Phù Linh xinh đẹp đã anh dũng hy sinh trên Núi Đôi khi cô mới 17 tuổi cứ ám ảnh tôi mãi.
Những năm tháng sau đó tôi chập chững bước vào nghiệp văn nên được thường xuyên tiếp xúc với nhà thơ Vũ Cao, nhờ ông chỉ bảo, nhưng vẫn chưa có điều kiện hỏi ông về hoàn cảnh ra đời của bài thơ ''Núi Đôi''. Mãi tới năm 1998, khi ông 75 tuổi, tôi đến thăm ông tại tư gia bên hồ Hữu Tiệp, nơi còn giam giữ một xác máy bay B52 của Mỹ bị quân và dân Thủ đô bắn rơi trong trận chiến mười hai ngày đêm của tháng 12/1972. Tuy đã về nghỉ hưu từ nhiều năm nhưng ông vẫn là Chủ tịch Hội đồng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Ở tuổi 75 nhưng xem ra ông vẫn còn rất "tráng kiện". Mọi người vẫn thấy ông túc tắc trên chiếc xe đạp cà tàng, đầu đội cái mũ lá với dáng người cao thô trông như một lão nông tri điền bán chuối. Với giọng nói oang oang, nụ cười thoải mái hồn hậu, đôi mắt tinh anh ánh lên chất hài hước, khiến ai tiếp xúc với ông cũng cảm thấy thoải mái, ấm áp chân tình.
Sau những phút trò chuyện thân mật, tôi mới dám lựa lời hỏi ông về hoàn cảnh ra đời của bài thơ ''Núi Đôi''. Ông lặng đi đôi chút trong ánh mắt tư lự, như để nhớ lại những kỷ niệm của một thời đã xa, rồi chậm rãi kể lại cho tôi nhiều chuyện về bài thơ ở Núi Đôi.
Nhà thơ Vũ cao và vợ.
Mùa đông năm 1955, Vũ Cao là phóng viên Báo Quân đội nhân dân được cơ quan cử đi theo Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 141, Sư 312 về đóng quân ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Vũ Cao ở một xóm nhỏ cách Núi Đôi khoảng 300m. Nhiệm vụ chính của Vũ Cao là viết phóng sự và bút ký về bộ đội. Phù Linh là một mảnh đất trung du nghèo, bị địch tàn phá nhiều nên phong cảnh rất tiêu điều. Người dân ở đây đang lục tục trở về nhận lại ruộng và làm lại nhà cửa. Chính tại nơi đây, Vũ Cao đã được nghe dân làng kể lại câu chuyện về cô du kích xinh đẹp, đánh giặc giỏi, đã bị bọn giặc Pháp đóng bốt trên Núi Đôi giết chết. Năm đó cô du kích trẻ mới 17 tuổi. Câu chuyện đó cứ ám ảnh Vũ Cao trong suốt thời gian đóng quân tại xã. Một buổi tối sau giờ sinh hoạt tập thể, 9 giờ tối đến giờ đi ngủ, Vũ Cao xin phép được thức để viết bài cho báo. Vì không có đèn dầu nên ông phải đổ dầu vào một cái đĩa, lấy giẻ làm bấc, khi hết lại phải nhấc bấc ra đổ thêm dầu để làm việc.
Vũ Cao chợt nhớ đến một câu thơ của Nguyễn Du "đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh", quả thật đến lúc đó Vũ Cao mới thấy hết cái hay, cái thần của Nguyễn Du qua câu thơ trên. Hình ảnh cô du kích trẻ bị giặc giết trên Núi Đôi cứ ẩn hiện trong đầu ông. Vũ Cao đã viết bài thơ ''Núi Đôi'' một lèo đến 11giờ đêm thì xong.
Về Hà Nội, Vũ Cao nộp cho tòa soạn mấy bài ký sự, còn bài thơ ''Núi Đôi'', ông để lẫn trong tập bản thảo và cũng không để ý đến nó nữa.
Năm 1957, anh em trong tòa soạn tìm thấy bài thơ ''Núi Đôi'' trong đống bản thảo của Vũ Cao và tự ý đem in trên báo. Bài thơ ''Núi Đôi'' chính thức ra mắt bạn đọc từ đó. Theo ông "Mọi tác phẩm văn học nghệ thuật là nhứng đứa con tinh thần của tác giả, đã là con mình thì mình đều yêu thương nó. Người đời có câu: "văn mình - vợ người" là thế. Không mấy người tự đánh giá chính xác được giá trị của từng đứa con do mình đẻ ra. Tôi nhớ đến nhạc sỹ Văn Cao, ông có một câu trả lời rất hay: "…tôi có nhiều con, đứa sống có, đứa chết có, đứa con này của tôi đã gần 40 tuổi, nó đã làm nên giá trị của nó, nó đã thành người. Làm sao tôi có thể phủ định nó…". Nhạc sỹ Văn Cao nói câu này trước một nhà lãnh đạo cao cấp trong một trường hợp khi người ta định thay một bài hát nổi tiếng của ông…
Sau khi bài thơ ''Núi Đôi'' ra đời, Vũ Cao nhận được rất nhiều thư khen của độc giả, đặc biệt là những người lính. Hầu như tất cả những người yêu thơ đều có bài thơ này của Vũ Cao trong sổ tay thơ của mình. Đó là phần thưởng cao nhất đối với nhà thơ. Đặc biệt có một lần, Vũ Cao nhận được một bức thư của một giáo viên dạy văn học ở Đà Nẵng dưới thời ngụy quyền Sài Gòn gửi ra cảm ơn tác giả vì "bài thơ ''Núi Đôi'' chứng tỏ cho nhân dân miền Nam thấy văn nghệ miền Bắc có tính nhân văn…".
