Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 3 năm 2015

Ngẫu hứng Trần Tiến 2

Anh bảo anh Sơn (Trịnh Công Sơn) cần phải nghiên cứu giao hưởng, và viết cái gì đó lớn hơn. Anh Sơn bảo: “Chịu khó học thì cũng viết được. Nhưng chưa chắc một bản giao hưởng tồi lại có thể giá trị hơn một câu hò hay".

Anh Tiến kể chuyện Lập nghe…
Anh nấu phở được lắm, em ạ. Ngày nào bảo vợ rủ bạn bè, anh dạy cho. Có ngày anh lừa được 3800 USD tiền dạy nấu phở đấy.
Ngẫu hứng Trần Tiến 2 - Ảnh 1
Nhà anh to thế, ngày mới giải phóng Thủ đô phải nhường lại (tất nhiên không có giấy tờ gì). Đã thế, mẹ anh phải giặt giũ giường chiếu, chăn màn cho cái nhà trọ phố ga, chính là nhà mình. Đau đớn. Anh còn bé phải xuống giặt giúp mẹ trong cái nắng thiêu đốt của ngày giải phóng. Anh không sao quên lũ rệp. Rệp từ giường leo vào người, vào bàn tủ chăn chiếu, lại còn hãnh diện leo lên trần nhà nhìn xuống. Coi mẹ con anh, nhà tư sản đếm trên đầu ngón tay của Hà thành ngày bình yên… như rác.
Rồi một ngày mẹ anh bị “chuyển công tác“. Đi rửa bát cho một hàng phở. Tất nhiên anh thương mẹ, đi rửa bát giúp mẹ.
Thằng cửa hàng trưởng còn bắt anh nắm than, rửa thùng phở to đùng. Hồi đó anh mê hát. Cứ rúc trong thùng phở to đùng nghêu ngao những bài ca cách mạng… Nhưng tất nhiên là của... Nga la tư. Anh đang học lớp 9 PT mà.
Ngẫu hứng Trần Tiến 2 - Ảnh 2Hình minh họa
Mỗi sớm, thợ được nhà nước tặng một tô phở “không người lái”. Ông phụ trách chuyên môn, tức người nấu phở chính, thấy kỳ kỳ, ai cũng tô phở “không người lái”, mà khi ông đùa, lấy đũa lật lên... toàn thịt.
Là người gốc Phúc Kiến lang bạt kỳ hồ vê xứ Giao Chỉ. Dân nấu phở toàn từ Giao Cù Nam Định lên Kẻ Chợ hành nghề. Làng ông chỉ có họ Cồ. Ông giỏi nhất, trong đám phở gánh nổi tiếng Hà Thành tên Cồ Cử.
Ông Cồ Cử chú ý quan sát thấy tô phở “chính phủ cho” của anh giai em  chỉ là phở ” chân chính”, không có đoạn ”ăn cắp”. Thế là, không biết sao, bốn đứa con trai thì không truyền bí quyết nấu phở, chỉ truyền cho kẻ lơ ngơ như anh.
Chỉ hai năm sau anh đã là ca sỹ khá nổi tiếng. Một hôm máu lên, anh tìm cách mời cả Công ty ăn uống Hoàn Kiếm đi xem anh hát. Ông Cồ Cử hồn nhiên đứng dậy giữa rạp.
- Ê , thằng Tiến rửa bát nhà mình kìa. Hay quá, con trai !
Thực ra  anh vẫn ân hận. Bí quyết nhà Cồ,  chót giao nhầm cho kẻ ngu. Giá anh cứ nấu phở thì âm nhạc Việt Nam vẫn tiến lên, có gì khác đâu.
 Thời bao cấp đói chết mẹ. Anh Hiếu, chị Huyền đi hát phục vụ xong đói quá, lại bò về nhà mẹ, sai thằng em đi bắt trộm chim bồ câu của ông bác để nấu cháo. Anh leo lên mái nhà ba lầu, thò tay không vậy mà cũng bắt được. Bây giờ nghĩ lại thấy anh hùng thật. Cả thời tuổi trẻ chả thấy nghệ thuật, triết học, triết cháo gì sất, chỉ thấy thèm ăn. Rủ thằng Lưu Quang Vũ đi cướp tàu hỏa chở xe đạp gì đó của Tàu viện trợ, à xe gì nhỉ… quên rồi. Xe Phượng Hoàng. Thằng Vũ hăm hở lắm. Kế hoạch nó bày ra  cứ như cao bồi viễn tây. Hôm sau đến giờ hành sự, nó lại ha hả cười. Rồi hai thằng lại bỏ hết đồng tiền cuối cùng nhờ thằng Hưng “đói” (Hoàng Hưng) đi buôn giấy ảnh bỏ đi của bộ Quốc phòng. Giấy ảnh chả thấy đâu, Thằng Hưng “đói” bị truy nã. Ông trung tướng Hữu Ước kể lại, ngày ấy vì làm đàn em các anh, loong toong mang dùm giấy ảnh mà phải đi tù 2 năm. Chả biết có đúng không.
Cuộc cãi vã đáng để ý nhất là đối đầu triết học với anh Sơn (Trịnh Công Sơn) và Duật (Phạm Tiến Duật). Tất nhiên là hai buổi riêng. Duật điên quá kêu người bỏ tù anh ở ngay nhà Trọng Khôi. Còn anh Sơn chỉ cười cười. Biết mình thua thằng con nít nên anh không chấp. Anh bảo anh Sơn cần phải nghiên cứu giao hưởng, và viết cái gì đó lớn hơn. Anh Sơn bảo: “Chịu khó học thì cũng viết được. Nhưng chưa chắc một bản giao hưởng tồi lại có thể giá trị hơn một câu hò hay.”
Anh ấy có lý em nhỉ.
Dân Sinh xin gửi tới độc giả một ca khúc trong album "Có một thời như thế"
Điệp Khúc Tình Yêu
Tác giả: Trần Tiến
Thể hiện: Ca sĩ Hồng Nhung
 
Theo Facebook Nguyễn Quang Lập

Thứ Ba, ngày 17 tháng 3 năm 2015

Trần Tiến - Nguyễn Quang Lập "đấu hót"

16/03/2015 19:58

Trần Tiến, một nhạc sỹ tài hoa với nhiều bài hát có sức lan toả rộng rãi, trong đời sống thực là một con người đào hoa, bụi bặm, lấm láp... Nguyễn Quang Lập, một nhà văn tài năng, cũng rất "rắc rối" và "phức tạp" trong đời thực... Khi hai cá tính này trao đổi, tâm sự với nhau về đời, về văn, về nhạc... sẽ hé lộ nhiều chuyện về lao động sáng tạo nghệ thuật, rất thú vị, như muôn vàn lao động khác của đời sống dân sinh. Có khoảng gần 30 đoạn "đấu hót nội tâm" của nhạc sỹ Trần Tiến gửi cho nhà văn Nguyễn Quang Lập, gọi là Ngẫu hứng Trần Tiến được đánh số thứ tự từ 1, 2, 3... là những đoạn văn xuôi "rất đặc biệt" mà baodansinh.vn muốn chia xẻ với bạn đọc. Trước hết xin giới thiệu đoạn Nguyễn Quang Lập "hí họa" về Trần Tiến...

Kỳ I: KIẾP "DU CÔN CÔN CA"
Hôm đến dự lễ 100 năm ngày sinh Lưu Trọng Lư, gặp Trần Tiến, chưa kịp nói chuyện gì, anh đã ghé tai mình, nói công tác nhậu của mày dạo này thế nào? Mình cười, nói yếu kém đi rất nhiều nhưng vẫn còn chơi được. Anh đập đùi vui vẻ, nói thế là hay rồi, xong cuộc này về nhà Nguyễn Mạnh Tuấn nhậu nhé. Tao hẹn với nó rồi. Mình nói anh cũng quen cụ Lưu Trọng Lư à. Anh nói chứ sao, tao có một chương trình thơ Lưu Trọng Lư nhạc Trần Tiến rất ấn tượng, đến chết cũng không quên.

