Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Ba, ngày 02 tháng 9 năm 2014

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín

Tránh xa những khói bụi, xô bồ của thị thành đến với Bắc Sơn bạn sẽ được thả hồn trong khung cảnh nên thơ, êm đềm với những thung lũng mờ sương, những cánh đồng lúa sặc sỡ sắc vàng.
 
Bắc Sơn là một thị trấn thuộc tỉnh Lạng Sơn, nằm gọn trong thung lũng và được bao quanh bởi những ngọn núi tiếp nối nhau, trùng trùng mờ sương tạo nên một khung cảnh lung linh, huyền ảo.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


Khi đến Mù Cang Chải, bạn sẽ cảm nhận được một điều vô cùng ấn tượng của nơi đây. Với khí hậu trong lành, mát dịu xen lẫn với sự hoang sơ của núi rừng, lung linh, rực rỡ của lúa đang vào mùa chín rộ.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


Thung lũng lúa Bắc Sơn rộng lớn với khung cảnh non nước hữu tình mỗi sớm bình minh. Thị trấn nhỏ xinh này nằm trọn trong lòng thung lũng, bao quanh là các núi đá vôi.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


Lúa được trồng thành nhiều vụ, bạn sẽ bắt gặp hình ảnh những ruộng đang cấy, những ruộng lúa đã vào mùa thu hoạch. Tất cả tạo nên một bức tranh sống động và hiền hòa. Quang cảnh cả thị trấn Bắc Sơn như bừng sáng rực rỡ mỗi sớm bình minh.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


 Lúa ở Bắc Sơn được trồng không cùng thời điểm nên có ruộng thu hoạch trước, ruộng thu hoạch sau tạo thành những mảng màu đặc sắc, sự đan xen sống động giữa màu xanh và màu vàng. Những cơn mưa mùa hạ khiến cho toàn bộ cánh đồng trong thung lũng trở nên mát dịu, trong trẻo.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


 Mây núi hòa quyện và khung cảnh mùa lúa vàng tạo nên một bức tranh đồng quê tuyệt đẹp.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


Muốn ngắm được toàn cảnh Bắc Sơn, bạn phải leo lên được đỉnh núi thật cao. Bạn sẽ có cảm giác thật yên bình và thư thái khi ngắm toàn bộ thung lũng Bắc Sơn trong ánh nắng sớm mai hay ráng chiều rực rỡ.
  • HT

Lời tiên tri đáng sợ về Thế chiến III và năm 2014

Mặc dù chiến tranh thế giới đã lùi xa gần 70 năm, nhân loại vẫn chưa thể lơ là cảnh giác với một trận thế chiến thứ 3 khi mà các nhà tiên tri nổi tiếng nhất đều đưa ra tiên đoán về một trận chiến thứ 3 rất khốc liệt

Lời tiên tri cách đây 5 thế kỷ
Nostradamus – người sống ở thế kỷ 16 được coi là nhà tiên tri nổi tiếng nhất thế giới. Ông từng tiên đoán trúng phóc nhiều sự việc trong đó có cả việc biết trước ngày chết của mình là 2/7/1566 và việc tàu con thoi của Mỹ bị nổ tung sau thời ông sống mấy thế kỷ.
Theo cuốn Thế giới kỳ bí của Nxb Thanh Hóa: “Ông sinh ra và lớn lên ở xứ sở rượu vang và từ nhỏ đã bộc lộ tài năng trời phú nhất là ở bộ môn toán học, thiên văn và chiêm tinh. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông trở thành một bác sĩ. Nhưng một trận dịch hạch đã cướp đi mạng sống của tất cả thành viên gia đình ông.
Chán nản, Nostradamus rời bỏ quê hương đi lang thang khắp nước Pháp và Italia. Mang tâm trạng u uất, ông đã đến với niềm đam mê mới trong ngành khoa học huyền bí.
Năm 1550, ông xuất bản cuốn sách tiên tri đầu tiên của mình. Sau đó ông tiếp tục sự nghiệp với hơn 1000 bài thơ tứ tuyệt mà sau này người ta gom lại thành một tập “Sấm ký”.
Lời tiên tri đáng sợ về Thế chiến III và năm 2014 - Ảnh 1

Nhà tiên tri Nostradamus.

Tuy nhiên, các bài thơ này được viết bằng nhiều thứ tiếng như: Hy Lạp, Latin, Do Thái và Ả Rập để tránh con mắt xăm soi của chính quyền đương thời. Nhiều lời tiên tri của Nostradamus đã được thực tế chứng minh là đúng. Ví dụ tiên tri cái chết của vua Henry đệ nhị và việc Napoleon bại trận ở Nga.
Tương truyền, một quý tộc đương thời muốn thử tài ông bằng cách chỉ cho ông hai con heo và hỏi tương lai của chúng. Nostradamus suy nghĩ một hồi lâu rồi nói: “Con heo lông xám trắng sẽ bị chó sói ăn còn con heo lông đen thì ngài và quan khách sẽ ăn thịt nó”.
Để làm sai lời đoán, nhà quý tộc ấy đã sai gia nhân giết heo trắng đãi khách. Nhưng sau khi đã giết heo, đầu bếp mải lo nấu các món khác, bất ngờ có một con chó sói lên tha con heo đã làm thịt. Người nhà la lên đánh đuổi sói nhưng nó đã kéo chạy mất buộc lòng phải làm luôn con heo lông đen”.
Một điều đặc biệt trong di sản tiên tri của Nostradamus là lời tiên đoán về thế chiến thứ 3 mặc dù không nói cụ thể thời gian. Ông nói rằng thế giới sẽ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ 3 kéo dài 30 năm. Lúc đó Pháp là quốc gia bị thiệt hại nặng nề. Trước đó là sự xích lại gần nhau của hai siêu cường Nga – Mỹ. Sau cuộc chiến tàn khốc đó, những ai còn sống sót sẽ được sống một thời gian dài thái bình an lạc. Nhà tiên tri này cũng dự đoán ngày tận thế là năm 3979. Trước đó, sa mạc Gobi sẽ biến thành biển.
Năm 2010 bắt đầu Thế chiến III
Sau Nostradamus 4 thế kỷ, bà Vanga người Bungary là một nhà tiên tri nổi tiếng thế giới. Bà sinh ngày 31/1/1911, mất ngày 11/8/1996. Suốt cuộc đời bà sống ẩn dật ở vùng làng quê hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary.
Khi 12 tuổi, bà Vanga bị mất đi thị lực sau khi bị cuốn bởi một cơn lốc lớn. Người ta tìm thấy bà trong tình trạng chỉ còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, hai hốc mắt chứa đầy cát. Vanga làm bạn với bóng tối từ đó.
Nhưng cũng từ đó bà bắt đầu phát triển năng lực tiên tri. Lần đầu tiên bà tiên tri là năm bà 16 tuổi để tìm lại bầy cừu bị mất trộm bằng cách mô tả chính xác về cái sân nơi bọn trộm cất giấu đàn gia súc.
Tuy nhiên, khả năng tiên tri của Vanga chỉ thực sự đạt đến độ chín năm 30 tuổi. Nhiều người tìm đến bà để xin những lời tiên tri. Trong đó có cả trùm phát xít Adolf Hitler. Người ta nói rằng Hitler từng ghé thăm nhà Vanga và rời đi với gương mặt nặng trĩu.
Không phải tất cả tiên tri của bà đều đúng hết. Nhưng có nhiều lời tiên tri của bà đã thành sự thật. Đó là tiên tri tàu ngầm Krusk chìm, vụ tháp đôi ở Mỹ bị tấn công khủng bố và sự hồi sinh của nước Nga.
Lời tiên tri đáng sợ về Thế chiến III và năm 2014 - Ảnh 2

Nhà tiên tri Vanga.

Vào năm 1980, Vanga đã tiên tri rằng: "Cuối thế kỷ này, vào tháng 8/1999 hoặc 2000, Kursk sẽ chìm dưới nước, và cả thế giới sẽ than khóc vì nó". Ngày đó, không một ai quan tâm đến lời tiên tri buồn cười này. Nhưng rồi người ta mới biết rằng Kursk bà nói không phải là về thành phố mang tên Kursk. Con tàu ngầm nguyên tử của Nga được đặt tên theo thành phố này đã gặp sự cố khủng khiếp và mãi mãi chìm dưới đáy đại dương. Cả thế giới đều luyến tiếc và rơi lệ cho những nạn nhân mắc kẹt trong tai nạn này.
Năm 1989, bà Vanga tiên đoán về sự kiện 11/9 khủng bố tấn công nước Mỹ: “Đáng sợ! Đáng sợ! Những người anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy”. Đến sự kiện 11/9 khi tòa tháp đôi bị tấn công thì người ta mới kinh ngạc với lời tiên đoán của bà.
Về chủ đề Thế chiến thứ 3, nhà tiên tri Vanga từng tiên tri năm 2010 sẽ nổ ra chiến tranh thế giới thứ 3. Bà nói rằng: Năm 2010 sẽ bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ 3. Cuộc chiến tranh này sẽ bắt đầu vào tháng 11/2010 và kết thúc vào tháng 10/2014. Ban đầu, cuộc chiến tranh diễn ra bình thường, tiếp đó sẽ xuất hiện hàng loạt vũ khí hạt nhân và cuối cùng là vũ khí hóa học. Tuy nhiên thực tế đã cho kết luận lời tiên tri này không chính xác.
Mặc dù các vụ xung đột vẫn diễn ra trên khắp thế giới nhưng xu hướng hòa bình vẫn là chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện tại.
Ngoài ra, bà Vanga cũng đưa ra lời tiên đoán cho năm 2014 là năm mà phần lớn loài người sẽ mắc chứng bệnh mưng mủi, ung thư da và các loại bệnh khác do hậu quả của chiến tranh hóa học. Có lẽ xuất phát từ dự đoán rằng năm 2010 là chiến tranh hóa học cho nên đã đưa đến dự đoán năm 2014 nhân loại bị các bệnh tật do hậu quả của chiến tranh hóa học.
Cho đến nay nhân loại đã trải qua 2 cuộc chiến tranh thế giới khiến hàng chục triệu người chết và để lại hậu quả lâu dài về nhiều mặt. Mặc dù hiện tại, xu hướng hòa bình là chủ đạo trong quan hệ quốc tế, nhân loại vẫn cần cảnh giác với chiến tranh bởi lẽ khắp nơi, xung đột vẫn diễn ra hàng ngày hàng giờ.
  • Trần Vũ

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 8 năm 2014

Ký ức về những lần kiểm duyệt kịch Lưu Quang Vũ

luuquangvu-1345707846-480x0_1409271102.j
Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ (1948 - 1988).