Nhà thơ Phạm Tiến Duật trong một lần sang đất Mỹ có đem về một tập thơ, tập hợp các bài thơ viết trong sổ tay, trong ba lô của những người lính (bộ đôi Việt Nam) ở chiến trường mà họ nhặt được. Nhiều bài thơ chép tay không có tên, trong đó có bài thơ của Vũ Cao được dịch là: thơ Núi Đôi. Bản dịch tuy có nhều sai sót nhưng nó khiến cho tác giả cảm động đến ngỡ ngàng khi ông nhận được 10 USD tiền nhuận bút do Phạm Tiến Duật cầm về. Ông cười sảng khoái, ánh mắt hóm hỉnh:
- Đây có lẽ là số tiền nhuận bút có ý nghĩa nhất trong đời tôi!
Hơn 20 năm sau Vũ Cao mới có điều kiện trở lại Núi Đôi trong một lần Huyện ủy Sóc Sơn tổ chức hội nghị giáo viên dạy giỏi trong huyện mời ông về dự. Vũ Cao được đón tiếp long trọng trong không khí vui vẻ và đầm ấm. Một giáo viên nữ lên đọc bài thơ ''Núi Đôi'' của Vũ Cao khiến ông bất ngờ. Ông đã từng nghe nhiều người đọc thơ của mình nhưng chưa có ai đọc thơ hay và tình cảm như cô giáo này, mặc dù có nhiều câu sai. Sau này Vũ Cao mới biết cô giáo này chính là giáo viên tiểu học người Phù Linh.
Khi gặp cô gái, Vũ Cao bảo:
- Cô đọc thơ rất hay nhưng có năm chữ sai (mặt cô gái tái đi), tôi nói thế thì nói chứ không có ý phê bình cô đâu.
- Chú ạ! Cho đến hôm nay, cháu cũng chưa hề thấy bài thơ của chú, mặc dù cháu đã được nhiều giải thưởng về đọc thơ. Cháu học truyền khẩu.
Vũ Cao bật cười vui vẻ, nói:
- Cô cứ đọc như thế, đừng sửa. Sai mà hay là được!
Bí thư Huyện ủy Sóc Sơn chỉ cho tôi xem tấm bản đồ của huyện, trên đó có ghi tên Núi Đôi. Trước kia địa danh này không có trên bản đồ.
- Nhân dân Núi Đôi cảm ơn anh. Anh là người đã đóng đinh Núi Đôi lên bản đồ của chúng tôi.
Vũ Cao cười sảng khoái, đôi mắt ông sáng lên lấp lánh:
- Thế đấy!
Kỳ Sơn, tháng 12/2014
  • Nguyễn Tiến Dũng

Thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2015

"Ông già xóm núi" và những vần thơ "thế chấp" cho đời


Đối với tôi, cha là "tài sản" quý giá nhất trên đời; là niềm tự hào, kiêu hãnh của tôi, dù cha không phải là người giàu có, không có chức quyền...

Tôi là cô con gái đi lấy chồng không mang theo của hồi môn với đúng nghĩa đen của từ này. Ngày tôi vu quy, cha tôi (tác giả Lê Triển) không có cho tôi mảnh đất, căn nhà hay chiếc xe đời mới... như mọi cô gái thời nay; cũng chẳng lồng chiếc nhẫn nạm kim cương vào ngón tay tôi. Tôi đã bước lên xe hoa với hai bàn tay trắng mà cha mẹ sinh ra: "Hạnh đắc sơ sinh song bạch thủ" (Sơ sinh may được hai bàn tay sạch sẽ). Tôi tự hào là người con gái đi lấy chồng với trái tim mình làm của hồi môn. Và trái tim vô giá ấy - cha tôi đã cho tôi:
Ngọc tàng tâm khảm phi danh lợi
Kim tích hung trung thị nghĩa nhân.
(Cái vẫn cất tận trong tim như ngọc quý mà không phải là danh lợi
Chứa đầy đầu óc hơn vàng chỉ là nghĩa nhân).
(bài "Tứ thời xuân")
Đối với tôi, cha là "tài sản" quý giá nhất trên đời; là niềm tự hào, kiêu hãnh của tôi, dù cha không phải là người giàu có, không có chức quyền... "Dã hoa sơn thảo diệc thần tiên" (Hoa đồng, cỏ nội vẫn thần tiên - "Thụy liên khai"). Cha nói với tôi về nguyện vọng đặt tên cho tập thơ chữ Hán thứ hai của mình (tập "Thụy liên khai", NXB Văn học ấn hành năm 2003): "Thụy Liên khai ý muốn nói cái dân dã của lời thơ và con người bố vậy". Như loài hoa bình dị của ao nhà mà vẫn mang lại cho đời hương sắc, "ông già xóm núi" làm bạn với ông chài ven sông và trẻ mục đồng ấy lại chính là tác giả của hàng trăm bài thơ nguyên tác chữ Hán được dịch bằng một phong cách khoáng đạt, tài hoa chất chứa vẻ đẹp của "lòng trai mang ngọc sáng", làm nên một cảm hứng thẩm mỹ đậm chất Nho gia: cảm hứng về đạo lý - những vần thơ mang trong mình những viên thuốc chữa căn bệnh băng hoại nhân tâm. Và với những người dân xóm núi quê tôi, hình ảnh ông già tóc râu như cước ấy thực sự là hình ảnh của một ông tiên phúc hậu với phép mầu kỳ diệu trong cái "túi khôn" cổ truyền phương Đông "Lý, Số, Nho, Y thông thạo đủ" và nhất là y đức "cứu người làm trọng" đã đem lại nụ cười trên bao khuôn mặt khổ đau, đem lại sự hồi sinh cho những cuộc đời tưởng chừng như đã cạn kiệt...