Mình đến dự lễ vì tình đồng hương chứ không hề quen biết cụ Lưu Trọng Lư. Nhà mình với nhà cụ đối diện nhau qua sông Gianh. Nếu vạch một đường vuông góc với sông Gianh từ nhà cụ thì đường đó băng qua nhà mình ở bên kia bờ. Cụ rời nhà đi làm cách mạng từ khi mình chưa đẻ làm sao mình biết được cụ. Mình rất tự hào được là đồng hương của cụ, dù cụ ở huyện Bố Trạch nhưng lúc nào mình cũng coi cụ cùng làng cùng xóm với mình.  Anh Lưu Trọng Văn, con trai cụ, gọi điện cho mình, nói chết quá mày ạ, cuốn tuyển tập Lưu Trong Lư in lộn huyện Bố Trạch quê tao ra huyện Quảng Trạch quê mày, dân Bố Trạch đang phản đối ầm ầm. Mình nhăn răng cười he he, nói rứa thì dân Quảng Trạch lời to.
Thật sự nể anh em Lưu Trọng Văn quá, chả cần biết nhà nước có nhớ hay không, tự mình tổ chức một lễ kỷ niệm cho cha thật sang trọng và ấm áp, khách dự toàn những người nổi tiếng nhất làng văn nghệ trong thành phố. Có cả cụ Phạm Duy, chị Trà Giang. Cụ Nguyễn Văn Tý đi đứng không còn vững nữa cũng cố lết đến, thật cảm động.  Chẳng bù con cái những cụ khác, chết là hết, nhà nước có làm gì thì làm chứ họ chẳng bao giờ nghĩ tới. Có một nhà văn cực nổi tiếng, viết sách rất nhiều, nhưng khi cụ mất đi con cháu trong nhà không hề có ý thức thu gom bản thảo, sách vở của cụ để lưu giữ. Mình muốn tái bản một cuốn sách của cụ, khi hỏi các con cụ thì ai cũng lắc đầu cười trừ, họ chẳng biết cuốn đó giờ nằm ở phương nào. Thế mới biết anh em Lưu Trọng Văn thật có hiếu.
Nhưng buổi lễ dài quá, có lẽ nó lẫn giữa hội thảo với lễ kỷ niệm, càng về cuối càng không biết cái lễ này sẽ kết ra làm sao. Trần Tiến bấm nháy mình chuồn, nói đi ra từng thằng một nhé, đừng để Lưu Trọng Văn thấy, nó buồn. Mình ngồi nghe cũng đã nản, nghe anh rủ là đi liền. Anh khoác vai mình ra xuống cầu thang, nói vẫn biết mình bỏ dở cuộc này là rất tệ nhưng cái tính tao thế, đứng đắn một lúc thì được chứ đứng đắn dài dài là chịu không thấu. Mình cười hì hì, nói anh em mình giống nhau.
Trần Tiến - Nguyễn Quang Lập Trần Tiến và tác giả
Mình quen Trần Tiến từ năm 1987, khi anh kéo băng nhạc Rock đen trắng ra Huế diễn hai đêm, đêm nào người xem cũng chật rạp. Diễn xong anh kéo mình với anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) nhậu nhẹt thâu đêm. Chả hiểu sao đêm thứ hai Thanh Lan bỏ đoàn vào Sài Gòn, một mình Trần Tiến gánh cả chương trình hai tiếng đồng hồ, chương trình vẫn sôi động như thường.  Khán giả vô cùng hào hứng, tuyệt không một ai bỏ về.
Khả năng tự tung tự tác của Trần Tiến thật phi thường. Năm 1992, anh với Hồng Ngọc ghé qua nhà mình ở Quảng Trị, nói tao thấy cái xe Jeep ở Lao Bảo thích quá mà không đủ tiền, mày bày trò cho tao kiếm tiền đi. Mình cười hề hề, nói xong ngay. Nhưng anh tính hát vo à. Anh nói chỉ cần mày kiếm cho tao cái ghi ta thùng là được. Mình ok liền, mượn ngay rạp hát Quảng Trị, rồi lên đài truyền thanh thị xã loan báo, nói a lô a lô nhạc sĩ Trần Tiến và ca sĩ Hồng Ngọc rất cảm động khi đi qua Quảng Trị, mảnh đất 81 ngày đêm máu và nước mắt, đã quyết định dừng chân lại nơi đây, thực hiện một chương trình ca nhạc Tình yêu và Đất nước…. Bà con thị xã Quảng Trị kéo đến chật kín rạp, chưa bao giờ rạp này khách đông đến thế. Với một cái ghi ta thùng, Trần Tiến và Hồng Ngọc chơi trọn một chương trình rất hấp dẫn, dân Quảng Trị sướng ngây ngất. Mấy năm sau hãy còn nhắc.
Trần Tiến kiếm tiền rất dễ nhưng chưa bao giờ thấy anh giàu. Kiếm bao nhiêu anh nhậu bấy nhiêu, nhậu đến xu cuối cùng, chẳng cần biết ngày mai rồi sẽ sống ra sao. Hôm về Huế diễn, anh nhậu với mình đến sáng. Anh gọi bia rượu đồ mồi tơi tới cho hơn chục người nhậu nhẹt say sưa. Mình say, ngủ tới trưa mới tỉnh thì nghe nói anh bắt xe tải vô Sài Gòn rồi. Chả hiểu sao anh không đi tàu lại đi xe tải, mình đoán chắc ông này lãng tử thích đi xe tải vi vu thỏa chí tang bồng, đâu biết anh vét hết tiền nhậu đêm đó, đến nỗi không có tiền mua một cái vé tàu. Năm sau gặp, hỏi thì anh cười khì, nói khổ thân tao, đã không tiền phải xin đi nhờ xe tải, vào đến Bình Thuận xe tải đâm phải một xe tải khác, thằng xế gãy chân, tao nằm đói một ngày trời mới xin được xe khác vô Sài Gòn.
Năm 1996 anh sang Nga, du ca khắp nước Nga. Lúc về gặp mình ở Hà Nội, chỉ thấy anh đứng nói suông không hề kéo mình vào quán như mọi lần. Mình trêu anh, nói bác bây giờ khẳm tiền rồi, chắc đang ở tình trạng thiếu năm phân đầy trăm cây, tiết kiệm ghê quá. Anh moi ra một rúp, nói thu nhập chuyến du ca của tao đây này. Mình chả tin. Anh cười, nói người ta du ca, tao du côn ca. Kiếm được đồng nào nhậu và yêu đồng đó, bò về tới đây được là phúc. Cái kiếp du côn ca của tao thật chán mớ đời.
Hi hi… nghĩ cái số kiếp Trần Tiến cũng hay. Thuở bé nhạc nhẽo chả quan tâm, chỉ chúi mũi học giỏi cả toán lẫn văn, thế rồi bỗng trở thành nhạc sĩ. Trần Tiến học cấp 2 trường Trưng Vương Hà Nội, trường này trước 1962 toàn con gái, sau mới tuyển cả học sinh nam. Anh khoe, nói tao là lứa đầu tiên vác cu về trường Trưng Vương đấy nhé. Cấp 2 Trần Tiến giỏi văn nổi tiếng trường, đã giỏi văn lại hát hay, mấy em học cùng trường mê tít. Lên cấp 3 lại học giỏi toán cực kỳ, giải nhất toán Miền Bắc năm 1963 hay 1964 chi đó. Anh nói chiến tranh đã biến số kiếp tao thành kiếp du côn ca, nếu không có chiến tranh rất có thể tao làm toán giỏi như Ngô Bảo Châu, hèn ra cũng viết văn được như mày.
Đúng vậy. Tốt nghiệp phổ thông vừa lúc chiến tranh phá hoại miền Bắc bùng nổ, Trần Tiến đi TNXP vào tận Bố Trạch, Quảng Bình “phá đá mở đường Trường Sơn”. Từ đó mới tòi ra bài hát TNXP ra tiền tuyến, sau sang Lào anh có thêm bài Cô gái Sầm Nưa. Trần Tiến trở thành nhạc sĩ lừng danh từ khi nào không biết.
Chuyện năm người- Trần Tiến
video
Hồi bé mình nghiện bài Cô gái Sầm Nưa, hát đi hát hát lại cả trăm lần nhưng chả biết tác giả là ai. Một hôm rượu say với anh, mình trương gân cổ hát rống lên mấy câu, sai nhịp lạc phách tùm lum. Anh trợn mắt lên nhìn mình, nói này thằng kia, đừng có xúc phạm bài hát của tao. Khi đó mới biết Trần Tiến có những bài hát rất nổi tiếng từ tuổi hai mươi. Phục lăn.
 Năm 1979 chiến tranh biên giới, khi đó mình đang học năm cuối Bách Khoa, có một nhóm ca khúc chính trị biểu diễn ở sân trường. Ba cô gái rất xinh ôm ghi ta hát bài Những đôi mắt mang hình viên đạn xúc động đến nỗi mình đã bật khóc, cả ngàn sinh viên đêm ấy đứng lặng ngắt, nước mắt rưng rưng. Chả hiểu sao mình cứ đinh ninh bài ấy là của Phan Nhân, hôm qua đây thôi mình mới ớ người, té ra là của Trần Tiến.
Cuộc nhậu ở nhà Nguyễn Mạnh Tuấn kéo dài tới ba giờ chiều, nói đông nói tây cuối cùng cũng quay về câu chuyện biển Đông đang nổi sóng. Trần Tiến có khá nhiều ca khúc chính trị nổi tiếng nhưng anh rất ghét phải ngồi nghe chuyện chính trị. Ngồi nhậu đâu hễ người ta bàn chuyện chính trị là anh kiếm cớ chuồn liền. Có lẽ duy nhất buổi nhậu hôm qua là anh không bỏ về. Anh ngồi im nghe anh em bàn tán, mặt mày buồn xo.
Bất chợt Trần Tiến cất tiếng hát. Anh hát bài Những đôi mắt mang hình viên đạn. Lúc đầu còn hát nhỏ sau anh hát to, rất to. Sự bùng nổ cảm xúc cố kìm nén hiếm hoi của Trần Tiến: Đoàn quân lặng im, nhìn đàn em bé, từng đôi mắt đen xoe tròn, từng đôi mắt mang hình viên đạn, từng đôi mắt sáng lên cháy lên như ngàn viên đạn, từng đôi mắt quê hương trao cho đoàn quân/ Người chiến sĩ hãy giữ lấy… Anh đột ngột dừng lại giữa chừng, ngồi rũ ra không nói gì.
 Rất lâu sau anh ngước lên rưng rưng nhìn mình, nói biển Đông đang nổi sóng mà tao già mất rồi mày ạ. Khốn thế.
Theo FB Xứ Cát - Nguyễn Quang Lập

Bức tranh chưa từng công bố của Trịnh Công Sơn

Đăng Bởi -

Trinh Cong Son
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Không phải một,  mà có đến ba tác giả nổi tiếng cùng đặt cọ, ký tên vào bức tranh độc đáo mà họ vẽ ra trong một dịp tình cờ. Bức tranh chưa hề được công bố này là tác phẩm  kỳ lạ của tình bạn văn nghệ giữa họa sĩ Trịnh Cung, họa sĩ Tôn Thất Văn và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Ba tên tuổi lớn cùng v
Đấy là một bức sơn dầu được treo ở tư gia của nhà báo Kinh Thi (phóng viên báo Bóng Đá). Tranh đẹp, bố cục và màu sắc hài hòa, đường nét tuy có đẳng cấp cao, nhưng lại đơn giản, dễ xem. Điều đặc biệt là bức tranh này có đến ba chữ ký mà trong số đó, ít nhất có đến hai tên tuổi lớn trong làng hội họa Việt Nam: Họa sĩ Trịnh Cung và họa sĩ Tôn Thất Văn. Còn lại cũng là một tên tuổi lừng lẫy, dù ông không hẳn là họa sĩ thực thụ. Đó chính là Trịnh Công Sơn.
Âm nhạc xem ra chưa đủ để Trịnh Công Sơn phát tiết hết nghệ sĩ tính của mình, nên ông đến với hội họa. Họa sĩ Tôn Thất Văn khi ở “đỉnh cao phong độ” thì lại nổi tiếng chủ yếu trong lĩnh vực tranh lụa. Nhưng họ vẫn dễ dàng phối hợp cùng nhau, tạo những đường nét tinh tế, trong một bức tranh sơn dầu.
Bây giờ, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và họa sĩ Tôn Thất Văn đều đã ra người thiên cổ. Chỉ còn mỗi họa sĩ Trịnh Cung, ông nói: “Muốn vẽ chung, dĩ nhiên các họa sĩ đều phải ở cùng một đẳng cấp, một cung bậc nào đấy về mặt chuyên môn, nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Phải thật hiểu nhau, ăn ý với nhau nữa. Khi họa sĩ này đi một đường màu, anh ta đã phải đoán được đường màu tiếp theo của họa sĩ kia sẽ như thế nào. Muốn vậy, tất cả đều phải hiểu rõ sở thích của nhau, quan điểm của nhau, tính tình của nhau. Chỉ tương đồng về đẳng cấp chuyên môn thì chưa đủ”.