Giá trị phát hiện và phơi bày thực trạng xã hội trong kịch Lưu Quang Vũ đã khiến các đạo diễn "trầy vi tróc vẩy" với những quy chụp nói xấu chế độ ở cái thời "ai cũng có quyền kiểm duyệt".
NSND Phạm Thị Thành và NSƯT Hoàng Quân Tạo là hai đạo diễn gắn bó với kịch Lưu Quang Vũ. Phạm Thị Thành từng dựng 24 vở của anh, còn Hoàng Quân Tạo đã thắp đèn cho hàng chục sân khấu từ Bắc chí Nam với bộ ba Tôi và Chúng ta, Khoảnh khắc và vô tận, Quyền được hạnh phúc... 26 năm sau khi Lưu Quang Vũ qua đời, bằng những cách lưu giữ khác nhau, ký ức của họ về anh lại sống dậy.
Đạo diễn Phạm Thị Thành có một kho tư liệu nhỏ chứa ảnh, ghi chép, tờ chương trình, tờ quảng cáo... về những vở kịch bà từng dựng với Lưu Quang Vũ. Vừa chỉ tay vào một tấm ảnh trong cuốn album đã úa vàng, bà vừa nói: "Vũ đây, cao to, lãng tử, chụp ảnh lúc nào cũng đứng sau hoặc hai rìa mép. Anh ấy viết giỏi hơn nói; hay nép mình ở chỗ đông người nhưng lại phơi bày đến tận cùng những khát khao của bản thân trên trang viết". Khát khao đó, nữ đạo diễn lý giải, là nói lên sự thật, vạch ra những mặt trái và đòi hỏi sự minh bạch trong cuộc sống đương thời. Đạo diễn Hoàng Quân Tạo mô tả: "Vũ hiền, hay cười, ít nói, trẻ tuổi nhưng suy nghĩ rất già dặn, rất nhiều trăn trở".
Sự già dặn, trăn trở ấy kết hợp với chất văn học của kịch nói tạo nên tầm tư tưởng lớn cho những vở kịch của anh. Ở những năm 1980, khi phần lớn tác giả chỉ quen viết một chiều, nhìn một phía, phản ánh niềm tin tuyệt đối, thì các nhân vật của Lưu Quang Vũ luôn nghi ngờ, luôn phản biện, thậm chí nói thẳng ra rằng: "Các đồng chí không muốn hoặc không dám nhìn thẳng sự thật"; "Nguyên tắc sinh ra là để phục vụ sự sống chứ không phải phục vụ những nguyên tắc" (Hoàng Việt - Tôi và Chúng ta); "Vẫn biết bác là đầy tớ của nhân dân nhưng đến được nhà các ông đầy tớ khó lắm" (Quých - Tôi và Chúng ta)... Giới phê bình nhận định, kịch Lưu Quang Vũ đã phát hiện, vạch ra gần như mọi sự bất ổn, xung đột của xã hội đương thời và dự báo, bảo vệ những mầm mống của cái mới, cái tiến bộ.
Chính vì tiếng nói mạnh mẽ, đi trước thời đại đó, mà để đến được với công chúng ở cái thời "ai cũng có quyền kiểm duyệt", các đạo diễn, diễn viên đã phải trầy vi tróc vẩy. Đạo diễn Hoàng Quân Tạo chia sẻ, bây giờ ngẫm lại, ông chỉ biết cười xòa nhưng những ngày đó, mỗi lần dựng vở Lưu Quang Vũ là một lần ông phải trầy trật chỉnh lên sửa xuống với bao nhiêu tầng kiểm duyệt. Ông kể, dựng Tôi và Chúng ta - vở kịch về sự lạc hậu của cơ chế bao cấp, sự xung đột giữa cá nhân và tập thể - ông phải qua ít nhất 12 lần duyệt. Đạo diễn ví dụ, chỉ với câu thoại nhân vật Quých nói với Bộ trưởng: "Ở dưới các bác còn nhiều người lợi dụng chức quyền làm khổ chúng tôi [...] mà các bác thì như giời ấy, giời ở cao quá, không đến được", ông phải lên gặp cơ quan kiểm duyệt nhiều lần chỉ để trả lời câu hỏi: "Tại sao anh lại để nhân vật nói như thế này?".
Diễn viên Hoàng Cúc - người nổi tiếng với vai Thanh trong vở này - kể lại: "Thoại của nhân vật bị sửa chỗ này một chút, chỗ kia một chút. Diễn viên chúng tôi rất khốn khổ, vừa tập vừa lo, vì chỉ cần một người quên thoại, vấp thoại là vở có khả năng đứt mạch". Khi Tôi và Chúng ta được diễn cho các lãnh đạo Trung ương xem, đạo diễn Hoàng Quân Tạo quả quyết: "Dám làm dám chịu, phải giữ lại bản gốc của Lưu Quang Vũ". Trong khi diễn, ở cánh gà bên này, một vị lãnh đạo phụ trách kiểm duyệt theo sát từng chuyển động của diễn viên; ở cánh gà bên kia, Hoàng Quân Tạo như ngồi trên đống lửa. Kết thúc cảnh một, trong lúc giải lao, ông hồi hộp xuống khán đài hỏi ý kiến của Ủy viên Bộ Chính trị - Tố Hữu và Ủy viên Ban bí thư Trung ương Đảng - Hoàng Tùng. Tố Hữu nhận xét: "Hay! Tuyệt vời", còn Hoàng Tùng nói: "Đúng, tôi tán thành ý kiến của anh Lành". Nghe vậy, ông mới thở phào nhẹ nhõm.
Nhưng không phải vở nào cũng may mắn như vậy. Ông kể, có những vở đã được duyệt, phông đèn, ánh sáng đã xong xuôi, vé cũng đã bán, đột nhiên, đạo diễn nhận được lệnh "ngừng diễn, thời điểm này chưa thích hợp". Những trường hợp như vậy, theo ông Tạo, không phải là hiếm.
Đạo diễn Phạm Thị Thành nhớ lại, bà gặp khó khăn nhất với ba vở của Lưu Quang Vũ: Mùa hạ cuối cùng, Nếu anh không đốt lửa Người tốt nhà số 5. Với Mùa hạ cuối cùng - vở kịch lấy đề tài trường lớp và những gian dối trong thi cử - bà và tác giả kịch bị cho là "nói xấu 18 ban ngành". "Việc bóc trần tiêu cực trong thi cử bị cho là bêu xấu ngành giáo dục; chuyện học trò chê phim Việt Nam bị nghi là xỏ xiên ngành điện ảnh, rồi họ còn tìm ra những chi tiết liên quan đến Hội phụ nữ, các cơ quan đoàn thể khác, nhiều đến mức tôi không nhớ nổi", bà kể.
khoanhkhac.jpg
Khán giả đi xem vở Khoảnh khắc và vô tận của Lưu Quang Vũ. Đạo diễn Hoàng Quân Tạo nhớ lại, vé một vở kịch lúc bấy giờ quãng bằng giá một bát phở chín (ba đồng phở tái, năm đồng phở chín). Người đi xem rất đông, dù rạp lợp bằng mái tôn rất nóng nực.
Còn với vở Nếu anh không đốt lửa phê phán mạnh cơ chế quan liêu, bao cấp, "cặp bài trùng" Lưu Quang Vũ - Phạm Thị Thành trải qua những giây phút nghẹt thở khi diễn cho Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh xem. Bà nhớ lại: "Chúng tôi vừa theo dõi vở diễn, vừa phán đoán thái độ của ông. Lúc gần kết vở, một người trợ lý của ông đi đến chỗ chúng tôi nhắn: Tổng bí thư yêu cầu tập hợp dàn diễn viên để tặng hoa, ông rất hài lòng. Lúc đó chúng tôi như trút được gánh nặng".
Người tốt nhà số 5 cũng vấp phải những chỉ trích mạnh mẽ sau khi công diễn với lý do "nói xấu chế độ". "Họ nói, phản ánh như thế là bôi đen, có 5 hộ thì đến 4 nhà ích kỷ, xấu xa; chỉ có duy nhất một người tốt. Nhưng rất may, ông Trần Độ, Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương lúc đó, rất ủng hộ chúng tôi. Vở kịch vì thế được đưa đi tham dự Hội diễn sân khấu 1985 tại Vinh, Nghệ An và đoạt giải Vàng", nữ đạo diễn kể.
Bất chấp cơ chế kiểm duyệt phức tạp, kịch Lưu Quang Vũ đã góp phần đưa thập niên 1980 trở thành thời kỳ đỉnh cao trong lịch sử sân khấu dân tộc. Diễn viên Hoàng Cúc cho biết, vở Tôi và Chúng ta, đoàn kịch diễn ròng rã hàng tháng trời ở một điểm, mỗi ngày ba suất mà suất nào cũng đông. "Còn Lưu Quang Vũ được chúng tôi gọi là 'Bà mẹ Âu Cơ' vì anh khả năng 'đẻ' phi thường. Đoàn nào cũng đặt hàng, thúc giục và đòi kịch của anh".
so-duyet.jpg
Đạo diễn Phạm Thị Thành có một cuốn sổ nhỏ, bìa nâu, các trang giấy đã úa vàng. Trong sổ, bà ghi chép cụ thể chi tiết những lần duyệt vở Lưu Quang Vũ. Đoạn chú thích trên là các ý kiến khi kiểm duyệt vở Mùa hạ cuối cùng, trong đó, Trần Độ nhận xét: "Vở tốt lắm, vấn đề đặt ra hay, giải quyết được, bắt người xem phải suy nghĩ".
Đạo diễn Phạm Thị Thành và Hoàng Quân Tạo giải thích, sân khấu những năm 1980 phát triển hoàng kim bởi những tài năng như Trần Quán Anh, Xuân Trình, Lưu Quang Vũ... một mặt bị thúc bách bởi những yêu cầu của thực tiễn về việc cất lên tiếng nói phản biện. Mặt khác, bên cạnh cơ chế kiểm duyệt khắt khe, họ cũng được tạo "cú hích" bởi chính sách mở cửa, "cởi trói" cho văn nghệ sĩ giữa những năm 1980. Tháng 10/1987, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh có cuộc gặp gỡ với đông đảo văn nghệ sĩ để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của họ. Trong sự kiện này, Lưu Quang Vũ đã chia sẻ mong muốn phá bỏ "bao cấp về tư tưởng", phá bỏ "tình trạng một người suy nghĩ cho mọi người", để tôn trọng sự sáng tạo trong văn hóa, nghệ thuật.
Ngay cả khát vọng đó, theo ông Hoàng Quân Tạo, đến nay vẫn còn giá trị. Ông kể: "Tôi và Vũ từng rất nản, rất trăn trở nhưng chưa từng trách giận những người kiểm duyệt. Bởi đơn giản, họ chỉ làm công việc của mình. Nhưng tôi mong kiểm duyệt không chỉ là chăm chắm soi những chi tiết gây suy diễn mà còn phải phát hiện, nâng đỡ cái hay, cái tốt, những yếu tố tích cực để khuyến khích sáng tạo".
Ngày 29/8/1988, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh và con trai họ - cháu Lưu Quỳnh Thơ - ra đi trong một tai nạn giao thông. Đó là tổn thất to lớn cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Riêng với sân khấu kịch, đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy một Lưu Quang Vũ thứ hai. Hoàng Cúc nói: "Tôi chưa thấy nhà viết kịch nào được như anh - một người lúc còn sống khiến cho người khác tỏa sáng lên cùng mình; và khi chết đi khiến cho người ta muốn khóc đến giọt nước mắt cuối cùng".
Những năm gần đây, hàng loạt vở kịch của Lưu Quang Vũ được dàn dựng lại. Năm 2013, Liên hoan Các vở diễn của tác giả Lưu Quang Vũ do Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức thu hút 9 đoàn với 12 vở tham gia, tạo nên không khí sôi động cho sân khấu kịch. Khán giả vẫn tiếp tục khóc, cười, thậm chí "nổi giận" với những vở kịch của ông.
Năm nay, chỉ tính riêng ở sân khấu Hà Nội, có 5 tác phẩm được trình diễn để tưởng nhớ Lưu Quang Vũ, gồm: Bệnh sĩ, Lời thề thứ 9, Chèo Nàng Sita, Mùa hạ cuối cùng và Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt. Nhằm khuyến khích khán giả thưởng thức những tác phẩm hay của sân khấu, giá vé được bán với mức trung bình từ 120.000 đến 150.000 đồng. Các vở kịch được biểu diễn tại Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội.
Lịch biểu diễn 5 tác phẩm Lưu Quang Vũ:
 - Vở kịch Bệnh sĩ: 20h ngày 28/8.
 - Đêm thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ và vở kịch Lời thề thứ 9: 20h ngày 29/8.
 - Vở kịch Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt: 20h ngày 30/8.
 - Vở chèo Nàng Sita: 20h ngày 31/8.
 - Vở kịch Mùa hạ cuối cùng: 20h ngày 1/9.
  • Hà Linh