Càng lớn, tôi càng ít rơi lệ dễ dàng trước cảnh ngộ của những mối tình lâm ly bi đát kiểu Romêo và Juliét hay phim Hàn Quốc, song tôi đã nhiều lần không thể ngăn được những giọt nước mắt ngậm ngùi tự nhiên rơi trên những dòng thơ của cha tôi viết về các loài hoa: sen, súng, cúc, mai, quỳnh, thiết mộc lan...:
Hoa dư bách chủng hà vi quýQuân tử lưu danh bất nhiễm nê
(Hoa hàng trăm loài hỏi hoa nào quý?
Chính là hoa sen được lưu danh muôn thuở vì không hề vấy bùn)
(bài "Liên trì")
Tài bồi lân ngã tâm như thiếtThưởng ngoạn đa nhân ý bất bìnhHốt nhất chiêu lai thiên bất phụ Vãn khai hương sắc mãn lan đình
(Chăm bón nghĩ thương mình bền gan sắt
Ngắm trông họ bảo thật tức mìnhBỗng một sớm mai... trời không nỡ phụ lòngTuy nở có muộn nhưng hương sắc vẫn ngát thơm).
(bài "Vãn thì khai").
Tôi đã khóc một mình trong đêm khuya lặng lẽ, trước những vần thơ cha tôi khóc Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Lý Bạch, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến... mà ở đâu tôi cũng thấy tâm sự và hình bóng cha mình. Âu cũng là một sự "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu"...
Có lẽ là theo những nẻo đường tiền định khác nhau mà cha tôi - một người thông minh, ham học... đã không trở thành nhà khoa học, thành giáo sư nhưng ông không phí hoài cái tài năng, tâm huyết yêu đời, yêu người ấy. Không tự thỏa mãn với kiến thức học đường, ông tự mày mò, nghiên cứu, tự nâng mình lên trong muôn vàn khó khăn của đời thường trói buộc.
Đọc thơ của cha tôi, tôi có cảm giác như bước vào một thế giới linh thiêng, cổ kính, không có thực ở cõi đời này; gặp lại những bóng dáng cổ nhân, những đấng trượng phu, quân tử từ Trung Hoa đến Việt Nam. Lại cũng thấy chính ở đây những con người, cảnh sắc mang hơi thở của thời đại, cuộc sống hôm nay với tất cả những sự kiện lịch sử, chính trị, xã hội lớn lao và những biến động li ti trong cuộc sống sinh hoạt, tâm tư, tình cảm thường ngày. Ở đó, có không khí rộn ràng của "Lục lộ chiến công", "Điện Biên" với "Điệu múa lời ca cô gái Thái" và có cả âm vang của những sự kiện quốc tế chấn động địa cầu, bóp nghẹt trái tim lão trượng - ẩn sĩ và đạo sĩ giữa đời nay: Liên Xô tan rã, tượng Lênin bị phá (Hoa viên đối tượng ngôn); nghe tin Taliban ở Afghanistan phá tượng Phật (Văn đạo hủy sơn thạch tượng cộng chư Phật tượng cảm tác).
Toát lên từ thế giới nghệ thuật thơ của cha tôi là một cái nhìn thi vị, tinh tế từ một trái tim giàu rung động và óc tưởng tượng phong phú đến lạ kỳ. Ở một nơi xa lắc xa lơ mà nghe, mà cảm thấu được:
Tiếng chuông ban mai vọng từ cửa chùa Yên TửNhư tràn vào lòng người cái từ bi tế độ Đến tận khoảng vũ trụ xanh xanh vô cùng tận Và cả chốn trần ai sắc sắc không không này.
(bài "Yên Tử chung" - Bản dịch nghĩa)
Qua hình thức biểu đạt là một ngôn ngữ giản dị chân chất mà biến hóa linh diệu, chọn lọc đến tự nhiên một cách hoàn mỹ, những chi tiết rất đời thường, rất thực bỗng trở thành lãng mạn, nên thơ trong sự đa thanh, đa nghĩa lung linh của hình tượng:
Sơ hiểu phanh trà thì đối ẩmBán tiêu túy chẩm nguyệt đồng miên
(Sớm dậy đun nước pha trà, thơ đã ngồi đối diện
Nửa đêm say gối đầu ngủ, trăng đã cùng nằm).