Buc tranh chua tung cong bo cua Trinh Cong Son-hinh-anh-1
 Bức tranh chưa từng được công bố của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và hai người bạn 
họa sĩ  Tôn Thất Văn - Trịnh Cung
Họa sĩ Trịnh Cung cũng nói thêm rằng trên thế giới cũng đã có những tác phẩm do nhiều họa sĩ cùng vẽ, nhưng dĩ nhiên là hiếm hoi. Bản thân ông nhớ lại: Đã cùng vẽ với Trịnh Công Sơn và Tôn Thất Văn trong một dịp khác. Nhưng lần ấy, vì một tình huống không hay, tác phẩm mà họ ưng ý đã bị một người dùng sơn phá hủy. Điều thú vị là: Họa sĩ Trịnh Cung nhớ rõ đến từng chi tiết về tác phẩm đã bị phá hủy, nhưng với bức tranh còn đang tồn tại thì ban đầu ông... không hề nhớ!
Số phận kỳ lạ của bức tranh
Chuyện thú vị xảy ra cách đây hơn 20 năm. Họ gặp nhau ở tư gia của một người bạn để hàn huyên chuyện cũ, nhân dịp trong nhóm có người ở xa mới về. Chủ nhà là người thích vẽ, nên thường sẵn có vải bố, khung, sơn, cọ...Thế rồi, chuyện này nối tiếp chuyện kia, cho đến khi tác phẩm vẽ chung giữa ba nghệ sĩ nổi tiếng Trịnh Cung, Trịnh Công Sơn và Tôn Thất Văn được hoàn thành. Dụng cụ, chất liệu làm nên bức tranh đều là những thứ sẵn có, ngẫu nhiên.
Người chủ nhà trong “cuộc nhậu” dẫn đến việc khai sinh bức tranh trong câu chuyện là thân phụ của nhà báo Kinh Thi. Bức tranh đang được gia đình anh gìn giữ như một kỷ vật thú vị. Anh kể: Trong thập niên 1960, bố tôi có một quán cà phê ở Huế. Quán tuy không lớn, nhưng là nơi lưu giữ nhiều kỷ niệm về thời trai trẻ của ông. Đấy là nơi gặp gỡ hàng ngày của những người bạn trong giới văn nghệ như Trịnh Cung, Tôn Thất Văn, Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Hoàng Phủ Ngọc Phan... Theo thời gian, và theo thời cuộc, nhóm bạn văn nghệ ấy phân tán mỗi người mỗi ngả. Sau này, mỗi người là mỗi danh phận khác nhau, có mỗi cuộc sống khác nhau. Nhưng kỷ niệm cũ, tình bạn văn nghệ, những chi tiết về quán cà phê ở Huế - có tên ngắn gọn là “Bạn” cách đây đã nửa thế kỷ, họ đều không quên”.
Ấy là những chuyện mà anh Kinh Thi chỉ nghe kể lại. Riêng về bức tranh thì anh nhớ từng chi tiết, vì đã tận mắt chứng kiến “cuộc chơi” của bố và bạn bè. Anh kể: “Hôm ấy, tôi đi học về thì thấy trong nhà khá đông khách. Bức tranh khi ấy đang nằm trên giá vẽ, vẫn chưa hoàn thành. Bố và bạn bè vừa trò chuyện, vừa bình luận về bức tranh đang vẽ, bên bàn rượu, riêng họa sĩ Trịnh Cung là người duy nhất trong nhóm không uống rượu. Thi thoảng, một người lại bước đến giá vẽ, cầm cọ. Cứ thế cho đến khi tác phẩm hoàn thành và các họa sĩ ký tên lên tranh, tặng bố”.
Câu chuyện về bức tranh lạ lùng vốn đã đầy tính ngẫu nhiên. Với bản thân nhà báo Kinh Thi, người đang gìn giữ tác phẩm chưa bao giờ công bố ấy, đấy càng là kỷ niệm “để đời”. Anh kể: “Ở thời điểm 1992 ấy, tôi đang là sinh viên của Trường Đại học Thủy sản, nên phải thường xuyên đi thực tập ở các tỉnh duyên hải. Vậy mà hôm ấy, tôi lại ở nhà nên mới bất ngờ được xem cuộc vẽ tranh kỳ lạ của các họa sĩ nổi tiếng. Âu cũng là cơ duyên. Tôi vốn không mặn mà với lĩnh vực hội họa. Nhưng với bức tranh này, tôi đã thích ngày từ đầu, và vẫn cảm thấy thích thú mỗi khi xem lại bức tranh, suốt hơn hai mươi năm qua”.
  • Thanh Quế/ Lao Động

Ngày xuân, luận bàn về quân tử và tiểu nhân

Trong giao tiếp, đôi khi người Việt ta vẫn hay nhắc đến 2 từ "quân tử" - "tiểu nhân". Khái niệm "quân tử" - "tiểu nhân" tuy của Trung Quốc nhưng lại khá phổ biến trong văn hoá Việt. 

Thứ Tư, ngày 11 tháng 3 năm 2015

Hình ảnh con dê trong thơ ca


Con dê (còn gọi là Dương, Vị, Mùi...) xuất hiện trên trái đất từ thời hồng hoang và thường sống nơi rừng núi hoang vu. Dê là loài được người Việt thuần hóa đã lâu, thành vật nuôi ở rừng núi, ở trang trại, trong chuồng nhiều gia đình. Trong 12 con giáp, dê ở hàng thứ 8 - trước con khỉ và sau con ngựa. Con dê từ lâu đã là thành tố quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của người Việt Nam, kể cả ở các loại hình văn học - nghệ thuật, như trong thơ ca.

Công tử Bạc Liêu mất 50 kg vàng để chinh phục Hoa hậu Đông Dương

Đăng Bởi -
 Cong tu Bac Lieu
Trần Ngọc Trà, thường gọi là cô Ba Trà, được mệnh danh là "Hoa hậu Đông Dương"

Trần Trinh Huy (1900-1973) vốn là một tay chơi nổi tiếng ở Sài Gòn và miền Nam những năm 1930, 1940. Chính sự giàu có, hào hoa, lịch lãm, chịu chơi mà những bông hoa nào mới nhất, đẹp nhất ở những nơi ông hay lui tới đều phải dành cho ông. 