Thứ Năm, ngày 28 tháng 8 năm 2014

Khánh Ly bất ngờ công bố giấy cho phép tác quyền của Trịnh Công Sơn

Từ Mỹ, nữ danh ca Khánh Ly vừa gửi về cho VietNamNet bài tùy bút chia sẻ kỷ niệm của bà với Trịnh, kèm tài liệu cho thấy Trịnh nhận tác quyền và cho phép bà sử dụng tác phẩm của ông ở mọi thời điểm.
 - 1
Khánh Ly đến thăm nhà Trịnh Công Sơn khi bà về VN biểu diễn.
Bài tùy bút được bà đặt tựa "Chữ ký cuối cùng của một người dành riêng cho một người", chia sẻ những ngày khó khăn nhưng hạnh phúc trên bước đường âm nhạc chung với Trịnh. Xin trân trọng giới thiệu tới quý độc giả:
Đã đến giờ tôi phải đi. Phải từ giã Hà Nội thôi. Mọi người còn đang ngủ yên trong kia. Chỉ mình tôi ngồi trước hiên nhà. Một mình ngồi suốt 3 tiếng đồng hồ. Hạnh phúc lớn quá, mà nỗi cô đơn cũng lớn quá.

Tôi không biết đêm đã dần qua, một ngày mới đang tới. Và tôi lại sắp phải nói lời giã từ con phố mình vừa gặp lại sau 60 năm xa cách. Bao giờ trở lại. Có còn trở lại nữa không. Tôi đã 70 rồi. Đường thì xa vạn dặm mà thời gian thì vô tình. Ngày mai. Ngày mai ai biết được ngày mai đời mình sẽ ra sao. Một chớp mắt đã bãi biển nương dâu. Một chớp mắt đã nghìn trùng xa cách. Một chớp mắt đã thành kỷ niệm. Đã là quá khứ.
… Chúng tôi, những người của ba miền đất nước. Đến với nhau không nghi ngại. Toại, Sơn, Giang, Tuân, Doãn, Yến, Minh, Lộc… Anh và tôi. Chúng tôi có chung một niềm vui, một mơ ước. Dẫu hoàn cảnh gia đình không giống nhau. Tiếng cười tiếng hát vẫn rộn ràng mỗi khi chiều xuống. Những đĩa cơm nghèo chia đôi, những điếu thuốc chuyền tay. Giấc mơ về một ngày im tiếng súng, một ngày chân bước và hát trên ba miền từ thành phố đến thôn làng. Nhà thương, trường học sẽ được dựng xây trên hoang tàn đổ nát. Có áo cơm cho trẻ con không nhà. Có nụ cười cho cha già mẹ yếu. Có vòng tay cho chị. Có chiếc nạng cho anh. Có tiếng cười trong căn nhà nhỏ. Bài học yêu thương phải được học lại từ đầu. Giấc mơ của tuổi trẻ Việt Nam. Giấc mơ của người Việt Nam trên khắp ba miền.

Tháng ngày bên Anh thật hạnh phúc. Anh mở cho tôi cánh cửa vào cuộc sống tốt đẹp. Phải, dù chẳng để làm gì, dù chỉ để gió cuốn đi. Dù vắng bóng ai, tấm lòng ấy vẫn còn mãi. Chúng ta có mong được đến trong cuộc đời này? Vậy thì chúng ta sẽ ở lại trong trái tim mọi người dù chỉ là một góc nhỏ nhoi. Bây giờ, nếu có ai đó bảo rằng chúng tôi rồi sẽ xa cách nhau. Sẽ có ngày phải khóc nhau. Không thể được. Không bao giờ có chuyện đó. Chúng tôi tin cậy nhau, chúng tôi yêu thương nhau, gần gũi gắn bó biết bao. Điều gì có thể chia cắt được thâm tình này.
Những ngôi nhà khang trang mái ngói đỏ nằm chen lẫn giữa những vườn cây ăn trái, ruộng lúa xanh rì bạt ngàn. Tôi cố căng mắt tìm kiếm nhưng vô ích. Tôi không tìm thấy dấu vết nào của 40 năm trước. Con đường Huế Quảng Trị ngập sâu dưới cơn mưa chẳng còn biết đâu là đường, đâu là ruộng. Chiếp Jeep lùn chậm chạp lăn bánh qua những biển nước. Cây cầu gỗ run rẩy. Chỉ có niềm tin và tình yêu mới đưa tôi đến con đường này. 60 cây số Huế Quảng Trị sao mà quá gian nan. Tình yêu trước mặt tưởng như trong tầm với. Có ai ngờ ngay từ phút giây đầu đã phải khóc nhau.

Phải. Tôi đã muốn khóc thật lớn, thật nhiều giây phút lìa xa Hà Nội. Chỉ thấy trong lòng nặng trĩu bao nhiêu nỗi niềm ấp ủ 60 năm. Giờ trên con đường này, tôi vẫn muốn giấu đi giọt nước mắt muộn màng. Làm sao tôi có thể bộc lộ nỗi lòng của mình, và mặc dù biết rất rõ, Anh cũng không nói gì, chỉ dịu dàng hơn, ân cần hơn. Anh vốn như thế. Những tình khúc của Anh là ngàn vạn lời an ủi ấm áp. Anh như muốn nhắn nhủ một điều giấu kín trong tim chỉ là những điều… giấu kín mà thôi. Hãy cứ yêu ngày tới dù đã mệt kiếp người vì còn cuộc đời trước mắt. Hãy cứ vui mà sống dầu đã vắng bóng ai.
 - 4
Bà từng nói Trịnh là hình, còn bà là bóng.
Đức Mẹ La Vang và Quảng Trị không kéo tôi ra khỏi nỗi đau. Huế và Anh lại cho tôi nơi chốn bình yên. Tôi không thể khóc trong tay Anh. Tôi chỉ có thể ngồi bên Anh yên lặng mà cảm nhận tình thương từ ánh mắt dịu dàng bao dung. Ánh mắt đó vẫn theo tôi, vẫn luôn luôn nhắc nhở tôi, hãy sống tử tế với một tấm lòng. Anh vẫn đi cùng tôi qua những miền nắng ấm, những ngày bão mưa tuyết đổ. Khuôn viên Đại Học, hội trường Công Giáo, Phật Giáo. Những lớp học tiếng Việt. Trẻ mồ côi tàn tật, người già neo đơn.

Tôi muốn đi cùng Anh đến mọi nơi mọi miền chia sẻ những may mắn của mình trong đời cho người bất hạnh. Anh đã nói các bạn là những người không may mắn, mất đi một phần thân thể của mình nhưng tâm hồn các bạn còn nguyên vẹn; trong khi ngoài đời có rất nhiều người lành lặn nhưng tâm hồn lại khiếm khuyết… Anh ru đời đừng tuyệt vọng. Tôi là ai… là ai… mà yêu quá đời này. Anh tuyệt vời biết bao. Anh đã đến và ở lại trong trái tim những người yêu Anh. Ở lại mãi mãi vòng tay Hà Nội. Nụ cuời Hội An. Tấm lòng Đà Nẵng. Mọi người sẽ đến để gặp Anh… Lại gần với nhau. Ngồi kề bên nhau. Thù hận xin quên. Đây quê hương mình… Tâm hồn Anh. Trái tim Anh sẽ mãi mãi đi cùng với người yêu Anh trên khắp các nẻo đường quê hương từ thành thị đến thôn xóm ruộng đồng.
 - 5
Giấy Trịnh ký nhận tác quyền và cho phép Khánh Ly biểu diễn nhạc phẩm của ông.
Chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa tôi sẽ rời Việt Nam. Buổi chiều. Một buổi chiều tháng 05 con đường Duy Tân cây dài bóng mát. Con ngõ nhỏ, cho đến bây giờ, không có gì thay đổi. Tôi muốn đến chào Anh trước khi ra đi. Tôi muốn nhìn lại cái cầu thang tôi đã lên xuống nhiều lần. Tôi muốn nhìn lại chiếc ghế Anh ngồi. Chỗ Anh hay ngồi với bạn bè với tôi. Tôi muốn tìm xem Anh đã ngồi đâu khi ký cho tôi chữ ký cuối cùng. Thì ra Anh không hề quên tôi.