(bài "Nhất ngâm thuyền" - bản dịch nghĩa)
Những bài tứ tuyệt cuối cùng như kết tinh của hổ phách phục linh, hàm súc, dư ba với những hình ảnh, tứ thơ đẹp đến mức độ cổ điển: Cúc sương; Cúc vịnh, Tùng bồn, Họa trúc, Song mai, Cửu bệnh thoại quỳnh... Chẳng biết có phải là ngẫu nhiên không, mà tất cả đều là sự ký thác, hóa thân vào các loài hoa "tài tử giai nhân" của muôn đời thi sĩ, vào thiên nhiên tinh khiết bao la, mầu nhiệm:
Bạch ngọc huyền chi tạc dạ maiXuân hương phảng phất đáo thư traiĐê đầu dục học cổ nhân bái Cốt cách tương phùng... tiếu ngã khai
(Cành mai treo ngọc trắng đêm qua
Phảng phất hương xuân viện sách nhà Toan học người xưa cúi đầu lạyCười (cùng cốt cách) nở chào ta!)
(bài "Song mai" - bản dịch thơ)
Song thu đêm đã điểm cảnh baTrăng sáng màu sương, quỳnh trắng hoaỐm mãi! Lấy ai người thưởng ngoạnChờ nhau! Đến sáng... héo vì ta!
(bài "Nói với hoa quỳnh khi ốm" - bản dịch thơ)
Cũng như Phan Ngọc, Phan Văn Các, Bùi Văn Nguyên, Lại Cao Nguyện, Lê Xuân Hòa, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Khắc Phi..., cha tôi thuộc lớp người có thể coi là chứng tích về sự giao lưu văn hóa Việt - Hoa của thế kỷ XX này - lớp người có thể không chỉ viết, đọc, nói, mà còn tư duy, cảm thụ bằng chữ Hán và tư tưởng văn hiến nghìn xưa.
Ở nước ta, nền khoa cử học vấn chữ Hán đã suy thoái từ những năm cuối thế kỷ XIX, song dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục được bồi đắp những yếu tố văn hóa ngoại sinh, đặc biệt là văn hóa Trung Hoa cổ truyền ở phần tích cực, tiến bộ của nó, qua thế hệ những học giả là cầu nối giữa hai thế kỷ và hai giai đoạn văn hóa trên.
Và một ngày nào đó, không thể nào khác được, những con người tàng chứa trong mình những trầm tích văn hóa ấy cũng sẽ phôi pha theo thời gian, sẽ rơi vào quên lãng, như những di chỉ văn tự treo trên đá Lũng Cú - Hà Giang, Sapa... của ông cha mà nay không còn ai đọc được.
Sự mất mát về văn hóa là sự mất mát không gì bù đắp nổi.
Góp nhặt những vần thơ được chắt ra từ trái tim nhức nhối của cha mình, tôi biết rõ là mình đang làm đúng bổn phận của người con đối với cha, và hơn thế, là trách nhiệm của thế hệ hôm nay với thế hệ hôm qua và cả mai sau.
Với "Lệ chi thục" (NXB Văn học, 2000) và "Thụy liên khai" (NXB Văn học, 2003), có thể cha tôi sẽ không phải là một cây bút tiếng tăm trong làng văn học Việt Nam đương đại, cũng như lúc sinh thời cha tôi chưa bao giờ dạy tôi một cách cụ thể: phải sống như thế này, ứng xử thế kia... song tôi hiểu được cha tôi đã tâm nguyện điều gì, và tôi phải sống như thế nào... sau những vần thơ ấy.
Tôi hiểu rằng cha tôi đã để lại cho tôi một tài sản quý giá nhất của đời người:
"Sống trong đời sống cần có một tấm lòngĐể gió cuốn đi".
(Để gió cuốn đi - Trịnh Công Sơn)
Rồi gió sẽ cuốn đi tất cả: những âu lo, phiền muộn của đời người, cũng như chính xác thân người cùng nhiều bụi bặm trần gian. Song tôi hiểu rằng cha sẽ không bao giờ rời bỏ tôi, cha luôn ở bên tôi, trong cuộc đời này. Tôi sẽ luôn gặp người trong những vần thơ:
Nguyệt minh tửu mỹ, thi như nguyệtLưu chước trần gian lẫn hóa công"
(Trăng sáng, rượu ngon - lời thơ sáng như ánh trăng rằm
Lưu để lại cho trần gian lẫn hóa công).
Có (bài “Trung thu ngôn hoài”) thể vì trai không vĩnh hằng cùng biển cả nên trai nuôi trong mình hạt minh châu. Có thể vì hoa không nở mãi với đời nên hoa mang trong mình một chút hương.
Tôi tìm cách an ủi cho nỗi đớn đau quá sức chịu đựng con người của mình trong những lời minh triết của Trịnh Công Sơn:
"Tất cả mọi điều sẽ qua đi, sẽ biến mất, nhưng tiếng hát, câu thơ một khi đã được khai sinh với ngày thôi nôi huy hoàng của nó thì sẽ ở lại với đời mãi mãi. Đó là một cuộc rong chơi ngậm ngùi của hữu hạn muốn chộp bắt cái vô hạn làm món quà thế chấp cho đời mình"
Lê Thị Tuyết Hạnh
Bình luận (0)

Thứ Hai, ngày 26 tháng 1 năm 2015

Cây đại thụ của rừng văn


Giáo sư - Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai, một trong những người có công khai mở nền giáo dục Việt Nam hiện đại, người thầy đáng kính của nhiều thế hệ học trò. Ông còn là một nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, tác giả của vở kịch nổi tiếng "Tiếng trống Hà Hồi", tập thơ "Trao cho nhau cuộc đời" và một số công trình văn hoá, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất.