Người vợ đầu tiên
Ba Huy chính thức cưới vợ vào năm 1934, một cô gái Bạc Liêu chính hiệu là bà Ngô Thị Đen. Bà sinh được một người con gái đặt tên là Trần Thị Lưỡng. 
Nhưng ít ai biết trước đó 10 năm, Ba Huy đã có con với một cô gái Pháp. Một lần, khi đến tiệm cà phê nổi tiếng nằm bên bờ sông Siene, Ba Huy bị ánh mắt sâu thẳm của cô Marie hớp hồn. Ban đầu Ba Huy tính chơi qua đường cho vui, nhưng rồi Ba Huy thấy yêu thương Marie thật sự, chủ động để cho có con và đặt tên là Richard. 
 Cong tu Bac Lieu
Marie - người tình Pháp của công tử Bạc Liêu 
Khi cậu bé được 7 tháng, Ba Huy phải lên đường về nước. Năm 1936, tức gần 6 năm sau khi Ba Huy từ Pháp trở về Bạc Liêu, Marrie dẫn con trai 6 tuổi về gặp cha. Công tử Bạc Liêu đã dẫn vợ con về ra mắt bố mẹ, nhưng 2 mẹ con Marie chỉ ở lại Bạc Liêu một thời gian rồi về lại Pháp vì lúc đó Ba Huy vừa kết hôn với con gái  ông Bá hộ Mín.
Thông tin không chính thức cho hay số tiền ông bà Hội đồng cho mẹ con Marie tương đương vài chục ký vàng - đủ để Marie sống và nuôi Richard ăn học tới tuổi trưởng thành. 
50 kg vàng để chinh phục Hoa hậu Đông Dương
Trần Ngọc Trà, thường gọi là cô Ba Trà, thuở ấy được mệnh danh là "Hoa hậu Đông Dương" khiến các ông phủ, ông huyện, các công tử, thầy thông, thầy ký đều nhìn cô thán phục, thèm thuồng. Công tử Bạc Liêu đã tiêu tốn khoảng chục triệu đồng Đông Dương, tương đương 40 - 50kg vàng để theo đuổi người đẹp bằng những món đồ quý đắt giá như dây chuyền, nhẫn hột xoàn, thậm chí cả nhà cửa, xe hơi.
Tuy nhiên, cô Ba Trà chọn một người đàn ông khác làm chồng và cuộc đời của cô cũng kết thúc trong nghèo khó.
Lần thất tình duy nhất
Một tối nọ, ông đến nhà hàng Soái Kình Lâm cùng vài người bạn để “giải sầu” bằng rượu Tây và nghe ca nhạc. Ba Huy chợt sững sờ trước ca sĩ trẻ T.T mới nổi, vừa ký hợp đồng phục vụ hàng đêm ở nhà hàng này. Đôi chân dài ẩn hiện trong chiếc váy ngắn, thân hình bốc lửa trong chiếc áo thun màu hồng bó sát và đặc biệt là đôi mắt long lanh, sâu thẳm như thôi miên Công tử Bạc Liêu. Cùng với sắc đẹp cháy bỏng ấy là giọng hát mượt mà trong các ca khúc lãng mạn buồn man mác của Lam Phương, Phạm Duy...
Lâu lắm rồi Ba Huy mới diện kiến một người con gái tài sắc vẹn toàn đến vậy, làm mê hồn người đàn ông đệ nhất đa tình Ba Huy. Ba Huy kêu người bồi bàn tới, dúi cho một nắm tiền và bảo: “Cậu nói với ca sĩ T.T có Công tử Bạc Liêu mời một ly rượu làm quen”. Thế nhưng, cô ca sĩ trẻ không mảy may đếm xỉa đến Công tử Bạc Liêu lừng danh đang dõi mắt về phía cô. Có thể cô ca sĩ trẻ kia chưa từng được nghe nói Công tử Bạc Liêu là ai, nên cô mới xúc xiểm như thế, Ba Huy tự an ủi. 
Đêm sau, Công tử Bạc Liêu một mình đến nhà hàng, ông đưa một xấp tiền dày cho chủ nhà hàng, rồi bảo: “Ông nói rõ cho cô T.T biết Công tử Bạc Liêu là ai rồi "bo" cho cô ta tất cả số tiền này. Bảo là tôi mời cô ta đến bàn uống một ly làm quen”. Người chủ nhà hàng đã hết lòng thuyết phục, nên đêm đó, sau khi trình diễn, ca sĩ T.T đến gật đầu chào, uống với Công tử Bạc Liêu một ly rồi lẳng lặng ra đi, chỉ để lại cho Ba Huy một ánh mắt vô hồn.
Không chịu thua, ngày hôm sau, Ba Huy lại đến nhà hàng vào lúc trưa, nói với người chủ: “Đêm nay, tôi muốn bao nguyên nhà hàng của ông, chi phí bao nhiêu tôi trả đủ. Ông chỉ dọn một bàn thật sang với thức ăn ngon nhất cho một thực khách, còn trên sân khấu thì chỉ có ca sĩ T.T hát phục vụ”. Chủ nhà đăm chiêu trả lời: “Thưa công tử, doanh số của nhà hàng tôi một đêm đến 100 ngàn đồng lận...”. Công tử Bạc Liêu móc ngay 100 ngàn đồng (tương đương gần nửa ký vàng) ra đập xuống bàn. 
Đêm ấy, Công tử Bạc Liêu một mình ngồi giữa nhà hàng rộng mênh mông vừa uống rượu vừa nghe T.T hát hết bản này đến bản khác. Cú chơi “không đụng hàng” này của Công tử Bạc Liêu một lần nữa làm chấn động giới ăn chơi Sài Gòn, tạo ra thêm một giai thoại về Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy. Hôm sau, nhiều tờ báo đồng loạt viết bài tường thuật giật gân về chuyện “một mình một nhà hàng” của Công tử Bạc Liêu. Có tờ báo lại vẽ biếm họa cảnh Công tử Bạc Liêu tay chống cằm nhìn như muốn rớt tròng mắt vào một nàng con gái sexy trên sân khấu. Kể cả cái đêm “độc quyền” ấy, cô ca sĩ T.T cũng chỉ ghé lại bàn uống với Ba Huy vài ly rượu rồi chia tay.
Suốt thời gian dài, người ta thấy bữa nào Ba Huy cũng đến nhà hàng Soái Kình Lâm và gửi tiền boa cho T.T, nhưng đáp lại chỉ là ly rượu xã giao cùng nụ cười bí hiểm, ngoài ra không có gì hơn. Là người từng bách chiến bách thắng trên tình trường, Ba Huy như càng bị cám dỗ, kích thích, lại lao vào như con thiêu thân, gửi tặng cô ca sĩ trẻ rất nhiều tiền của, nhưng cô vẫn một mực khước từ những “lời đề nghị khiếm nhã” của Công tử Bạc Liêu. Lần đầu tiên một người vang danh trong chốn tình trường như Ba Huy cảm thấy "lực bất tòng tâm", nhưng ông cũng bắt đầu nhận ra mình đã quá già, không còn sức hút đối với các cô gái trẻ, dù có vung ra bao nhiêu tiền đi nữa.
Những người vợ chính thức 
 Cong tu Bac Lieu
 Công tử Bạc Liêu và bà Ngô Thị Đen - vợ chính thức
Sau bà  Ngô Thị Đen, Ba Huy có cưới thêm bàTrần Thị Hai. Bà Hai ở với Công tử Bạc Liêu sinh được 2 người con trai, đặt tên là Trần Trinh Nhơn và Trần Trinh Đức. Anh Trần Trinh Đức là hậu duệ duy nhất của Công tử Bạc Liêu hiện nay đang sống ở quê nhà Bạc Liêu, nhưng sống nghèo khó, vừa mới được trao “nhà tình thương”.
Người vợ cuối cùng được Ba Huy cưới hỏi đàng hoàng nhỏ hơn ông tới 40 tuổi. Bà tên Nguyễn Thị Ba, xuất thân trong gia đình nghèo, sống bằng nghề gánh nước mướn ở cạnh công viên Tao Đàn - Sài Gòn.
Vào cuối thập niên 1960, Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy đã về sống hẳn ở Sài Gòn với cô vợ cuối cùng, nhỏ hơn ông 40 tuổi, có với ông 4 người con.
Trải qua không biết bao nhiêu là chuyện tình, không đếm xuể những nhân tình qua tay Công tử Bạc Liêu nhưng cuối đời ông Trần Trinh Huy chủ yếu sống trong bệnh viện, ở bên ngoài những đứa con, cháu của ông tiếp tục ăn chơi vô độ, tàn phá gia sản của gia đình. Đầu năm 1973, sức khỏe của Công tử Bạc Liêu càng suy sụp nặng nề. Ba Huy từ giã cõi đời trong cô độc, dù ông có hàng chục bà vợ, hàng trăm cô nhân tình, 4-5 dòng con.
  • Theo Tinmoi.vn

Thứ Bảy, ngày 07 tháng 3 năm 2015

Lặng lẽ trở về… quỹ đạo


Nếu như những năm trước, văn đàn cứ "sốt xình xịch" vì xuất hiện quá nhiều cuốn sách theo xu hướng "sốc - sướng - sến" của những "nhà" tự dưng "nhảy thách vào làng văn, gióng lên một hồi trống rồi lặn mất tăm mất tích" thì hai năm trở lại đây, văn đàn có vẻ "hạ nhiệt" hơn và đang dần đi vào đúng quỹ đạo của nó - đó là trả lại sân khấu cho những người viết chuyên nghiệp.