Trong giây phút đó, Anh vẫn nhớ đến những tháng ngày hạnh phúc của một thời bé dại. Phải. Ở một nơi xa lắm, cho đến cuối đời, tôi luôn ôm ấp một tình yêu dành cho Anh. Tình yêu dành cho một người cha. Một người anh. Một người bạn.
 - 6
Nội dung bằng tiếng Anh của giấy cho phép trên được xác nhận bởi một tòa án Mỹ.
Cánh cổng nặng nề đã khép lại sau lưng, tôi vẫn nghe lẫn trong tiếng cười vui của anh Sâm Thương, anh Nguyễn Quang Sáng, anh Dương Minh Long, Bảo Phúc, Từ Huy… Em hãy sống tử tế với mọi người… Tôi sẽ cố gắng để dẫu không làm được gì tốt đẹp thì cũng không đến nỗi phụ tấm lòng của Anh.

Lòng tôi bỗng nhẹ nhàng bước đi không quay lại. Không có ai nhìn theo. Mãi mãi không còn ai nhìn theo. Cái Ngõ Trịnh đáng yêu ở đó có một người luôn bên cạnh tôi. Luôn đi cùng tôi. Ở đó có một ngôi nhà tôi luôn mong mỏi mở cửa bước vào mà chân cứ ngập ngừng.
Khánh Ly, Calif. tháng 05-2014.
  • Theo Vietnamnet

Lý do người Ai Cập đặt xác ướp trong nhiều lớp quan tài

Việc lồng nhiều quan tài khi chôn cất không chỉ thể hiện đó là tầng lớp thượng lưu, mà người Ai Cập tin rằng việc này sẽ giúp người qua đời liên hệ với tổ tiên của họ. 
Một quan tài nhiều lớp thuộc ngôi đền Tamutnofret, được dự đoán có từ thời vua Ramses II (khoảng 1279-1213 trước công nguyên) gồm một lớp quan tài bên trong, một lớp “vỏ xác ướp”, một mặt nạ phủ trên toàn xác ướp. Ảnh: Réunion d​es Musées Nationaux.

Tầng lớp thượng lưu Ai Cập cổ đại thường đặt quan tài trong ba hoặc bốn lớp, cá biệt xác ướp con vua Tutankhamun (1334-1324 trước công nguyên) được đặt trong 8 chiếc quan tài lồng vào nhau.
Tiến sĩ Anders Bettum từ Đại học Oslo, một nhà nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ phương Đông cho biết, việc lồng nhiều quan tài khi chôn cất không chỉ là biểu tượng cho tầng lớp thượng lưu Ai Cập, mà còn bởi người Ai Cập tin rằng việc đó giúp người qua đời liên hệ được với tổ tiên.
Các nghi lễ của đám tang diễn ra trong 70 ngày được biểu lộ qua các chi tiết văn hoa trên quan tài. "Các đồ trang trí, biểu tượng và chất liệu biểu hiện sự thống nhất của hai vị thần Osiris và Amun-Ra", Redorbit dẫn lời Buttum nói.
"Bên ngoài quan tài, người quá cố được mô tả như thần Osiris, với một xác ướp có bộ tóc giả màu xanh sọc và khuôn mặt trang nghiêm. Quan tài được sơn vecni màu vàng. Những người Ai Cập giàu có thường dát vàng trên quan tài của họ”, Buttum nói thêm.
Các hoa văn trang trí là hình ảnh các vị thần Osiris và Amun-Ra. Thần mặt trời Osiris sẽ đến ngự ở ngai vàng trong giờ thứ 6 của đêm và hai vị thần sẽ hội tụ trong sự huyền bí. Người Ai Cập tin rằng, hai vị thần này là nguồn gốc của mọi sự tái sinh trong tự nhiên, và họ đã ngự đến đây, tạo nên nguồn gốc của sự sống.
Lớp trong cùng của quan tài trang trí giống như những trang phục tốt nhất của người quá cố khi còn sống. Đây là lớp quan trọng nhất bởi nó thể hiện mục tiêu của việc chuyển sang thế giới bên kia.
“Những lớp quan tài còn lại giống như những hình ảnh lặp đi lặp lại của người quá cố, và nó là lớp bảo vệ, tương tự như nhộng của ấu trùng trước khi chuyển đổi mình thành bướm. Đây cũng là chủ đề nổi tiếng trong nghệ thuật, tôn giáo và văn chương”, Bettum giải thích.
Buttum cho biết, hiện nhiều chiếc quan tài được tách rời các lớp và chúng được phân tán rải rác khắp thế giới. Ông hy vọng giới khảo cổ quốc tế sẽ hợp tác để lắp ráp lại nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu sâu hơn về văn hóa Ai Cập cổ đại. Tuy nhiên, các rào cản về luật pháp và lợi ích quốc gia đã cản trở và khiến điều này khó trở thành hiện thực.

  • Văn Tây (Theo http://vnexpress.net)