Một năm sau ngày ông mất, ngày 22/11, các trường: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Sài Gòn, Đại học Văn Hiến và Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP HCM đã đồng tổ chức một buổi tưởng niệm ông có tên gọi "Hội thảo Cuộc đời và sự nghiệp Giáo sư -Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai". Nhiều tham luận của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu văn học đã dành những từ ngữ trân trọng nhất để nói về ông. Hầu hết các tác giả tham luận đều từng là học trò của ông qua các thời kỳ. Tất cả đều xem ông như một người thầy lớn của nhiều thế hệ.
Tuổi trẻ dấn thân sôi động
Giáo sư - Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai, một trong những người có công khai mở nền giáo dục Việt Nam hiện đại, người thầy đáng kính của nhiều thế hệ học trò. Ông còn là một nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, tác giả của vở kịch nổi tiếng "Tiếng trống Hà Hồi", tập thơ "Trao cho nhau cuộc đời" và một số công trình văn hoá, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất.
Hoàng Như Mai sinh ngày 26/9/1919, quê quán ở Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, trong một gia đình quan lại. Khi Hoàng Như Mai mới vài tuổi đầu thì cha lâm bệnh mất, cậu bé phải sống trong vòng tay thương yêu của người mẹ góa bụa.
Sau khi đỗ tú tài triết Trường Bưởi, ông vào Đại học Y. Nhưng vì thích làm chính trị nên một năm sau ông bỏ trường y sang học trường luật. Học trường luật ba năm, đến kỳ thi cuối cùng, ông lại bỏ trường cùng bạn bè lên Quảng Ninh đi thực tế tìm hiểu đời sống công nhân mỏ. Bị giới chủ mỏ than nghi ngờ theo dõi, ông trở về Hà Nội xin vàoViễn Đông bác cổ và Thư viện Quốc gia đọc sách, tích luỹ kiến thức.
Quá say mê đọc sách, quên ăn quên uống, ông bị suy kiệt ngã bệnh, được gia đình đưa về đồn điền cao su của người anh ruột ở Hải Dương điều dưỡng. Hết bệnh, ông được bạn bè rủ đi dạy học ở Trường trung học tư thục tỉnh Hải Dương. Tại trường này, ông tham gia Hội Truyền bá quốc ngữ và tổ chức yêu nước Thanh niên Phan Anh. Đầu năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, trường bị giải tán, ông về Hà Nội rồi hoà vào khí thế Cách mạng Tháng Tám. Ông chuyển sang làm báo và hoạt động văn nghệ, viết sách "vỡ lòng" về kinh tế Mác-xít.
Thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, vợ chồng ông tham gia Đoàn kịch Độc Lập do Sĩ Tiến đứng đầu lên đường Nam tiến cùng với nhiều nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo để tuyên truyền chống Pháp. Theo đường tàu hoả, đến Huế đoàn kịch dừng lại biểu diễn. Lúc sắp ra mắt đồng bào cố đô, bỗng có tin "Việt gian" Đào Mộng Long bị bắt. Không có kép chính Đào Mộng Long thì đoàn kịch không thể diễn, trong khi đã quảng cáo rầm rộ, cần thu tiền vé để có kinh phí tự túc hoạt động. Đang chạy đôn chạy đáo lo công việc giao dịch, Hoàng Như Mai buộc phải về vào thử vai diễn của Đào Mộng Long, dù ông chưa một lần lên sân khấu...
Giáo sư Hoàng Như Mai.
Nghệ sĩ Đào Mộng Long bị bắt đưa vào Đà Nẵng thì được minh oan là bắt lầm, liền vội trở ra Huế ngay lúc vở kịch đang diễn. Họ Đào lấy vé lặng lẽ vào rạp ngồi bên dưới xem. Vở diễn kết thúc, Đào Mộng Long đến vỗ vai Hoàng Như Mai: "Ông đóng hơn mình đấy. Ông đô con, giọng ông lớn, sang sảng, đóng hợp hơn mình". Và họ Đào đề nghị họ Hoàng tiếp tục thủ diễn vai đó còn mình nhận vai khác. Vậy là từ một tình thế bất đắc dĩ, Hoàng Như Mai trở thành diễn viên kịch trên đường Nam tiến.
Cũng chính trên hành trình vào Nam, Hoàng Như Mai bắt đầu soạn nhiều vở kịch thấm đẫm tình yêu nước như "Sát thát", "Người tù binh",… và đặc biệt là "Tiếng trống Hà Hồi" vang lừng, mượn đề tài Quang Trung đại phá quân Thanh để kích thích lòng yêu nước của quân, dân ta. Vở kịch này đã được công diễn từ Bắc chí Nam, mà trong công trình "Miền Nam giữ vững thành đồng" của GS. Trần Văn Giàu và giáo trình "Lịch sử văn học" do GS. Huỳnh Lý biên soạn đã ghi nhận sự tác động tích cực của nó trong hai cuộc kháng chiến.