Về Lý luận phê bình: "Vụ Nhã Thuyên" kéo dài từ cuối năm 2013 đến nửa đầu 2014 thì tạm lắng và mặt trận phê bình dường như tạm nghỉ "giải lao". Nửa cuối 2014 dành cho những vấn đề vĩ mô, những hoạch định, hướng đi rõ ràng, rành mạch cho lý luận phê bình như các cuộc hội thảo quốc gia của Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, của Viện Văn học, Hội Nhà văn… và đã xuất hiện một số tác phẩm lý luận phê bình gây ấn tượng như các cuốn "Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình và hiện tượng" của nhà lý luận phê bình Nguyễn Đăng Điệp, đã được Hội nhà văn Việt Nam trao giải thưởng năm 2014, "Bóng mát dọc đường xa" của nhà thơ Vũ Quần Phương, "Mùi chữ" của nhà phê bình trẻ Nguyễn Hoài Nam... và Hội Nhà văn Hà Nội đã mở màn trao thưởng về lĩnh vực này cho cuốn "Không gian văn học đương đại" - tập phê bình của tác giả Đoàn Ánh Dương đang công tác ở Viện Văn học. Sau đó không lâu, cuốn "Thời tốc độ và tâm lý sáng tạo" - tập tiểu luận - phê bình văn học của nhà thơ Phạm Khải cũng đã được Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội trao giải thưởng.
Xin được dừng lại lâu hơn một chút ở cuốn "Thời tốc độ và tâm lý sáng tạo" của nhà thơ Phạm Khải. Thông thường, độc giả không mấy "mặn mà" với những cuốn tiểu luận phê bình vì trong đó các tác giả thường hay mắc bệnh viện dẫn những lý thuyết và các nguyên lý này nọ, "xa" đến tận bên Tây, bên Tàu nhưng nhiều khi rất sống sít để lý giải những vấn đề vốn chỉ đơn giản là "đặc sản" của riêng Việt Nam.
Trường hợp cuốn sách của nhà thơ Phạm Khải thì lại khác. Phạm Khải đã không quá câu nệ vào lý thuyết, hay nói đúng hơn anh đã biến lý thuyết hay những gì gọi là kiến thức chung của nhân loại thành máu thịt của mình để cho ra đời những bài viết đúng là của chính mình. Những bài viết đó tiệm cận với cách đọc, cách nghĩ của đông đảo người đọc hôm nay. Hay nói đúng hơn đó là các nghĩ, cách hiểu thuần Việt.
Đọc tập sách của nhà thơ Phạm Khải, chúng ta thấy rất rõ dấu ấn của một nhà thơ viết phê bình. Khi viết nhà thơ chỉ lấy điểm, đôi khi chỉ lẩy ra những chi tiết nhỏ nhưng rất cụ thể, sinh động trong đời sống văn học nghệ thuật để khái quát lên một hiện tượng có tầm bao quát lớn hơn, rộng hơn về cả một giai đoạn văn học. Chính vì thế đọc cuốn sách "Thời tốc độ và tâm lý sáng tạo" của nhà thơ Phạm Khải như là được xem một bức tranh toàn cảnh về đời sống văn học nghệ thuật của nước nhà những năm gần đây. Trong đó có đủ cả hỉ, nộ, ái, ố...và đôi khi là những tréo ngoe trong đời sống văn học.
Về Thơ ca: Khác với những năm trước, thi đàn dậy sóng khi có quá nhiều nhà thơ muốn làm khác, muốn đổi mới thơ ca và sản phẩm của họ là cho ra đời những bài thơ "không giống ai", với nỗ lực tưởng chừng không mệt mỏi của họ khi muốn khẳng định "ta nhất định thắng, thơ nhất định thua", thì đến năm 2014 này, thi đàn có vẻ trầm lắng hơn cho dù Thơ vẫn được in ra nhiều và các giải thưởng hằng năm vẫn được trao. Thôi thì có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ, trao giải nhưng tiếng vang hầu như không có, thiếu sức lay động độc giả. Phải chăng Thơ đang đi xuống hay độc giả ngày nay đã thông minh hơn và khó tính hơn sau những chờ đợi và đã không ít lần mừng vui rồi hụt hẫng?
Những năm trước, vì tin vào truyền thông và tin vào những tuyên bố hùng hồn, có cánh của những người có chút tên tuổi trên văn đàn nên người yêu thơ đã không ít lần bị nhầm lẫn giữa lửa rơm và lửa than Kíplê để đến năm 2014 này, họ đã tỉnh táo hơn trước những khen chê về các tập thơ trên báo chí. Nhưng chúng ta hãy tin rằng, sự trầm lắng này cũng giống như một con sông đã qua lắm thác ghềnh và đang tự tìm lấy một hướng chảy thích hợp nhất. Những nhà thơ đang tìm đường để hướng dòng sông thơ đến với công chúng. Thơ ca vốn hiền hòa và không ồn ã. "Từ trái tim đến trái tim" phải chăng đó là con đường ngắn duy nhất để đưa thơ đến với độc giả và chúng ta có quyền hy vọng ở Thơ ca trong thời gian tới.
Về Văn xuôi: Văn xuôi vẫn tỏ ra "lực lưỡng" hơn cả. Cuộc thi và cũng là cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống (2012-2015) do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam phát động đã dần đi đến chặng nước rút và đến nay đã phát lộ được những cuốn tiểu thuyết, tự truyện, tiểu thuyết tư liệu hay, có giá trị về đề tài và tiêu chí đặt ra của cuộc thi như cuốn tiểu thuyết "Đơn tuyến" của nhà văn Phạm Quang Đẩu viết về cuộc đời nhà tình báo, nhà khoa học,
Thiếu tướng Công an Nguyễn Đình Ngọc, hay cuốn tự truyện "Không thể mồ côi" của tác giả Minh Vân. Đây là một món quà ý nghĩa, để tưởng nhớ 45 năm ngày Anh hùng, liệt sỹ Đào Phúc Lộc hy sinh (24/12/1969- 24/12/2014). Ngoài ra còn có các cuốn đáng đọc như tiểu thuyết "Súng nổ bên thiên đường" của tác giả Hữu Phương; tiểu thuyết "Gia tộc thanh vàng" của nhà văn Nguyễn Trọng Văn hay cuốn truyện ký "Dấu chân trinh sát" của lão nhà văn Lương Sỹ Cầm...
Qua cuộc thi đã phác họa đậm nét được những chân dung điển hình, xây dựng được những hình tượng đẹp về người chiến sĩ Công an nhân dân. Họ đẹp một cách giản dị vì họ là những người bình thường, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Nhưng chính những con người bình thường đó đã làm được những công việc phi thường do yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Có mất mát, có đau thương, có cao thượng và thậm chí là có lúc cả sự hèn nhát đã len vào trong suy nghĩ của họ. Nhưng vượt lên trên tất cả, đó là một lòng, một dạ vì cái chung, vì sự bình yên của nhân dân, sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ IV (2012-2014) của Hội Nhà văn Việt Nam đã qua vòng sơ khảo với 170 tác phẩm dự thi. Các giải thưởng đang ở phía trước. Một hiện tượng đáng quan tâm là sự tái xuất hiện của đề tài chiến tranh với những tiểu thuyết có tiếng vang như "Miền hoang" của nhà văn Sương Nguyệt Minh viết về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp nước bạn Campuchia thoát nạn diệt chủng Polpot. Ngoài ra còn có cuốn tiểu thuyết "Những đứa co n rải rác trên đường" của nhà văn Hồ Anh Thái. Cả hai cuốn sách trên đều do "bà đỡ'' mát tay là NXB Trẻ ấn hành cho dù trước đó, cũng chính NXB Trẻ đã tổng kết và trao giải cuộc Vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần thứ năm nhưng hình như những gì đã trao không đáp ứng được với sự kỳ vọng của đông đảo bạn đọc.
Đúng như nhận định của nhà phê bình văn học Nguyễn Thanh Sơn - một trong các giám khảo của cuộc thi - trong cuộc tọa đàm Văn học tuổi 20 tháng 3/2014 đã nhận định: "Các tác giả trẻ vẫn quẩn quanh trong cái tôi của mình mà không chịu nhìn ra và bước vào thân phận của người khác. Điều đó khiến tác phẩm của họ nhiều khi rất nông cạn, hạn hẹp, không có sự bứt phá và tầm vóc riêng".
Có cơ sở để tin vào tương lai của tiểu thuyết, đặc biệt tiểu thuyết về chiến tranh và tiểu thuyết về An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống. Có thể nhắc lại "thời của tiểu thuyết" chính là thời hiện tại.
Có thể nói chính độc giả ngày nay đã tỉnh táo hơn để chọn cho mình những cuốn sách văn học đích thực chứ không phải những cuốn á văn chương chỉ có tụt và cởi. Họ tìm đến với những tác giả đã thành danh có thâm niên về tuổi đời và tuổi nghề để đọc, xét cho cùng thì văn chương nghệ thuật rất cần ở tài năng, nhưng nếu chỉ có tài năng không hình như là chưa đủ, nhà văn vẫn cần phải sống, phải chiêm nghiệm đã rồi khi ấy mới viết. Điều này được thấy rất rõ qua những giải thưởng và những cuốn sách "đáng đọc" của năm nay khi được xướng tên tác giả thì độc giả cũng không phải tra vào Google để tìm hiểu xem tên tuổi và quá trình hoạt động văn nghệ của các nhà văn được giải.
Năm nay không có những tác giả "bất thình lình trở nên nổi tiếng" trên văn đàn. Theo nhận định của người viết bài này thì đây là một tín hiệu hay, vì văn học nghệ thuật đích thực vẫn cần một quá trình. Tất nhiên quá trình ở đây không phải là tác phẩm sau của chính một tác giả phải hay hơn tác phẩm đã viết trước đó mà muốn nói đến quá trình lao động nhà văn.
Nguyễn Thế Hùng - Xuân 2015

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 2 năm 2015

Khúc hoan ca của một thời trai trẻ


Nếu chỉ được quyền chọn mười tác phẩm văn học của Việt Nam trong thế kỷ XX để mang theo vào thế kỷ XXI, bạn sẽ chọn những tập sách nào? Đã có câu hỏi đặt ra như vậy với Tế Hanh và ông nhà thơ lớn này đã không trù trừ khẳng định ngay: Ông chỉ chọn hai tác phẩm thôi, một văn, một thơ. Đó là tập "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân và tập "Thơ thơ" của Xuân Diệu.