Cháy đến giọt cuối cùng


Đọc "Tài năng và danh phận", tập bút ký chân dung của GS. Hà Minh Đức, NXB Chính trị quốc gia, 2014.
Sống cùng thời với văn chương
Từ công trình đầu tiên nghiên cứu về một nhà văn quá cố "Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc" (1961), thêm hai công trình "Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại" (1974) và "Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại" (1968, viết chung với GS. Bùi Văn Nguyên), còn lại, có thể thấy GS. Hà Minh Đức đã tận tâm tận lực sống với văn chương cùng thời.
Hãy đọc các tác phẩm sẽ thấy rõ một văn mạch rất đặc trưng và đây có thể coi là đóng góp thiết thực nhất, xứng đáng nhất của ông: "Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê" (1994), "Nhà văn nói về tác phẩm" (1998), "Tố Hữu thơ và cách mạng" (2004), "Tô Hoài đời văn và tác phẩm" (2007), "Người của một thời" (2009), "Chế Lan Viên người trồng hoa trên đá" (2010), "Nguyễn Đình Thi chim phượng bay từ núi" (2011), "Nữ sĩ Anh Thơ mùa hoa đồng nội" (2012), "Xuân Diệu vây giữa tình yêu" (2013), "Một thế hệ vàng trong thơ Việt Nam hiện đại" (2014) và "Tài năng và danh phận" (2014). Văn mạch này nằm trong tổng số 45 tác phẩm thuộc các thể loại mà ông là chủ sở hữu (từ sáng tác thơ, bút ký đến lý luận, nghiên cứu, phê bình, chân dung văn học).
Nhiều người đặt câu hỏi: Hà Minh Đức lấy đâu ra thời gian và sức lực để làm được một núi công việc mà một cá nhân bình thường khó có thể làm được. Thật ra không có gì lạ, tôi nghĩ, tình yêu văn chương bẩm sinh đã thôi thúc ông làm việc. Nhưng có lẽ sự kiên nhẫn mới là nguyên nhân thắng lợi. Nhưng quan trọng hơn, tôi nghĩ, là ông luôn giữ được sức trẻ khỏe của ngòi bút. Thậm xưng thì có thể nói là ông có cái bí quyết để giữ được "con mắt xanh" của người nghệ sĩ.
Từ khi thế hệ chúng tôi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông (vào những năm 60 của thế kỉ trước) thì ông đã dày công tiếp xúc, ghi chép, lưu trữ những tư liệu văn chương, một thứ tư liệu sống động phát khởi từ sự tiếp xúc với các nhà văn nổi tiếng. Rồi đến một lúc nào đó, như con tằm nhả tơ, cứ thế ông viết, cứ thế ông kiến thiết tác phẩm theo cách riêng của mình. Đôi lúc tôi cứ nghĩ vui vui rằng, ngòi bút của ông có thể sánh với "nồi cơm Thạch Sanh" chăng?
Tôi cho rằng, "Tài năng và danh phận" là một tác phẩm bút ký - chân dung - danh nhân, một thể loại bộc lộ rất rõ sở trường và sở đoản của nhà văn - nhà giáo Hà Minh Đức. Hai mươi bảy chân dung (xếp theo thứ tự: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Tố Hữu, Văn Cao, Huy Cận, Nguyễn Tài Cẩn, Xuân Diệu, Tế Hanh, Bùi Hiển, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Khải, Đặng Thai Mai, Nguyễn Lương Ngọc, Bùi Văn Nguyên, Hoàng Xuân Nhị, Vũ Trọng Phụng, Trần Đức Thảo, Nguyễn Đình Thi, Hữu Thỉnh, Hoàng Trung Thông, Anh Thơ, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Chế Lan Viên) được dựng bằng ngôn từ trong cuốn sách này, nếu nói không quá thì, giống như một quần thể tượng đài nghệ thuật, ở đó mỗi một tên tuổi là một sắc diện, một phong cách độc đáo.
Từ góc độ văn hóa
Người ta nói để đi nhanh và hiệu quả tới đích thì phương pháp ưu việt mới là nhân tố quyết định. Tôi nghĩ, tiếp cận những nhân vật - danh nhân, không có con đường nào khả thi hơn là từ góc độ văn hóa. Tiếp cận đối tượng từ góc độ văn hóa giúp cho tác giả rút ngắn được khoảng cách từ chủ thể đến khách thể, giảm bớt cái áp lực bị trùm lấp, thậm chí "kính nhi viễn chi". Đó là một cách lựa chọn khôn khéo, nếu có thể nói như thế, của nhà khoa học. Nhờ phương pháp này mà khi viết về Hồ Chí Minh, tác giả đã vẽ được chân dung của một Anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa (tr.29). Phẩm tính văn hóa của con người kiệt xuất này chính là "văn hóa tương lai" như nhận xét tiên tri của nhà thơ, nhà báo Liên Xô tài danh Manđenxtam cách đây hơn 90 năm khi ông gặp Nguyễn Ái Quốc ở Mátxcơva năm 1923.
Văn hóa Hồ Chí Minh luôn luôn gắn với chủ nghĩa nhân đạo cao cả của Người. Tương tự khi tiếp cận đồng chí Lê Duẩn (cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam),  tác giả  đã chú ý khắc họa cái cốt cách của một người cộng sản có tầm kích lớn khi vị lãnh tụ thường nhấn mạnh: "Ta thắng địch cũng bằng sức mạnh văn hóa" (tr.36). Và như một sự gặp gỡ có vẻ ngẫu nhiên, nhưng tất nhiên, khi tác giả nhận xét: "Trong những suy nghĩ về văn hóa, nhất là văn hóa Việt Nam, Lê Duẩn đặc biệt nhấn mạnh đến tình thương. Tình thương có cội nguồn từ truyền thống nhân ái của nhân dân, tình thương cũng là phẩm chất của mỗi cá nhân trong đời sống hằng ngày và tình thương cũng là sức mạnh truyền thống của dân tộc" (tr. 39-40).
Hai mươi tư chân dung còn lại hết sức thuận lợi với tác giả khi dựng, vì họ đều là đồng nghiệp, nhiều người là đồng chí. Với ý nghĩa là những chân dung - danh nhân, tác giả không quá ham đi vào vụ việc cụ thể (dẫu cho có thể rất "bắt mắt'), mà chú ý khai thác, thể hiện cái phẩm tính kết tinh và phát tỏa của mỗi người (là nghệ sĩ ngôn từ, là nhà triết học, là nhà sư phạm).
Ở đây, trong quá trình viết, chúng tôi quan sát thấy, tác giả điều hòa được quan hệ xa - gần với đối tượng. Nếu xa quá thì chỉ là sự quan sát thuần túy, sẽ dễ suy lí, thậm chí võ đoán về đối tượng. Những trang viết như thế dễ rơi vào tư biện, và ai cũng có thể viết nếu có đủ tư liệu. Nhưng nếu quá gần, thậm chí gần tới mức hai là một, thì dễ bề bị đối tượng cảm hóa, thậm chí có thể bị "thôi miên". Viết theo lối này có khả năng hấp dẫn độc giả vì nhiều chuyện hậu trường, thậm chí "bếp núc" văn chương có cơ hội được "phô" ra.
Nếu có thể nói thì GS. Hà Minh Đức là một "triệu phú" tư liệu về đời sống văn chương, nhà văn hiện đại (và đương đại). Nhưng người giàu này rất biết cách chi tiêu, không bao giờ vung tay quá trán. Vừa là học trò, vừa là đồng nghiệp của GS 45 năm nay, hơn ai hết, tôi hiểu rõ điều ấy. Nếu cần dùng một hình ảnh thì GS. Hà Minh Đức là người biết cách "giữ lửa". Vì thế mà ngay cả lúc này, tôi vẫn cứ đinh ninh, "Tài năng và danh phận" chưa hẳn là "cuốn sách cuối đời văn" như ông nói.
Tôi quan sát thấy khi viết, GS. Hà Minh Đức như một nghệ sĩ nhiếp ảnh có nghề đã điều chỉnh ống kính của mình khá linh hoạt. Ở đây, ngòi bút tiến thoái hợp lí khiến cho những chân dung được khắc họa có cái thần thái của nó. Xin nêu một ví dụ về cách vẽ chân dung - danh nhân của Hà Minh Đức: Khi Chế Lan Viên nhận xét thơ Xuân Diệu hay lặp lại về ý tứ và vần điệu thì Ông Hoàng của thơ tình yêu đã "phản công" lại: "Có lặp lại mới nhấn mạnh được ý tứ và có nhạc điệu như hôn nhau, càng hôn càng hứng thú" (tr.130).
Xuân Diệu luôn bị hối thúc bởi một tín điều: "Mình phải hiểu mình là ai? Không nhờ cậy, không ỷ lại. Nhà thơ phải tự mình có sức suy nghĩ riêng. Ý thức về tôn giáo là ý thức về sự ban ơn và chịu ơn. Đó là công việc của tôn giáo. Trong sáng tạo nghệ thuật có thể có sự hỗ trợ của nhiều yếu tố nhưng chủ yếu là nội lực, sức sáng tạo của chủ thể" (tr.131). Phải chăng bản lĩnh cũng là một biểu hiện của văn hóa nhà văn?
Tình đời tình văn
Người ta thường nói nhà văn muốn viết hay phải trải nghiệm, thậm chí có người còn cho rằng phải có thân phận (phải bầm dập, phải lên bờ xuống ruộng, phải đau đớn lòng thì tác phẩm mới có cái "hương vị" của những cuộc bể dâu được!?). Ở khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây, có hai phong cách phê bình thơ rất khác nhau: một GS. Lê Đình Kỵ, dường như đóng cửa phòng văn mà không mang tiếng kinh viện, những trang viết vẫn cứ lóng lánh chất đời; một GS. Hà Minh Đức thì đầy trải nghiệm tinh tế, sành điệu, giàu có về chất sống văn chương và viết lúc nào cũng như "lấy từ trong túi" ra, trang viết thấm đẫm tình đời tình văn.
Tôi nghĩ, đó chính là sự phong phú đa dạng và là sức sống của nghệ thuật. Hay nói cách khác đó là những nẻo lối vào văn chương. Viết không chỉ là để truyền bá kiến thức, với GS. Hà Minh Đức, thiết nghĩ, viết còn là để tri ân và tôn vinh vẻ đẹp cuộc sống, con người, viết đến mức nào đó để tri kỉ bạn văn, nghề văn. Trong "Lời nói đầu" (như một tự bạch), GS. Hà Minh Đức viết: "Với tấm lòng quý trọng và biết ơn tôi ghi lại qua những trang viết về hình ảnh các nhà văn, các nhà giáo tài năng mà tôi được tiếp xúc (…).
Trong tập sách này dưới dạng bút ký tôi muốn ghi lại những nét đẹp, sinh động trong đời thường. Tuy là đời thường nhưng vẫn lấp lánh nhiều điểm sáng, nhiều chuyện cảm động, nhiều vẻ cao sang, nét bình dị, chuyện vui buồn… những giá trị dễ bị lãng quên với thời gian" (tr.11-12).
Cái tình đời - tình văn của GS. Hà Minh Đức thấm đượm trong suốt tác phẩm "Tài năng và danh phận". Tôi đã đọc "Vị giáo sư và ẩn sĩ đường" (bút ký, 1996) của GS. Hà Minh Đức, bây giờ đọc lại "Chuyện kể còn lại về Giáo sư Bùi Văn Nguyên" vẫn cứ thấy mới mẻ và thú vị như lần đầu. Tôi đồ rằng các đồng nghiệp của GS. Bùi Văn Nguyên có lúc phải "ghen tị" với GS. Hà Minh Đức vì một người ở Đại học Tổng hợp Hà Nội lại hiểu một người ở Đại học Sư phạm Hà Nội nhiều và sâu sắc đến thế, như là bạn vong niên của nhau. Cũng dễ hiểu thôi, vì họ là hàng xóm kề vách nhau, là người gần nhất để có thể ngay lập tức sẻ chia những vui buồn của đời người trước khi người thân ruột thịt kịp san sẻ.
Cổ nhân nói "bán anh em xa mua láng giềng gần" là vậy! Hơn thế 'hữu duyên thiên lí năng tương ngộ". Nói tình văn - tình đời thấm đượm trong những trang sách "Tài năng và danh phận" của GS. Hà Minh Đức, thiết nghĩ, không phải là một cái gì tự nhiên nhi nhiên. Nó là sự tích lũy cảm xúc, bồi đắp tình cảm, là khả năng "giữ lửa" - hiểu là tình yêu đến độ đam mê văn chương, sống hết mình với văn chương cùng thời. Đó là tình yêu của một người bước vào tuổi tám mươi mà vẫn không nguôi ngoai "sự sống chẳng bao giờ chán nản". GS. Hà Minh Đức có ngót 60 năm dạy học, hơn 50 năm cầm bút sáng tạo văn chương, ở lĩnh vực nào ông cũng sống hết mình, nói hình ảnh là lúc nào ông cũng "cháy đến giọt cuối cùng".
Hà Nội, tháng 3/2014


  •   Bùi Việt Thắng

Rắc rối chuyện "lắc và gật"