Được mượn làm… hiệu trưởng và trở thành nhà giáo dục hàng đầu
Sau khi Đoàn kịch Độc Lập trải qua Huế, Đà Nẵng, Hội An,… đến biểu diễn ở Phú Yên thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đoàn kịch chia làm hai đội ở đây một thời gian rồi vượt Trường Sơn trở ra Bắc. Hoàng Như Mai về công tác văn nghệ ở quê vợ Hưng Yên. Tại Đại hội thành lập Hội Văn hoá kháng chiến tỉnh Hưng Yên tổ chức ở đình làng Đọ, Hoàng Như Mai được bầu làm tổng thư ký (họa sĩ Lương Xuân Nhị làm hội trưởng, nhà thơ Vũ Đình Liên làm hội phó). Năm 1949, Hưng Yên bị quân Pháp chiếm. Hoàng Như Mai cùng các văn nghệ sĩ chuyển sang Thái Bình tiếp tục hoạt động văn hoá cứu quốc.
Năm 1948, Tỉnh bộ Việt Minh Thái Bình có quyết định thành lập Trường trung học chuyên khoa Phan Thanh (tên của một nhà hoạt động xã hội, giáo dục yêu nước nổi tiếng thời kỳ Mặt trận Bình dân). Trường quy tụ nhiều nhà giáo, học giả, văn nghệ sĩ có uy tín về giảng dạy như: Nguyễn Tường Phượng, Hoàng Công Khanh, Lương Ngọc Khuê, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Lê Đại Thanh, Tạ Tuyên,… Theo hồi ức của GS. Hoàng Như Mai: "Khi mở một trường trung học chuyên khoa mà các giáo sư hầu hết là các nhà văn hoá, văn nghệ có danh tiếng nên ban sáng lập muốn tìm một người làm văn hoá, văn nghệ để có thể hoà hợp được với các giáo sư; đồng thời lại là người đã có quá trình dạy học làm hiệu trưởng. Ban sáng lập đã chọn tôi, vì tôi là người có tạm đủ hai tư cách ấy, và nói với tôi rằng trong lúc đầu chưa tìm được ai thích hợp nên mượn tôi tạm chuyển từ ngành văn hoá sang ngành giáo dục một thời gian. Tôi bằng lòng và không ngờ cái sự "tạm mượn" ấy khiến tôi trở thành cán bộ giáo dục cho đến nay, suốt cả đời người".
Từ thời điểm được "tạm mượn" ấy cho tới khi GS Hoàng Như Mai mãi mãi ra đi vào ngày 27/9/2013 là 65 năm, ông trải qua nhiều môi trường giáo dục khác nhau, từ trung học lên đại học, từ Bắc chí Nam, từ trong nước đến ngoài nước. Ở đâu ông cũng cống hiến hết mình, góp phần đào tạo nên nhiều thế hệ nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo,… Ông còn là trung tâm đoàn kết các thành phần khác nhau, như nhận định của một người học trò thân thiết là GS. TS Huỳnh Như Phương: "Ngay cả khi đã về hưu, thầy vẫn là điểm tựa, là tâm điểm thu hút mọi người, vượt qua những cách biệt về nguồn đào tạo, về quan điểm học thuật, cùng ngồi lại bên nhau vì sự nghiệp ngữ văn. Khi mới vận động thành lập Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học, thầy đích thân đến mời Giáo sư Thanh Lãng tham gia ban chấp hành. Thầy giữ mối thâm tình tri kỷ với Giáo sư Giản Chi, ni sư Huỳnh Liên, nhà văn Võ Hồng, nhà báo Thượng Sỹ… Thầy quan tâm đến gia đình các nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng".
GS-TS Huỳnh Như Phương là một nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học đã từng giữ trọng trách Trưởng khoa Văn Trường Đại học tổng hợp TP Hồ Chí Minh, nơi cây đại thụ Hoàng Như Mai gắn bó với công tác giảng dạy cho đến ngày ra  đi. Trong bài viết "Đưa tiễn thầy Hoàng Như Mai" chia sẻ tại hội thảo, GS Huỳnh Như Phương khẳng định: "Thầy Mai "là người nhập thế", "những ai ở gần thầy đều luôn có cảm giác được xốc dậy về tinh thần". Ngoài công việc giảng dạy, GS Hoàng Như Mai còn sáng tác thơ, nghiên cứu văn học nghệ thuật, cho ra đời nhiều công trình có giá trị như "Trần Hữu Trang - soạn giả cải lương", "Thơ một thời", "Trí thức và nghệ sĩ", "Hồi ức và suy nghĩ về văn hóa - giáo dục", "Chân dung và tác phẩm"… Sinh thời, ông dành gần như trọn vẹn cuộc đời cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn chương. Có một thời gian dài, sau khi đã nghỉ hưu, ông vẫn đảm trách vai trò Chủ tịch Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP HCM. Sau khi Giáo sư -Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai mất, theo tâm nguyện của ông, gia đình ông đã trao tặng tủ sách với 2.200 đầu sách của ông và gói học bổng trị giá 100 triệu đồng cho Trường Đại học Văn Hiến. Còn sống hay đã khuất, tấm lòng người thầy lớn ấy vẫn đau đáu dành cho những thế hệ tương lai.