Nếu chỉ được quyền chọn mười tác phẩm văn học của Việt Nam trong thế kỷ XX để mang theo vào thế kỷ XXI, bạn sẽ chọn những tập sách nào? Đã có câu hỏi đặt ra như vậy với Tế Hanh và ông nhà thơ lớn này đã không trù trừ khẳng định ngay: Ông chỉ chọn hai tác phẩm thôi, một văn, một thơ. Đó là tập "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân và tập "Thơ thơ" của Xuân Diệu.
Tôi không "mạo hiểm" như Tế Hanh khi quyết định chọn "Thơ thơ" làm "tập thơ thế kỷ", song nếu ai đó bảo tôi bỏ phiếu chọn lấy một tập thơ đặc sắc nhất của phong trào Thơ Mới, hẳn tôi cũng sẽ nghiêng về tác phẩm này.
Có thể với từng bài, trong thể hiện tư tưởng Xuân Diệu không có được cái mạch lạc, khúc chiết như ở "Nhớ rừng" của Thế Lữ; trong xúc cảm chưa gợi được sự bâng khuâng, mơ màng như ở "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư; trong giọng điệu chưa có được cái ngùi ngẫm, thấm thía như của Huy Cận ở "Tràng giang", và trong hình ảnh chưa có được chất liêu trai, gây ấn tượng mạnh như ở "Đây thôn Vỹ Dạ" của Hàn Mặc Tử. Nghĩa là theo kiểu "bó đũa chọn cột cờ" thì không phải ưu thế đã hoàn toàn thuộc về "Thơ thơ", nhưng xét về tổng thể thì không tập thơ nào của thời Thơ Mới tập trung được nhiều cái hay, cái lạ như ở tập thơ đầu tay của Xuân Diệu.
Quang cảnh buội hội thảo "Xuân Diệu - người tình si" do Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội tổ chức.
Nói không sợ quá lời: Với "Thơ thơ" (1938) và sau này là "Gửi hương cho gió" (1945), Xuân Diệu ở một đẳng cấp khác hẳn, gần như không có đối thủ. Không phải ngẫu nhiên mà một thi sĩ từng có lúc ngông ngạo, coi trời bằng vung như Chế Lan Viên, khi đề tặng Xuân Diệu tập "Điêu tàn" đã có những lời lẽ hết sức khiêm cung: "Anh Xuân Diệu, sách của em đây. Anh nhận cho em, anh". Còn Hàn Mặc Tử thì viết bên lề tập "Gái quê" gửi tặng Xuân Diệu: "Tôi gửi tặng anh tập thơ của tôi, vì đọc thơ anh, tôi thấy nỗi khổ của tôi được xoa dịu nhiều lắm".
Bản thân nhà phê bình văn học Hoài Thanh, trong "Thi nhân Việt Nam", khi nói về Xuân Diệu đã phải dùng tới hai chữ "tối tân": "Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy".
Cái "y phục tối tân", cái "hình thức phương xa" mà Hoài Thanh nói tới chính là cách đặt câu, dùng chữ quá Tây của Xuân Diệu, từng khiến nhiều người choáng ngợp ngay khi thơ ông mới xuất hiện.
Tuy nhiên, xét cho cùng, mọi sự cách tân muốn chinh phục được đông đảo người đọc và chinh phục được một cách bền lâu thì không chỉ là cái mới, cái lạ thể hiện ở lối nói, mà cao hơn thế, nó phải thể hiện ở sự bứt phá của cái "tôi" cá nhân thi sĩ. Nghĩa là phải mới thực sự về "chất", chứ không phải chỉ ở "y phục". Mà đây thuộc về vấn đề thời đại, kết hợp với cá tính của chính tác giả. Hãy bỏ qua cái "tôi" thể hiện một cách quá ư ẩn khuất trong thơ cổ, ngay trong các nhà thơ cùng thời với Xuân Diệu, dù là đã "cựa quậy" lắm so với trước, song phần nhiều nó vẫn thể hiện trong một phong thái lịch sự, kín đáo, theo lối cổ truyền Á Đông. Xuân Diệu khác hẳn, cái "tôi" của ông bạo dạn, táo tợn lạ thường. Các động tác thể hiện trong thơ ông mới dữ dội làm sao: Nào là "cắn" ("Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi" - bài "Vội vàng"), là "bấu" ("Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời" - bài "Hư vô"), là ôm, là ghì ("Giơ tay muốn ôm cả trái đất/ Ghì trước trái tim, ghì trước ngực" - bài "Bài thơ tuổi nhỏ")…mà toàn là với thiên nhiên, tạo vật, với đấng Vĩ Đại.
Ví mình là "một cây kim bé nhỏ", trong khi "vạn vật là muôn đá nam châm", Xuân Diệu cho mình cái quyền được lả lơi, mơn trớn, được xô đẩy, được bị tác động bởi ngoại cảnh, bởi người đời, tình đời. Không rõ ai là người đầu tiên trong thơ Việt đề cập tới việc trai gái hôn nhau? Chỉ biết, ở thời Xuân Diệu, những câu như thế này của Hàn Mặc Tử đã được xem là "bạo" lắm rồi: "Làn môi mong mỏng tươi như máu/ Đã khiến môi tôi mấp máy thèm" (bài "Gái quê"). Vậy nhưng so với câu thơ của Xuân Diệu "Kẻ uống tình yêu dập cả môi" (bài "Hư vô"), nó cũng chưa nhằm nhò gì.
Đến cái "ăn", cái "uống" của Xuân Diệu cũng khác người. Ông nhìn "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần" (bài "Vội vàng"); ông muốn "Nên lúc môi ta kề miệng thắm/ Trời ơi, ta muốn uống hồn em" (bài "Vô biên"). Trước Xuân Diệu, trong thơ Việt làm gì có ai có lối thể hiện cảm xúc mạnh mẽ nhường này? Phải yêu đời, yêu người, phải khát sống đến độ nào người ta mới cuồng nhiệt đến vậy.
Trong "Thi nhân Việt Nam", viết về Xuân Diệu, nhà phê bình Hoài Thanh đã có một nhận xét mang tính đúc kết mà tôi phải ngẫm ngợi rất nhiều. Vâng, đó là câu: "chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu mà đã thích thì phải mê".
Đã có lúc tôi đặt câu hỏi: Chẳng lẽ "chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu"? Nhưng rồi tôi hiểu ra là, những người "lòng còn trẻ" khác với những người "còn trẻ" (có những người tuổi cao nhưng "lòng còn trẻ"). Mà số này chưa hẳn đã ít. Và tôi cũng ý thức được rằng, trong thực tế, cũng đã có những độc giả không thật thích thơ Xuân Diệu.
Với những người này, thơ Xuân Diệu thời trẻ có gì đó "bồng bột", ồn ào chứ không được sâu lắng, thấm thía như một số bài trong "Lửa thiêng" của Huy Cận. Riêng tôi, nhớ lại những cảm xúc ban đầu khi đến với thơ Xuân Diệu, tôi thầm bái phục sư phụ Hoài Thanh sao mà nói "trúng tim đen" đến vậy. Đúng là với "Thơ thơ", với "Gửi hương cho gió", nói "thích" chưa đủ, phải nói là "mê" mới đúng. Những hình ảnh trang hoàng lộng lẫy, đẹp một cách đài các được lồng trong những vần thơ ngân vang như chuông vàng khánh bạc đã gây xôn xao náo nức hồn tôi suốt một thời hoa niên…
Đến nay, tôi vẫn không sao quên được những cảm xúc dào dạt khi ở tuổi chớm yêu, lần đầu được đọc thơ Xuân Diệu:
Đêm thứ bảy, chính là đêm thứ nhất
Chẳng bao giờ ngăn được gót thanh niên
Khi bóng tối cũng reo hò: chủ nhật
Và áo màu làm gió, phất qua hiên

(bài "Đêm thứ nhất").
Nói về hay thì những câu thơ trên chưa thuộc những câu hay nhất, đáng nhớ nhất của Xuân Diệu, nhưng nó rất gợi những xúc cảm thời thanh xuân. Có lẽ chỉ "khi người ta trẻ", người ta mới thấy hết cái hay, cái ý vị của câu thơ "Đêm thứ bảy, chính là đêm thứ nhất", mới thấy sức gợi và cái hay của câu "Khi bóng tối cũng reo hò: chủ nhật". "Bóng tối" hay tiếng lòng của người thanh niên reo hò đón chào ngày chủ nhật - ngày nghỉ và cũng là ngày hò hẹn của các cô cậu học sinh, sinh viên, khi vút qua mắt họ là những "áo màu làm gió phất qua hiên"?
Cũng dào dạt, phơi phới như vậy là mấy khổ thơ trong bài "Xuân đầu":
Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ!
Trở về đây! và đem trở về đây
Rượu nơi mắt với khi nhìn ướm thử
Gấm trong lòng và khi đứng chờ ngây

Và nhạc phất dưới chân mừng sánh bước
Và tơ giăng trong lời nhỏ khơi ngòi
Tà áo mới cũng say mùi gió nước
Rặng mi dài xao động ánh dương vui.

Đúng là "Xuân đầu", không khí xôn xao, náo nức như ngày hội. Chỉ với vẻn vẹn 16 chữ: "Tà áo mới cũng say mùi gió nước/ Rặng mi dài xao động ánh dương vui", tác giả trẻ đã làm nổi bật lên được vẻ đẹp cũng như những xao động trong tâm hồn các thiếu nữ ở buổi bình minh của cuộc đời. Câu thơ không chỉ tràn ngập nắng gió, tiếng reo vui của lòng người mà còn có cả sự "tiền hộ hậu ủng" của thiên nhiên tạo vật…
Trong "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió", không ít lần Xuân Diệu cất tiếng hát ca ngợi tuổi xuân, cũng như không ít lần ông thể hiện nỗi hoang mang trước bước nhảy của thời gian. Nói về chủ đề này, câu thơ Xuân Diệu đầy xốn xang, chộn rộn. Trước Xuân Diệu, Thế Lữ từng viết trong "Khúc ca hoài xuân":
Tiếng ve ran trong bóng cây râm mát
Giọng chim khuyên ca ánh sáng mắt trời
Gió nồng reo trên hồ sen rào rạt
Mùa xuân còn, hết? khách đa tình ơi!

Cũng là tiếng ve ran, là gió nồng reo, là khách đa tình, là hồ sen, là sự rào rạt, vậy nhưng câu thơ vẫn có gì đó hụt hơi, như thể bậc danh ca đã không còn ở đỉnh cao danh vọng? Trong khi, hãy nghe Xuân Diệu, cũng chủ đề trên, giọng thơ rộn rã, rung vang, khỏe khoắn lạ thường, tưởng như đó là khúc ca bất tận:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
 
Của ong bướm nay đây tuần trăng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si

(bài "Vội vàng")
Tất cả là ở sức trẻ. Thơ Xuân Diệu có ma lực bởi giọng điệu thơ ông lúc thì thổn thức, khắc khoải, khi thì réo rắt si mê, nó là tiếng hoan ca và bi ca của một người lòng tràn đầy sức trẻ và luôn hướng về tuổi trẻ.
  • Phạm Khải - Xuân 2015

Thứ Ba, ngày 24 tháng 2 năm 2015

Bức tranh Tết khiến Ngô Đình Diệm 'lồng lộn'

Đăng Bởi -

ngo dinh diem

Ai đã sống ở miền Nam Việt Nam, đặc biệt là Sài Gòn, vào năm 1960 (thời Ngô Đình Diệm) thì có thể ít nhiều biết câu chuyện này. Tranh bìa số Xuân của báo Tự Do năm Canh Tý 1960 vẽ 5 con chuột đang ăn quả dưa hấu: một bìa báo bình thường, chủ đề bức họa là chỉ về con giáp của năm mới, một thói quen của làng báo lúc bấy giờ.