"Khi người bồi bàn chỉ vào các món ăn trong thực đơn, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và nhà văn Lê Lựu lắc đầu. Tức thì, anh ta mang ra và bày sẵn trên bàn. Chỉ món khác, lại lắc, lại mang ra. Hai nhà văn Việt Nam ngơ ngác chẳng hiểu đầu cua tai nheo nó ra làm sao" - Dược sĩ Chu Bá Nam nhớ lại.
Mùa đông năm 1975, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và nhà văn Lê Lựu mang theo lá thư của nhà văn Đỗ Chu (tên thật là Chu Bá Bình) đến khu tập thể dành cho sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh ở ngoại ô thành phố Sôphia, gặp dược sĩ Chu Bá Nam - em trai nhà văn Đỗ Chu - nhờ làm phiên dịch bất đắc dĩ giúp hai ông. Dược sĩ Chu Bá Nam khi đó đang là thực tập sinh tại Viện Hoa hồng Bungari. Hai nhà văn Việt Nam mời dược sĩ ăn trưa ở nhà hàng của Hội Nhà văn Bungari. Nhà hàng này nằm cách lăng Đimitơrốp, Tổng Bí thư đầu tiên của Quốc tế Cộng sản III vài trăm mét.    
"Khi người bồi bàn chỉ vào các món ăn trong thực đơn, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và nhà văn Lê Lựu lắc đầu. Tức thì, anh ta mang ra và bày sẵn trên bàn. Chỉ món khác, lại lắc, lại mang ra. Hai nhà văn Việt Nam ngơ ngác chẳng hiểu đầu cua tai nheo nó ra làm sao" - Dược sĩ Chu Bá Nam nhớ lại.
Theo dược sĩ Chu Bá Nam, sở sĩ có chuyện ngược đời như vậy là vì ở Bungari, lắc đầu sẽ có nghĩa là "có", tức đồng ý và gật đầu có nghĩa là "không", tức không đồng ý. "Lắc là gật đã phiền rồi, nhưng gật lại là lắc còn rắc rối hơn" - Dược sĩ Chu Bá Nam cho biết. Rồi ông kể thêm: "Có anh bạn sinh viên người Nga hỏi cô thiếu nữ Bungari: Anh hôn em một cái có được không? Cô ta gật, anh hôn luôn, thế là ăn ngay một cái tát mà chẳng kịp hiểu do đâu. Hai nhà văn Việt Nam tuy không rơi vào trường hợp này, nhưng lại ở một hoàn cảnh khác, cũng rất khó nói. Hội Nhà văn Bungari rất tế nhị khi bố trí cho hai nhà văn ở hai tầng khác nhau, có ý để hai người tiện... tìm nguồn sáng tạo, bằng cách nói trước với bồi phòng ý nhị thăm dò thái độ của hai vị khách quý rồi tùy nghi ứng biến. Nhà văn Lê Lựu kể lại, lúc ở khách sạn, ông thấy bồi phòng nhìn ông rồi chỉ tay về phía cô gái đứng ở hành lang, cười cười. "Thế anh gật hay lắc?" - Dược sĩ Chu Bá Nam hỏi. "Mình chỉ tỏ ý không quan tâm" - Lê Lựu trả lời. "Thật khó cho ông, không biết tiếng, lại không được dùng ngôn ngữ cơ thể. Chẳng biết có phải vì sự "tỏ ý không quan tâm" của nhà văn Lê Lựu hay không, mà tối hôm sau, Hội Nhà văn Bungari đã bố trí hai vị khách quý đến từ Việt Nam ngủ cùng một tầng cho… vui" - Dược sĩ hóm hỉnh.
Cũng theo dược sĩ Chu Bá Nam, nếu như nhà văn Lê Lựu và nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lắc bị "thiệt", thì đạo diễn, nhà biên kịch phim Hồng Sến lắc lại được "lợi". Chuyện cũng xảy ra cách đó mấy tháng. "Một buổi trưa, đạo diễn Đặng Nhật Minh và đạo diễn Hồng Sến mới bay sang Bungari tìm đến phòng tôi. Trên tay Hồng Sến có một hộp gỗ mới, chạm trổ rất đẹp. Ông giải thích: "Xuống xe điện có một bà chìa hộp này ra, mình lắc đầu, thế là bà ta dúi vào tay mình và quay đi luôn. Vì bến xe cuối cùng nên hành khách xuống hết đành mang về". Tôi cười đến vỡ bụng, lại chuyện "lắc" và "gật". Chúng tôi cùng mở hộp ra xem, bên trong có con búp bê nhỏ và lọ nước hoa cùng một số đồ lưu niệm lặt vặt…" - Dược sĩ Chu Bá Nam kể.
Lý giải cho việc sử dụng ngôn ngữ cơ thể ngược đời này ở Bungari, dược sĩ Chu Bá Nam bảo: Theo các nhà ngôn ngữ học, Bungari thuộc vùng núi Bancăng, phần phía Bắc của Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp cổ có thói quen "gật" là "lắc" và "lắc" là "gật", ngược với những vùng khác trên thế giới. Sau này, do giao lưu Địa Trung Hải, người Hy Lạp hòa nhập với các dân tộc khác, trong khi vùng núi phía Bắc vẫn bảo thủ giữ lại thói quen cũ. Bởi vậy, ngày nay, trong chương trình dạy tiếng Anh cho người Bungari trên tivi, người ta phải dạy cả "lắc" và "gật". Yes: Gật. No: Lắc. Nghĩa là đồng ý thì gật, không đồng ý thì lắc. "Tuy vậy, nếu không muốn lằng nhằng và sợ hiểu lầm, tốt nhất ở Bungari khi được hỏi chỉ nên nói "Đa" (có) hay "Ne" (không), và cố giữ cho đầu không lắc mà cũng chẳng gật" - Dược sĩ Chu Bá Nam nói


  •   Trịnh Chu

Kỳ lạ: Hòn đá tự rực sáng trong đêm

ngày

Cất giữ hòn đá trong nhà hơn 10 năm, đến nay ông Hùng mới phát hiện nó có khả năng tự phát sáng với ánh sáng xanh đẹp mắt khi để trong bóng tối.
Kỳ lạ: Hòn đá tự rực sáng trong đêm - 1
So sánh màu sắc của hòn đá khi để ngoài trời sáng (bên trái) và ở trong bóng tối (bên phải).
Là một nhà sưu tập đá có tiếng ở tỉnh Đồng Nai, ông Châu Chí Hùng đã đi khắp nơi tìm về những hòn đá độc đáo từ ngoại hình cho đến thành phần, xuất xứ cũng như thời gian tồn tại. Theo chia sẻ của ông Hùng, những hòn đá trong bộ sưu tập của ông chủ yếu có xuất xứ tại Việt Nam, đặc biệt là các khu vực như Khánh Hòa, Bình Định,… Ngoài ra, một số ít còn có nguồn gốc từ nước ngoài.
Trong số đó có một hòn đá cực kỳ đặc biệt mà ông chỉ mới vô tình phát hiện ra gần đây. Hòn đá đặc biệt này đã tồn tại trong nhà ông từ hơn 10 năm nay, nhưng cách đây hơn chục này, trong một lần đi vệ sinh vào lúc nửa đêm thì ông mới vô tình nhìn thấy nó phát sáng một cách kỳ lạ. Ánh sáng phát ra có màu xanh dương, ở nơi càng tối thì nó càng sáng.
“Chuyện đã xảy ra hơn 10 ngày rồi. Trước nay tôi vẫn nghĩ nó chỉ là một hòn đá bình thường như bao hòn đá khác, nhưng tôi đã rất bất ngờ khi nhìn thấy nó phát sáng lúc nửa đêm. Nếu không bắt gặp nó phát sáng lúc đó thì bây giờ chắc có lẽ tôi chưa thể biết được sự bí ẩn của nó”, ông Hùng chia sẻ.
Theo thông tin do ông Hùng cung cấp, hòn đá lạ này nặng khoảng 6kg và dài 25cm. Riêng về thời gian và địa điểm tìm thấy thì ông chưa thể xác định được, bởi hòn đá này được cất giữ cùng với hàng loạt các hòn đá khác do ông sưu tầm trong hàng chục năm qua tại khắp các vùng miền. Còn hơn 1.000 hòn đá khác trong bộ sưu tập đang được trưng bày tại An Phát Quán (thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) thì ông mới ghi chú chính xác thời gian tìm thấy, xuất xứ cũng như thành phần cấu tạo.
Bản thân ông Hùng đã lục tìm khắp các tài liệu mình đang có và trên internet, nhưng vẫn chưa thể tìm hiểu được thành phần, xuất xứ của hòn đá kỳ lạ này.
Được biết, thạc sĩ Đinh Quang Sang và thạc sĩ Phạm Tuấn Long, cán bộ giảng dạy bộ môn khoáng thạch của Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM) đã ghé thăm và “mục sở thị” hòn đá bí ẩn này. Song chưa ai có thể đưa ra bất kỳ đánh giá nào về nó.
Kỳ lạ: Hòn đá tự rực sáng trong đêm - 2
Ông Hùng là người phát hiện ra hòn đá đặc biệt này.
Ngoài ra, các nhà khoa học trên có muốn được cắt một phần hòn đá về nghiên cứu, nhưng tạm thời ông Hùng chưa muốn thay đổi ngoại hình, hiện trạng của hòn đá này nên vẫn giữ nguyên vẹn.
Bên cạnh đó, bạn bè của ông Hùng là các nhà chơi cây cảnh, đá quý nổi tiếng tại TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai,… cũng đã trực tiếp nhìn thấy hòn đá lạ này. Tất cả đều cảm thấy ngạc nhiên trước khả năng đặc biệt của nó nhưng chưa thể đưa ra lời giải thích.
Mặc dù là một người sưu tập đá và cây kiểng, nhưng khá bất ngờ khi ông Hùng chia sẻ, ông là một kỹ sư xây dựng học ra từ Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM. Trong quá trình theo đuổi niềm đam mê, ông Hùng còn viết cuốn sách “Đá cảnh Việt Nam: Trào lưu thưởng ngoạn - Cảm thức nguyên sơ” được xuất bản vào năm 2010 bởi NXB Sài Gòn. Tuy nhiên, tác phẩm này ông chỉ in khoảng 1.000 cuốn và chỉ cho, tặng bạn bè, người thân chứ không bán. Hiện ông chỉ còn giữ một vài cuốn làm kỷ niệm.
  • Ngọc Phạm (Khampha.vn)

10 thành phố rực rỡ nhất thế giới

Với những ngôi nhà mang màu sắc tươi sáng, St John ở Canada là một trong những thành phố rực rỡ nhất thế giới, còn Buenos Aires nổi tiếng bởi những bảo tàng ngoài trời.
thành phố sắc màu
 Izamal, “thành phố ma thuật” ở Mexico, luôn ngập tràn màu nắng với những ngôi nhà sơn màu vàng. Thành phố mang lại cho con người cảm giác ấm áp trong mọi điều kiện thời tiết. Những con đường đá cuội nối liền các nhà thờ bằng đá vôi và các tòa nhà chính phủ mang màu sắc tươi sáng. Nhà thờ San Antonio de Padua từ thế kỷ XVI thu hút khách thập phương bởi những câu chuyện lịch sử và thần thoại.
thành phố sắc màu
St John, thủ phủ tỉnh Newfoundland và Labrador, là thành phố lâu đời nhất ở Canada với những kiến trúc rực rỡ. Ở đoạn đường “Jellybean Row”, các ngư dân thường sơn tường nhà màu tươi sáng để mọi người có thể dễ dàng nhìn thấy chúng từ biển. Chính vì thế, St John trở thành một trong những thành phố rực rỡ nhất thế giới.
thành phố sắc màu
Rio de Janeiro, thành phố ở Brazil, nổi tiếng bởi những đường phố đầy màu sắc. Năm 2010, chính phủ Brazil chủ trương trang trí lại các khu ổ chuột. Hai nghệ sĩ Hà Lan, Haas và Hahn, đã biến nơi đây thành một bức tranh khổng lồ. Ngày nay, những đường phố rực rỡ ở thành phố Rio de Janeiro trở thành điểm thu hút khách du lịch với những ngôi nhà đa sắc và tia sáng cầu vồng tỏa ra từ các bức tường.
thành phố sắc màu
Wroclaw, thủ phủ tỉnh Dolnośląskie, là một trong những thành phố lộng lẫy nhất Ba Lan với hàng loạt điểm thu hút du khách như hàng trăm cây cầu, nhà hàng, quán cà phê, các di tích văn hóa và lịch sử. Tuy nhiên, điểm nổi bật nhất của thành phố nằm ở những ngôi nhà đầy màu sắc mang phong cách kiến trúc và thiết kể cổ.
thành phố sắc màu
Buenos Aires, thủ đô Argentina, nổi tiếng với những bảo tàng ngoài trời ở khu La Boca. Khách du lịch thích đi bộ dọc theo phố Caminito ngắm những bức bích họa và nghệ thuật graffiti của các nghệ sĩ đường phố. Khu phố của dân lao động ở cửa sông Riachuelo gồm những ngôi nhà rực rỡ, giống như một hộp bút chì màu khi chúng ta quan sát từ xa.
thành phố sắc màu
Valparaiso là trung tâm văn hóa, lịch sử của Chile với một loạt các bảo tàng, thánh đường, nhà thờ và các tòa nhà thuộc địa. Người dân nơi đây sống trong những ngôi nhà rực rỡ. Họ yêu thích sáng tạo nghệ thuật, vẽ các bức bích họa phóng túng, tạo nên vẻ lộng lẫy cho cả thành phố.
thành phố sắc màu
Nyhavn là một thị trấn ven sông ở Copenhagen, thủ đô Đan Mạch, kéo dài từ Kongens Nytorv đến bến cảng phía nam Nhà hát Hoàng gia. Các tòa nhà rực rỡ sắc màu được xây dựng trong thế kỷ XVII – XVIII tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy cho cả thị trấn.
thành phố sắc màu
Burano là một trong 4 hòn đảo xinh đẹp thuộc thành phố Venice, Italy. Những đường phố, kênh đào ở đây nối liền những ngôi nhà rực rỡ và các bức tường đầy các hình vẽ. Trong quá trình xây dựng, chủ đầu tư phải xin chỉ thị từ chính quyền về màu sơn của ngôi nhà nhằm đảm bảo tính liên kết về màu sắc của các công trình kiến trúc trên đảo.
thành phố sắc màu
Pattaya, Thái Lan, là một điểm du lịch hấp dẫn với những món ăn hấp dẫn và các danh lam thắng cảnh. Đặc biệt, những ngôi nhà và khách sạn ở đây đều có màu sắc rực rỡ, tạo nên sức quyến rũ kỳ lạ. Người dân luôn cố gắng tạo ra màu sắc tươi vui cho thành phố.
thành phố sắc màu
Jodhpur, bang Rajasthan, Ấn Độ, nổi tiếng với những ngôi nhà màu lam sẫm. Màu xanh tạo cảm giác yên bình và mát mẻ cho thành phố nằm ngay giữa lòng sa mạc. Những chiếc xích lô ở đây cũng có màu xanh lơ để phù hợp với màu sắc chung.
  • (Theo Zing/ Ảnh: Wonderslist)