Không chỉ có nhiều đóng góp cho văn hoá, giáo dục mà GS Hoàng Như Mai còn trở thành một nhân chứng sống quý báu của lịch sử dân tộc đầy thăng trầm gần suốt một thế kỷ qua. Bức tranh chân dung về ông có thể nói cũng là hình ảnh tiêu biểu của cả một thế hệ từ những ngày đầu lập quốc, xuất thân từ nhiều hoàn cảnh khác nhau, đã hoà nhập vào dòng thác cách mạng, đem hết tài năng và tâm huyết của mình phục vụ một cách vô tư và nhiệt thành cho Tổ quốc. Thế hệ ấy đã lần lượt về cõi vĩnh hằng, mà đối với riêng ngành văn học, Hoàng Như Mai là bậc cao niên cuối cùng, như lời thơ da diết ông để lại:
Từ độ nặng mang tình đất nước
miệt mài theo đuổi cuộc trường chinh
đường ngang ngõ tắt người lên trước
tụt lại đằng sau có một mình.
  • Phan Tấn Hùng

Chủ Nhật, ngày 18 tháng 1 năm 2015

Nhà thơ Hữu Loan luận chữ làm câu đối


Ngày giáp Tết Mậu Tý 2008, nhân về quê, tôi quyết định đến thăm nhà thơ Hữu Loan. Tôi đến, ông và bà Nhu - vợ ông - rất mừng, đón tiếp nồng hậu, ân tình. Tôi nói đùa: "Bác khôn thế, toàn lấy được vợ trẻ và con nhà giàu sang". Ông chỉ cười: "Đấy là cái duyên trời định, nào có chủ tâm!".

Quả thật, hai người phụ nữ gắn bó với đời ông đều là hai cô gái trẻ đẹp, con nhà giàu có. Người vợ đầu, bà Lê Đỗ Thị Ninh kém ông 14 tuổi, yêu ông lúc chớm độ trăng tròn. Tuần Lễ Vàng được phát động năm 1945, gia đình bà có nhiều người hưởng ứng. Chính nhờ sự kiện đó mới tạo cơ duyên cho cô gái trẻ khuê các Lê Đỗ Thị Ninh diện kiến ông tú hào hoa Nguyễn Hữu Loan. Bàn tay thanh tú nâng niu chiếc xuyến vàng mấy đồng cân hiến trao cho chính quyền cách mạng buổi ấy đã lọt mắt xanh kẻ sĩ đa tình, giống như sợi tơ hồng buộc họ lại với nhau.
Cái bi tráng trong "Màu tím hoa sim" trên vai áo người chiến sĩ vệ quốc đoàn càng tăng thêm sức hút của ông trước người đời, trước phái đẹp, trở thành đường vân ngõ hạnh cho ông đến với người vợ mới sau đó mấy năm. Khi về làm vợ ông, bà Nhu mới 19 tuổi.
Hai người phụ nữ gắn với đời ông là hai số phận, hai hình ảnh tương phản. Một người  khuê các, kiêu sa, thoắt đến rồi thoắt đi, như nàng tiên trong áng mây chiều, hiện vào thi ca, trở thành chân dung của bức hoành phi nghệ thuật để đời. Nhờ "Màu tím hoa sim", người đọc biết về bà, xót thương mệnh bạc của một kiếp hồng nhan có thật. Một người thì hiện thực, mộc mạc, lâu bền, lam lũ vì chồng con, trọn nghĩa phu thê, mẫu tử. Hai người vợ, một ngoài đời, một trong thơ, tựa nhau tồn tại và giữ ông trụ vững giữa đời nhiều bão táp.
Biết ông đang vui, cũng biết ông thích câu đối, tôi đọc hai câu tặng ông.
Câu I: 
Mây ngắm Hoàn Vân, nghiêng bóng núi dặm đường chiến sĩGió đùa Ô Lỗi, rộn hương đời trang chữ thi nhân.
Cố nhà thơ Hữu Loan và tác giả bài viết.
Câu II:
Đất lạnh nghìn trùng, vẩy ngọn bút tím lòng nhân thếTrời thiêng một với, ôm mây mưa tàn cánh phù dung.
Ông nghe chăm chú và chậm rãi nói: "Về mặt bút pháp, niêm, luật, ý tứ của câu đối như vậy là được. Chỉ có điều anh ca ngợi tôi ghê quá".
Sau một vài phút hỏi thăm gia đình, ông thong thả: "Câu một thì ổn, nhưng câu hai thì chữ "tím" ở vế thứ nhất có thể nhiều người sẽ hiểu khác. Tôi biết anh dùng chữ tím là chỉ màu tím, viollette, liên quan đến màu hoa sim trong bài "Màu tím hoa sim". Nhưng đây là câu đối, nó đứng biệt lập, vì vậy sự liên tưởng đến màu của hoa sim là không nhiều.  Chữ tím ấy sẽ được hiểu là thâm tím, bầm tím, tím tái. Nghĩa nghịch của nó nhiều hơn cái nghĩa thuận xuất phát từ ý thơ: "Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết... / màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt" mà anh đang muốn dùng".
Tôi giật mình, không ngờ ông minh mẫn đến thế, nghe có một lượt mà đã phát hiện ra cái lỗi cần sửa. Tôi ngỏ ý muốn nhờ ông sửa giúp, ông im lặng. Tôi thưa: "Nên chăng thay chữ "tím" bằng chữ "thắm" có được không?". Ông trả lời: "Chữ "thắm" cũng được nhưng nhạt nghĩa, không tương xứng với mệnh đề "đất lạnh nghìn trùng" đứng  trước,  có thể chữ "thấm" hay hơn". Tôi quyết định dùng chữ "thấm" mà ông gợi ý. Bà Nhu, vợ ông ngồi bên cũng tán đồng.