Báo phát hành từ giữa Tháng Chạp âm lịch năm trước, mọi người mua, đọc, biếu bạn bè... như vẫn làm trong sinh hoạt đón Xuân. Nhưng đến mồng 5 Tết thì đột nhiên tòa báo Tự Do bị cảnh sát xông vào đập phá, tịch thu hết các số báo Xuân còn lại, cả số đã phát hành mà chưa bán cũng có lệnh thu hồi. 
Tại sao có chuyện như vậy? Vì có người diễn dịch ý nghĩa bức tranh đó là ám chỉ năm anh em của nhà họ Ngô đang đục khoét đất nước Việt Nam, và nếu lật ngược bức tranh lại thì theo đường viền vàng của vỏ trái dưa có thể thấy mường tượng hình thù nước Việt Nam, hoặc có thể một nửa nước phía nam, tùy người suy đoán. 
Người ta nói 5 con chuột đó là tượng trưng cho 5 anh em nhà Ngô Ðình đang trực tiếp cầm nắm vận mệnh miền Nam: Ngô Ðình Thục, Ngô Ðình Diệm, Ngô Ðình Nhu cùng vợ Trần Lệ Xuân, và Ngô Ðình Cẩn. Có người thì cho chỉ năm anh em họ Ngô thôi, không có bà Nhu, và người thứ năm là ông Ngô Ðình Luyện, nhưng thời gian đó ông Luyện làm việc tại nhiệm sở ngoại quốc.
Nhưng tất cả chỉ là suy luận, ức đoán. Chẳng có bằng chứng nào có thể đoan chắc bức tranh vẽ toàn chuột đó là ám chỉ các anh em trong một gia đình. Trừ một việc: chính các anh em đang cầm quyền đó đã phản ứng một cách giận dữ. Tức là họ tự nhận 5 con chuột đó đúng là tượng trưng cho chính họ. Chính hành vi cho thuộc hạ đập phá tòa soạn báo Tự Do, tịch thu báo, và truy tìm tác giả bức tranh đã xác nhận cái ám chỉ mà dân chúng nghi ngờ đó là đúng.
Nhưng ở đây chúng ta không bàn luận về chuyện chính trị cách đây đã hơn nửa thế kỷ, như giải thích tại sao giữa thời thịnh trị của chế độ đệ nhất Cộng Hòa lại xuất hiện một đả kích táo tợn và dữ dội đến thế. Chúng ta chỉ đang tìm kiếm tác giả của bức tranh. Có hai người được nhắc đến: họa sĩ Phạm Tăng và họa sĩ Nguyễn Gia Trí.
Hai họa sĩ Phạm Tăng và Nguyễn Gia Trí là bạn thân với nhau. Khi tờ báo Tự Do ra đời tại Sài Gòn sau năm 1954, Phạm Tăng có chân trong ban biên tập, chuyên vẽ hí họa cho báo. Tờ Tự Do do ông Phạm Việt Tuyền làm chủ nhiệm, không phải là một tờ báo đối lập với chính quyền, nhưng bài vở trí thức, khách quan, lại có những người cộng tác không ưa chính quyền Ngô Ðình Diệm như Như Phong Lê Văn Tiến, Hiếu Chân (tức Nguyễn Hoạt), thường hay có những bài phê phán hoặc châm biếm ám chỉ chính quyền. 
Riêng họa sĩ Phạm Tăng, qua lần điện đàm với người viết bài này vào tháng 1.2012, cho biết đã bị bắt vào năm 1958 cùng với Hiếu Chân và Mặc Thu nhưng không bị ra tòa như hai vị này, mà được thả sau ba tuần bị nhốt ở bót Catinat. Sau đó họa sĩ Phạm Tăng xin đi du học tại Ý, và lên đường sang Ý vào năm 1959. Họa sĩ Phạm Tăng còn cho biết những hí họa trên báo Tự Do hầu hết là do ông vẽ, nhưng thỉnh thoảng họa sĩ Nguyễn Gia Trí cũng có đóng góp vài bức nhưng không bao giờ ký tên. 
Sau khi đi Ý, vì xa xôi và bận việc học, ông không còn cộng tác với báo Tự Do nữa, nhưng vẫn liên lạc thư từ rất thường xuyên với người bạn Nguyễn Gia Trí. Báo Thế Kỷ 21 Xuân Ất Dậu 2005 xuất bản tại Quận Cam California có đăng bản chụp bức thư của Nguyễn Gia Trí viết từ Sài Gòn gửi sang Ý cho Phạm Tăng đề ngày 24 tháng 1 năm 1960, và cho biết thêm hai người bạn tiếp tục trao đổi thư từ với nhau cho đến tháng 8 năm 1974.
Khi vụ bức tranh chuột trên báo Tự Do xuân Canh Tý 1960 bùng nổ, nhiều người nghĩ Phạm Tăng là tác giả bức tranh, mặc dù thời điểm này Phạm Tăng đang ở Ý. Sự gán ghép này chúng tôi nghĩ là tiện lợi cho tình thế lúc bấy giờ, rất có thể do chính tòa soạn báo Tự Do khai với chính quyền đồng thời tung ra dư luận, rằng Phạm Tăng đã vẽ, để tránh cho sự bắt bớ tác giả thật, là họa sĩ Nguyễn Gia Trí, đang sống tại Sài Gòn. Mà quả vậy, thời gian ấy họa sĩ Nguyễn Gia Trí vẫn sống bình thường tại nhà, không trốn tránh hay bị bắt bớ gì cả.
Thế thì có gì chứng minh bức tranh chuột ấy là do Nguyễn Gia Trí vẽ?
Thứ nhất là những dòng sau đây của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, trích từ bài Sự Thật Về Cái Chết Nhất Linh đăng trên nhật báo Người Việt (Quận Cam, California) và Người Việt Online vào đầu năm 2012:
“Vào năm 1960 trên bìa báo Tự Do Xuân Canh Tý xuất hiện bức tranh năm con chuột đang đục khoét một quả dưa đỏ và nếu lật ngược cái bìa thì quả dưa đỏ là hình bản đồ nước Việt Nam, hàm ý các anh em của gia đình họ Ngô đang phá hoại đất nước. Tờ báo bị chính quyền tịch thu sau khi báo đã phát hành được một số khá lớn. Không một ai biết tác giả bức tranh là ai. Người ta đoán mò họa sĩ Phạm Tăng là tác giả. Nhưng cha tôi cho chúng tôi biết tác giả là một người rất thân cận với ông: họa sĩ Nguyễn Gia Trí”.
Nguyễn Gia Trí gắn bó với Nhất Linh từ thời khởi sự làm báo Phong Hóa đầu thập niên 1930, rồi cùng hoạt động chống Pháp và bị Pháp bắt cùng Hoàng Ðạo, Khái Hưng vào năm 1942. Ông là người cứng cỏi, bị tra tấn rất nhiều. Ðầu thập niên 1950 ông bị Pháp chỉ định cư trú tại Thủ Dầu Một, cũng thời gian này Nhất Linh từ Trung Hoa về Hà Nội rồi vào Nam, hai người đồng chí cùng trong Việt Quốc chống Pháp một thời, nay lại gặp nhau. 
Nhất Linh lập nhà xuất bản Phượng Giang và Nguyễn Gia Trí phụ trách vẽ bìa các sách Nhất Linh xuất bản. Ðến thời đệ nhất Cộng hòa, cả hai ông đều bất mãn với chế độ gia đình trị của ông Ngô Ðình Diệm và sự kiện Nhất Linh biết rõ Nguyễn Gia Trí vẽ bức tranh chống đối này là việc dễ hiểu.
Ngày nay nhìn lại vụ bức tranh này, phải nhận đây là một sự kiện rất quan trọng, như một quả bom tấn nổ bùng khơi ngòi cho một loạt hoạt động chống đối chế độ trong những năm tiếp theo, với sự bất mãn của dân chúng ngày một tăng. 
Phải là người gan góc, đầy bản lãnh và tài năng mới thực hiện được một hình thức chống đối chế độ ngoạn mục như vậy: một bức tranh rất nghệ thuật nhưng hiền lành như một tranh dân gian đón mừng năm mới, in trên bìa số Xuân của một tờ nhật báo uy tín nhất nước, chỉ trong một thời gian ngắn là đến tay bạn đọc khắp nước, lại ẩn chứa một nội dung tố cáo tính cách không lành mạnh của một chế độ chính trị (mang cả gia đình nhà mình ra mà nắm vận mệnh đất nước). 
Giữa khung cảnh của một chế độ độc tài, đó là cách làm của một bàn tay từng trải với hoạt động cách mạng, cộng với tâm hồn của một nghệ sĩ lớn, không mấy ai đủ đởm lược và tầm vóc để thực hiện, như Nguyễn Gia Trí đã làm. 
Sự kiện Nhất Linh, người mà Nguyễn Gia Trí gắn bó mật thiết thời ấy, cho con cái trong gia đình ông biết ai là tác giả bức tranh ngay trong thời điểm nó xuất hiện là một xác định chắc chắn, hoàn toàn khả tín.
Thứ hai, chính họa sĩ Phạm Tăng đã khẳng định với nhà nghiên cứu Thụy Khuê vào đầu năm 2012 rằng, chính Nguyễn Gia Trí là tác giả bức tranh ấy. Vào đúng ngày Tết Nhâm Thìn (tháng 1, 2012) người viết bài này sau một thời gian tìm kiếm, đã có được phóng ảnh bìa số báo Xuân Tự Do Canh Tý 1960 lưu trữ tại thư viện Ðại Học Cornell; và vì muốn biết rõ một cách dứt khoát ai là người vẽ bức tranh chuột này, chúng tôi đã nhờ nhà nghiên cứu Thụy Khuê bên Pháp liên lạc với họa sĩ Phạm Tăng để hỏi, và đã nhận được câu trả lời rõ rệt như trên.
Ngoài ra chúng tôi cũng đã liên lạc và chuyện trò nhiều lần với:
- Bác Sĩ Nguyễn Gia Tiến (hiện ở Thụy Sĩ) cháu gọi họa sĩ Nguyễn Gia Trí bằng chú ruột, thời 1960 là sinh viên Y khoa, vẫn lui tới nhà ông chú hằng ngày,
- Nhiếp ảnh gia Nguyễn Tất Ðạt (ở Nam California), con của họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường, thời 1960 ở ngay trong nhà họa sĩ Nguyễn Gia Trí.
Thì cả hai đều xác nhận với chúng tôi rằng, thời ấy trong vòng gia đình, ai cũng biết chính họa sĩ Nguyễn Gia Trí vẽ bức tranh ấy.
Nguyễn Gia Trí là họa sĩ lớn của Việt Nam. Ông cũng là một chiến sĩ cách mạng gan lì và kiên cường. Những phẩm chất ấy hun đúc nơi ông một nhân cách lớn. Trong sự nghiệp hội họa của ông, các nhà nghiên cứu ít khi nhắc tới bức tranh chuột này, nếu có thì chỉ như dấu vết một hành động chính trị hơn là nghệ thuật. Nhưng chính bức tranh ấy đã có một vai trò đặc biệt trong lịch sử chính trị cũng như báo chí Việt Nam, mà vì hoàn cảnh xuất hiện đã tạo nên một sự lẫn lộn về tác giả. 
Tất cả sự sưu tầm, hỏi chuyện và gom góp tài liệu của chúng tôi chỉ nhằm một mục đích làm sáng tỏ ai là tác giả đích thực của bức tranh ấy. Và đến đây, câu trả lời đã có thể khẳng định: đó là họa sĩ Nguyễn Gia Trí.
Theo Reds