Tình cờ mà nên ... kiệt tác


Người ta từng kể lại câu chuyện về sự khởi đầu văn nghiệp của nữ văn sĩ Mỹ Harriet Beecher Ttowe (1811-1896), tác giả cuốn truyện "Túp lều bác Tôm" từng được dịch in và rất được hoan nghênh ở Việt Nam. Bà đến với văn học chẳng qua là bởi một sự tình cờ: Bà đọc phải một cuốn sách viết rất dở. Bà bày tỏ thái độ chê trách và khi nhận được sự "thách thức" của chồng, bà liền lao vào viết truyện và không ngờ đã đạt được vinh quang chói lọi. Sách bà viết được độc giả khắp nơi trên thế giới mến mộ và tên tuổi bà trở nên bất tử. 
Robert Louis Stevenson - tác giả "Đảo giấu vàng".
Một nhà văn Mỹ khác là James Fenimore Cooper  (1789 - 1851) cũng "đến" với văn học bằng cách tương tự như vậy. Khi đã ba mươi tuổi, Cooper chưa từng viết lấy một dòng văn, cũng như chưa từng nảy ra một ý đồ nào về việc sáng tác. Một đêm nọ, như thường lệ, ông đọc cho vợ nghe một cuốn tiểu thuyết Anh. Đột nhiên, ông ném mạnh quyển sách xuống sàn nhà và nói:
- Viết thế này mà cũng gọi là viết! Tôi viết còn hay hơn!
Bà vợ nghe vậy thì bĩu môi:
- Vậy thì anh cứ thử viết đi.
Không phải thử mà Cooper viết thật. Mặc dù quyển sách đầu tay của ông chưa thật thành công như mong muốn, nhưng đến quyển thứ hai, quyển "Tên gián điệp", thì tên tuổi ông đã được cả thế giới biết đến. Sau đó, Cooper còn viết đến mấy chục cuốn sách về thiên nhiên, về cuộc sống của người da đỏ. Ông đặc biệt nổi tiếng với cuốn "Người cuối cùng của bộ lạc Mohicans", cuốn sách đã được dựng thành phim và được dịch in ở Việt Nam. Cooper hiện vẫn được xem là một trong những nhà văn Mỹ đặc sắc nhất thế kỷ XIX.
Robert Louis Stevenson (1850-1894) là nhà văn Scotland nổi tiếng thế giới. Trong sự nghiệp văn học đồ sộ của mình, gồm thơ ca, truyện vừa, truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký… thì mảng sách viết cho thiếu nhi của ông không nhiều. Tuy nhiên, bởi giá trị lớn lao của nó mà nhắc đến Stevenson, người ta dường như quên đi khá nhiều tác phẩm mà lúc sinh thời, nhà văn đã dày công sáng tạo. Có thể nói, đến nay, nhắc tới Stevenson, hầu hết độc giả chỉ còn lưu ý tới cuốn tiểu thuyết rất đỗi hấp dẫn của ông, cuốn "Đảo giấu vàng" mà thôi.
Đây là một kiệt tác có thể xếp bên cạnh những tác phẩm mẫu mực được toàn thể thiếu nhi thế giới hâm mộ, như: "Gulliver du ký", "Robinson Crusoe"… Sự ra đời của cuốn sách này cũng hết sức tình cờ, ngẫu nhiên và vì thế cũng… hết sức độc đáo.
Hôm ấy, bất chợt cậu bé con riêng của vợ Stevenson năn nỉ ông bố dượng viết cho "một cuốn truyện thật lý thú". Thấy Louis (tên cậu bé) đang cầm bút loay hoay vẽ một cái gì đó, nhà văn cũng cầm bút vẽ phác bản đồ một hòn đảo tưởng tượng. Hình bản đồ trông tựa như "một con rồng mập mạp đứng thẳng bằng hai chân sau". Stevenson viết lên bản đồ những cái tên kỳ lạ như: Đồi Kính viễn vọng, đảo Bộ xương người, mũi Tàu kéo. Và sau đó ông bắt tay vào viết cuốn truyện. Sau này, trong bài báo có tính chất hồi ký "Đảo giấu vàng - cuốn sách đầu tiên của tôi", Stevenson đã cho hay: "Tấm bản đồ trong chừng mực nào đấy đã đẻ ra cốt truyện. Tôi có thể nói rằng, chính nó cũng là cốt truyện". Bởi vậy, khi đưa bản thảo cho Nhà xuất bản Ketsel in, tác giả đã gửi kèm tấm bản đồ đó. Tiếc thay, khi in thử, tấm bản đồ đó đã bị thất lạc. Ngay lập tức, tác giả đã phải kỳ công vẽ một tấm bản đồ khác…
  •   Lê Anh Tài

Bi kịch gia đình của các bậc tài danh


Các nhà văn, nhà thơ, dù sau này có được hậu thế suy tôn là thiên tài, thì lúc sinh thời, như bất kì một công dân nào trên thế giới, họ đều không thể tách khỏi cái đại gia đình mà họ đã sinh ra. Và niềm vui, nỗi buồn nhiều khi cũng bắt nguồn từ đây. Thực tế đã cho thấy có không ít nhà văn, nhà thơ từng phải chịu nỗi đau đớn, giày vò bởi chính những ông bố, bà mẹ, người vợ, thậm chí là những đứa con của mình.