Câu đối II được sửa lại là:
Đất lạnh nghìn trùng, vẩy ngọn bút thấm lòng nhân thếTrời thiêng một với, ôm mây mưa tàn cánh phù dung.
Ông đồng ý để tôi viết tay hai đôi câu đối vào trang đầu của cuốn kỷ yếu dày cộp, dễ tìm khi cần. Dù sao, đây cũng là chút kỷ niệm chữ nghĩa tôi dành tặng ông và được ông chấp nhận.
Cha tôi kể lại, khoảng đầu những năm 40 của thế kỷ trước, nhà thơ Hữu Loan đã đỗ tú tài, đang đi dạy học và hoạt động cách mạng. Một hôm, một số bạn giáo học đến nhà chơi với cha tôi và đàm đạo văn chương. Trong đó có cả cụ giáo Phan Cự Triệt, người thầy được nhiều thế hệ học trò Nga Sơn - Thanh Hóa nể phục về nhân cách và kiến thức. Cụ giáo Phan Cự Triệt chính là thân phụ của giáo sư văn học Phan Cự Đệ sau này.
Nhân bàn về vấn đề Phật giáo đang đứng trước nhiều thách thức và nhạy cảm thời đó, mấy người đàm luận về các nhân vật trong "Tây Du Ký". Trong bốn thầy trò đi Tây Trúc thì Trư Bát Giới được coi là hồn nhiên, bản năng nhất, không thiết kinh kệ, Niết Bàn gì hết, phải đi vì mắc tội hám gái, trêu chọc Hằng Nga. Bát Giới lúc nào cũng chỉ mong "giải tán đội hình" để được về nhà ngủ khì, cơm no, rượu say bên mẹ đĩ, rất đời thường. Nhưng vì thương Sa Tăng vất vả, lại sợ gậy sắt của lão Tôn hết vía nên không dám "đảo ngũ". Trong con mắt của Thiên Bồng Nguyên Soái thì sư phụ Đường Tăng chỉ là lão hòa thượng đầu trần mắt thịt, không phân biệt nổi trắng đen, phải trái, người quỷ lẫn lộn, chỉ sợ đàn bà và đọc thần chú là nhanh. Trư Nhị đệ kính nể Tôn huynh, nhưng cũng ghét lão Bật Mã Ôn bất lực, quá ngoan ngoãn qui thuận  trước các thế lực thần quyền. Thần thông quảng đại là vậy, nhưng xét chung vẫn là kẻ chiến bại.
Lấy Trư Bát Giới làm trung tâm, mỗi người đưa ra một câu đối về các nhân vật trong truyện. Cấu đối đưa ra thì nhiều. Nhưng có hai câu mà cha tôi không quên. Một câu dành cho Đường Tăng, muốn lột tả cái bản chất thụ động và luôn được chở che của Đường Tam Tạng:
Tích trượng chín vòng, lưng ngựa rung rinh nhờ bóng Phật.
Cà sa một mảnh, mắt trần hấp háy đón chân kinh.
Câu thứ hai là câu đối của Hữu Loan dành cho Tôn Ngộ Không:
Kiếp nạn tám mốt tròng, muôn trận hùng thiêng tay thiết bổngThần thông bảy hai phép, nửa đời nghiệt khuất bóng kim cô.
Mọi người ai cũng khen hay nhưng hơi sái, cho rằng câu đối cứ như vận vào cậu tú trẻ tuổi vậy.
Gần đây, tôi lại được anh Nguyễn Tử Tân (bạn học của anh trai cả tôi) đọc cho nghe câu đối của Hữu Loan khóc bà mẹ vợ đầu khi bà qui tiên cách đây hơn 60 năm:
Rể không đền, gái ngắn phận sao đền, ơn cứu ơn mang, ơn đoán giữa một tương lai nhân cách.
Sống khó gặp, chết vì sao không gặp, khóc nguồn khóc núi, khóc ai cùng đương đại loạn thiên lương.
Thống thiết đến thế là cùng. Đôi hàng chữ - hai dòng lệ - vọng âm thanh của tiếng khóc tức tưởi bị dồn nén lâu ngày, đang vật vã trước linh cữu nhạc mẫu vừa quy tiên. Đúng là một phong cách Hữu Loan, không lẫn với ai.
Trong trí nhớ của tôi, đó là một chiều cuối năm rét cắt thịt, thấu xương. Ông ngồi trên chiếc ghế tựa, đôi mắt mở to, sáng quắc tựa pha lê, mái đầu trắng như bông. Trước mặt là Vân Hoàn Sơn bốn mùa mây trắng, đang ngập chìm trong màn sương phủ trước cánh cửa vào xuân. 
Nhìn ông, nhìn núi, tôi liên tưởng đến các bậc hàn sĩ cổ xưa ẩn mình nơi thâm sơn cùng cốc với dáng Long ngoạ - Phượng sồ kỳ thú, truyền tụng bao đời.
Không ngờ đây là lần gặp cuối cùng
  • Trần Cao Sơn