Văn hào Mỹ Jack London.
Thi hào Nga Aleksandr Pushkin (1799-1837)
Mặc dù sinh ra trong một gia đình thuộc dạng quyền quý, song suốt những năm dài tuổi thơ, Pushkin dường như không mấy được sống trong vòng tay âu yếm của bố mẹ. Chính vì lẽ đó mà người ta nhận thấy hình ảnh người mẹ đã "vắng bóng" trong thơ ông. Trường hợp người bố của Pushkin lại còn "ngán ngẩm" hơn. Chính Pushkin đã viết rằng: Tính tình cáu gắt và thái độ hống hách của bố ông là nguyên nhân khiến hai bố con không thể nào ngồi nói chuyện với nhau được lâu. Có thời kỳ, bố của nhà thơ được chính quyền địa phương giao cho nhiệm vụ "giám sát" các hoạt động của con trai mình. Và trong một lần bị kích động, lợi dụng không có người làm chứng, ông này đã chạy từ trong nhà ra ngoài sân mà la lên rằng, chính Pushkin "thằng con trai bất hiếu" đã đánh ông, đã "cố tình đánh cho ông chết". Không ít lần ông ta nói với mọi người rằng Pushkin là "đứa con quái dị", là "thằng con suy đốn".
Thi hào Anh Gordon Byron (1788-1824)
Sự tình xảy ra thật vô lý. Bẩm sinh, Byron có một cẳng chân bị teo. Đây là điều làm ông rất đau khổ, nhất là khi bị chúng bạn chế giễu. Ấy thế mà, hòa đồng cùng những kẻ chế giễu đó lại có cả... mẹ ông, người đã sinh ra đứa con khuyết tật kia! Điều này đã in sâu trong ký ức Byron, khiến sự mặc cảm và nỗi phẫn uất trong ông luôn chan chứa. Byron - trong suốt cuộc đời mình - đã viết hàng ngàn trang thơ, nhưng ta khó có thể đọc thấy ở đó những vần thơ ông thể hiện tình cảm của mình với mẹ.
Văn hào Nga Ivan Turgenev (1818-1883)
Trường hợp của văn hào Nga Ivan Turgenev cũng bi đát không kém. Bà mẹ ông, do mâu thuẫn với các con, đã có những quyết định "trừng phạt" rất tai nghiệt. Vốn khá giả, là chủ của những trang trại lớn, nhưng khi các con bà rất lễ độ đề nghị bà trích cho họ một khoản thu nhập nhỏ bé nào đó để họ khỏi quấy rầy bà vì những chuyện vặt vãnh, bà này đã "bỏ ngoài tai". Thái độ "độc đoán và chuyên quyền" của bà đã khiến Turgenev mất tự chủ. Ông giận thay cho người anh cả và thẳng thừng nói với bà mẹ rằng, việc bà đưa một người đã có vợ có con phải chịu nhiều thiệt thòi khó khăn (ý nói gia đình người anh trai) vào một tấn hài kịch như vậy là rất tàn nhẫn. Bà này không những không thay đổi mà còn ngày càng có những hành xử quái đản hơn. Theo Turgenev, mục tiêu duy nhất của mẹ ông là làm thế nào cho các con trai bị phá sản. Chính vì lẽ đó, trong bức thư cuối cùng gửi cho viên quản gia ở trang ấp của mình (viết trước khi mất) bà này đã ra lệnh cho viên quản gia phải bán toàn bộ dinh cơ đó "với một giá thật rẻ mạt hoặc thậm chí đốt nó đi nếu cần". Quả là cách "trừng phạt" con cái thật tàn nhẫn.
Văn hào Đức Jacob Grimm (1785-1863)
Tên đầy đủ của ông là Jacob Ludwig Karl Grimm. Ông sinh tại Hanau, một thành phố nhỏ thuộc bang Hessen. Bố mẹ ông sinh hạ được 9 người con. Năm Jacob lên 11 tuổi thì bố ông bố - ông Phillipp Wilhelm Grimm - qua đời. Cả gia đình của Jacob phải chuyển từ làng quê yên bình lên một căn hộ chật hẹp ở thành phố. Cái chết của ông Phillipp khi đó đã để lại một khoảng trống vắng lớn lao trong đời sống vật chất lẫn tinh thần của ông và người em trai Wilhelm Grimm. Đọc "Truyện cổ Grimm", ta thấy hình ảnh người bố thường hiện lên với vẻ nhân từ, vị tha, trong khi quyền lực thực sự trong gia đình thường rơi vào tay các bà mẹ kế độc ác (như mẹ kế của nàng Bạch Tuyết hay mẹ kế của cô bé Lọ Lem). Theo các nhà tâm lý, điều này có căn nguyên từ hoàn cảnh riêng của anh em nhà Grimm - những người phải chịu cảnh thiệt thòi của những đứa trẻ mồ côi bố từ quá sớm. 
Văn hào Nga Lev Tolstoy cùng vợ.
Văn hào Nga Lev Tolstoy (1828-1910)
Năm 2010, nhân 100 năm ngày mất của đại văn hào Lev Tolstoy, NXB Alma Books (Nga) đã bất ngờ cho ra mắt đông đảo công chúng cuốn hồi ký của bà Sonia, vợ Tolstoy. Cứ theo nội dung của cuốn hồi ký, bạn đọc có thể thấy, bà Sonia đã tỏ ra khá thành công trong việc góp phần "hạ bệ" một Tolstoy thần tượng khi phơi trải trước mắt hậu thế chân dung một ông già "cục cằn, khó tính, không mấy đoái hoài tới gia đình và luôn miệng kêu ca phàn nàn...". Có người đã xem cuốn hồi ký của bà Sonia như một sự "trả đũa" người chồng vĩ đại của mình khi mà trước đấy, thông qua thư từ, hồi ký của chính Tolstoy, thi thoảng người đọc lại thấy bà hiện lên như một con người tham lam và... tai quái.
Các tài liệu công bố trước đây đều cho hay, những năm tháng cuối đời Tolstoy đầy bi kịch. Đỉnh điểm xung đột là khi ông soạn thảo chúc thư, trong đó có những điểm mà người thân trong gia đình ông cho rằng "bất lợi" đối với họ. Tolstoy sinh hạ được cả thảy 7 người con, trong đó có người con trai - như chính tiết lộ của Tolstoy, rất ác cảm với bố "Một việc ngạc nhiên và đáng thương - hắn đau khổ và ghen tị với tôi, và lòng ghen ấy đang chuyển sang lòng căm thù" - Tolstoy cho biết. Điều đáng ngạc nhiên là người con này cũng theo đuổi nghệ thuật. Anh ta viết văn, làm tượng và trong cuốn nhật ký của mình, anh ta nói rõ là anh ta căm ghét bố mình như thế nào.
Riêng bà Sonia thì khỏi nói, bà hành hạ chồng bằng nhiều cách. Sự thực thì không phải bà không yêu ông, song vì mối "quan tâm" của bà đối với bản chúc thư kia còn lớn hơn, nên bà đã "để mắt" tới Tolstoy một cách thật... đáng sợ, khiến ông cảm thấy cuộc sống lúc nào cũng như địa ngục. Van xin Tolstoy hủy bản chúc thư không được, bà quay sang đe dọa... tự vẫn. Khách đến chơi nhà Tolstoy thi thoảng lại chứng kiến cảnh một bà lão kêu la điên loạn. Thậm chí, không hiếm lần bà chạy ra vườn, lăn lộn trên cỏ, dọa sẽ để cho mình bị cảm lạnh, khiến người chồng già phải xấu hổ trước bàn dân thiên hạ. Không dừng ở đấy, Sonia còn ngầm cho người thân cận ghi tốc ký tất cả những chuyện cãi cọ giữa hai vợ chồng, cốt để làm bẽ mặt ông. Có những đêm, bà "khủng bố" ông bằng cách vờ tử tự bẳng khẩu súng... đồ chơi của trẻ con!
Tức nước vỡ bờ, sự chịu đựng của Tolstoy đã hết giới hạn. Ở tuổi 82, cực chẳng đã ông phải bí mật bỏ nhà ra đi, để rồi trút hơi thở cuối cùng tại phòng chờ của một nhà ga. Một trong những câu nói cuối cùng của ông mà người ta ghi lại được là: "Tôi sẽ đi đâu đó để không làm phiền ai cả. Hãy để cho tôi yên".
Văn hào Mỹ Jack London (1876-1916)
Jack London là một trong những nhà văn hiện đại Mỹ có tác phẩm được dịch in nhiều nhất đồng thời cũng là một trong số những nhà văn Mỹ được mến mộ nhất ở Việt Nam. Ông sinh ra tại San Francisco (Mỹ) trong một gia đình nghèo. Thuở nhỏ, ông bị xem là "con hoang". Mãi tới khi đã lớn, ông mới biết cha đẻ của mình chính là nhà chiêm tinh William Chaney. Ông bèn viết thư cho cha, song Chaney nhất quyết cự tuyệt. Cuộc sống vốn đã túng bấn của London vì thế càng thêm khốn khó. 
Jack London đã phải trải qua một tuổi thơ đói khát. Trong một cuốn tự truyện, ông từng kể năm lên 7 tuổi, ông đã phải ăn cắp một chiếc bánh sanwich của cô bé hàng xóm. Tới năm lên 9 tuổi, ông mới có chiếc áo sơ mi đầu tiên trong đời. Năm lên 10 tuổi, ông phải đi giao báo. "Tôi phải dậy từ lúc trời còn mờ tối để kịp giờ học đầu tiên sau khi phát hành báo xong". Mặc dù ham mê đọc sách từ nhỏ, song tới năm 14 tuổi, do hoàn cảnh, Jack phải bỏ học. Từ đây, ông bắt đầu cuộc sống phiêu bạt với đủ thứ nghề: làm công nhân nhà máy đồ hộp, nhà máy điện, nhà máy đay. Năm 17 tuổi, Jack London trở thành thủy thủ. Ông theo tàu sang Nhật Bản; đi săn hải cẩu ở Thái Bình Dương. Ông từng bị bắt vì tội… "lang thang"...
  •   Trần Ngọc Thắng

Báu vật Hoàng gia Việt Nam ở Paris


Triện vàng ròng hình rồng năm móng ngậm hạt châu của Hoàng đế Gia Long, 
người sáng lập ra triều Nguyễn.

Từ 9/7 đến 15/9, tại bảo tàng Guimet, Paris diễn ra cuộc triển lãm nghệ thuật hoàng gia của các triều đại Việt Nam kỷ niệm 40 năm quan hệ Pháp - Việt.

Trong hình là triện vàng ròng hình rồng năm móng ngậm hạt châu của Hoàng đế Gia Long, người sáng lập ra triều Nguyễn.
Trong hình là triện vàng ròng hình rồng năm móng ngậm hạt châu của Hoàng đế Gia Long, người sáng lập ra triều Nguyễn. 
Nhưng cuộc triển lãm Việt Nam Rồng bay, L’Envol du dragon – Art royal du Vietnam nhìn lại cả nhiều giai đoạn nghệ thuật Việt Nam, từ thời Đông Sơn và qua cả các giai đoạn sau đó.
Nhưng cuộc triển lãm Việt Nam Rồng bay, L'Envol du dragon - Art royal du Vietnam, nhìn lại cả nhiều giai đoạn nghệ thuật Việt Nam, từ thời Đông Sơn và qua cả các giai đoạn sau đó. 
Họa tiết trên gốm sứ thời Lý
Họa tiết trên gốm sứ thời Lý
Điêu khắc hình rồng thời Lê.
Điêu khắc hình rồng thời Lê
Tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay.
Tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay
Văn hóa ảnh hưởng Phật giáo sâu sắc của Việt Nam được trình bày tại đây.
Văn hóa ảnh hưởng Phật giáo sâu sắc của Việt Nam được trình bày tại đây
Ấm vàng thời Nguyễn.
Ấm vàng thời Nguyễn
Một sắc phong bằng chữ Hán cho làng Vạn Phúc, tỉnh Hà Đông của vua Lê Thần Tông.
Một sắc phong bằng chữ Hán cho làng Vạn Phúc, tỉnh Hà Đông của vua Lê Thần Tông
Một sắc phong bằng chữ Hán cho làng Vạn Phúc, tỉnh Hà Đông của vua Lê Thần Tông.
Các vật dụng bằng vàng hoặc bạc từ cung vua, phủ chúa thời phong kiến Việt Nam
Tranh vẽ mô tả sinh hoạt của người Việt một thời.
Tranh vẽ mô tả sinh hoạt của người Việt một thời
Tranh vẽ các vị quan võ, chưởng cơ, cai đội thời Nguyễn.
Tranh vẽ các vị quan võ, chưởng cơ, cai đôi thời Nguyễn
Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu trên tranh sơn dầu của Eduardo Benito. Triển lãm do bà Sophie Makariou chủ trì với sự cộng tác của các ông Nguyễn Quốc Bình, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Pierre Baptiste, Bảo tàng quốc gia về nghệ thuật châu Á - Guimet. Ảnh của Nguyễn Giang.
Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu trên tranh sơn dầu của Eduardo Benito. Triển lãm do bà Sophie Makariou chủ trì với sự cộng tác của các ông Nguyễn Quốc Bình, Bảo tàng lịch sử Việt Nam và Pierre Baptiste, Bảo tàng Quốc gia về nghệ thuật châu Á - Guimet. 
  • Ảnh của Nguyễn Giang