Chủ Nhật, ngày 15 tháng 2 năm 2015

Nhà văn tuổi Mùi và dấu ấn... trường thọ


Theo quan niệm dân gian, dê chính là sự hội tụ đầy đủ của Phúc - Lộc - Thọ". Nhân dịp Xuân mới Ất Mùi đang cận kề, xin giới thiệu chân dung một số nhà văn, nhà thơ tuổi mùi- những người mà tên tuổi từ lâu đã trở nên quen thuộc với đông đảo bạn đọc. Điều đáng nói là, bên cạnh một sự nghiệp văn học đáng nể trọng, họ còn là những người có sức khỏe dẻo dai, bền bỉ, với tuổi thọ khiến không ít người phải mơ ước...

Nếu có nhu cầu tìm hiểu về loài dê - cả trong đời thực và trong biểu tượng tâm linh, chỉ cần gõ vào Google, ta có thể dễ dàng bắt gặp những dòng như sau: "Trong dân gian, dê rất gần gũi và là một linh vật được yêu quý... Dê trở thành nhiều bài thuốc quý đem lại sức khỏe cho con người, mang đến sự trường thọ theo Đông y.
Theo quan niệm dân gian, dê chính là sự hội tụ đầy đủ của Phúc - Lộc - Thọ". Nhân dịp Xuân mới Ất Mùi đang cận kề, xin giới thiệu chân dung một số nhà văn, nhà thơ tuổi mùi- những người mà tên tuổi từ lâu đã trở nên quen thuộc với đông đảo bạn đọc. Điều đáng nói là, bên cạnh một sự nghiệp văn học đáng nể trọng, họ còn là những người có sức khỏe dẻo dai, bền bỉ, với tuổi thọ khiến không ít người phải mơ ước...
Theo quan niệm dân gian, dê chính là sự hội tụ đầy đủ của Phúc - Lộc - Thọ. Bởi vậy, tượng dê hiện là mặt hàng được nhiều người chào đón trong năm mới Ất Mùi này.
Nhà thơ Thế Lữ
Nhà thơ Thế Lữ sinh ngày 6/10/1907 (năm Đinh Mùi) và mất ngày 3 tháng 6 năm 1989 (năm Kỷ Tị). Ông là một trong những nhân vật chủ chốt của nhóm Tự lực văn đoàn, là người tiên phong không chỉ trong phong trào Thơ Mới (1932-1945), mà còn cả trong lĩnh vực truyện trinh thám ở Việt Nam.
Trong cuốn "Thi nhân Việt Nam", các tác giả Hoài Thanh - Hoài Chân đã dành cho ông những dòng tôn vinh xác đáng: "Độ ấy Thơ Mới vừa ra đời, Thế Lữ như vừng sao đột hiện, ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Dầu sau này danh vọng Thế Lữ có mờ đi ít nhiều nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công Thế Lữ đã dựng thành nền thơ mới ở xứ này…". Nhà thơ Thế Lữ từng được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Ngày nay, nếu xét ở góc độ tuổi thọ, có thể ai đó sẽ thấy trường hợp Thế Lữ (ông mất năm 82 tuổi) cũng không hẳn có gì đặc biệt cho lắm, nhất là khi tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam đã tăng lên đáng kể (theo kết quả khảo sát của Tổng cục Thống kê năm 2014 thì tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam là 73,2 tuổi, trong đó nam là 70,6 tuổi). Tuy nhiên, vào những năm tám mươi của thế kỷ trước, thọ như Thế Lữ không phải là điều ai cũng dám mơ tới, nhất là khi những thi nhân ở lứa tuổi đàn em so với ông, nhiều người đã phải "lên đường theo tổ tiên" khi còn rất trẻ (như Nguyễn Nhược Pháp, Hàn Mặc Tử, Bích Khê).
Một điều lạ nữa, Thế Lữ đã lập kỷ lục là người… thọ nhất trong các vị chủ soái của phong trào Thơ Mới, trong khi từ những năm ba mươi của thế kỷ trước, nhà văn Nguyễn Tuân đã "cảnh báo" qua bài viết "Một đêm họp đưa ma Phụng" (nhà văn Vũ Trọng Phụng): "Nhân Phụng vừa nằm xuống, tôi lại tìm trong đầu xem trong bọn nhà văn trẻ, những người nào là cầm lỏng được cái chết.
Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Lan Khai, Đoàn Phú Tứ, Thạch Lam… đều là những người đủ tư cách để sớm lên đường. Ngực người nào cũng lép như cái đồng hồ Ômêga trông nghiêng. Những người trẻ trung này có nằm xuống cũng đều nhẹ nhõm lắm đây".
Trong danh sách những người mà tác giả "Vang bóng một thời" xem là yểu mệnh kể trên, Thế Lữ được điểm tên… đầu tiên, song, như một nghịch lý, ông lại là người có tuổi thọ cao nhất trong số đó. Thế Lữ sinh trước Nguyễn Tuân 3 năm và trước Xuân Diệu tới gần chục năm, vậy mà ông lại là người lần lượt gửi thư, điện chia buồn và vòng hoa viếng khi Xuân Diệu, Nguyễn Tuân tạ thế.
Nhà văn Bùi Hiển
Nhà văn Bùi Hiển sinh ngày 22/11/1919 (năm Kỷ Mùi) và mất ngày 11/3/2009 (năm Kỷ Sửu). Ra đi ở tuổi 90, ông là một trong những nhà văn tiền chiến có tuổi thọ cao nhất (chỉ sau nhà văn Tô Hoài, sinh năm 1920, mất năm 2014). Sinh thời, nhà văn Bùi Hiển đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Nhà thơ Võ Văn Trực từng viết về nhà văn Bùi Hiển: "Trong cuộc đời thực, anh không nổi nóng gắt gỏng, xử sự ác với ai, trong tác phẩm anh cũng không xử sự ác với nhân vật".
Không biết có phải vì vậy mà nhà văn Bùi Hiển luôn giữ được sự thanh thản trong tâm hồn, giữ được phong độ, nhịp sống ổn định? Hãy xem ông tự mô tả hình ảnh của mình trong một bài viết (có tên gọi "Những năm 40 còn nhớ"): "Trong sớm mai trong trẻo, hai ông già thong thả đếm bước, cùng nhau đi ra phường lĩnh lương hưu, vừa đi vừa đàm đạo. Một ông ngấp nghé cổ lai hy, một đã ngoại bát tuần, bên chân bị đau hơi lê. Có lúc náo nức theo câu chuyện, ông cổ lai hy vô tình dấn bước. Bị tụt lại sau vài mét, ông bát tuần cất tiếng nhắc, giọng nhẹ nhàng và rất thanh, không có vẻ gì già lão: Anh đi hơi nhanh, tôi không theo kịp". Thì ra, cái "ông cổ lai hy", "ông đi hơi nhanh" được đề cập trong bài viết chính là nhà văn Bùi Hiển và bậc lão trượng "bát tuần" là nhà văn Vũ Ngọc Phan.
Nói vậy không có nghĩa là ở vào giai đoạn tuổi cao, lúc nào nhà văn Bùi Hiển cũng ỷ vào phong độ trời cho của mình mà phăm phăm… dấn bước. Cùng sinh năm 1919 với nhà thơ Huy Cận, ở tuổi 80, trong khi Huy Cận đi đứng vững chãi thì lúc ra đường, Bùi Hiển đã phải cậy nhờ vào chiếc ba toong. Huy Cận hỏi tại sao, ông dí dỏm đáp: "Chả là hậu sinh khả… huých, thanh niên đi ngoài đường nhỡ bước vội, vô ý huých cho mình một cái, khéo mà ngã chổng kềnh".
Với trí tuệ minh mẫn, sức khỏe dẻo dai, ở tuổi ngoài 80, nhà văn Bùi Hiển vẫn được Hội nghề nghiệp trọng dụng. Ông được mời làm Chủ tịch Hội đồng văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam, khi mà các thành viên còn lại trong hội đồng đều thuộc hàng con cháu ông. Và ông là nhà văn duy nhất thành danh từ trước Cách mạng Tháng Tám có chân trong Hội đồng này. Nội điều đó đã đủ cho thấy khả năng "đồng hành cùng thời đại" của nhà văn Bùi Hiển.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng sinh ngày 12/1/1932 (tức ngày mùng 5 tháng Chạp năm Tân Mùi) và mất ngày 13/2/2014 (năm Giáp Ngọ), hưởng thọ 82 tuổi.
Sinh thời, từng có người hỏi Nguyễn Quang Sáng (điều này ông đã thuật lại trong cuốn bút ký "Nhà văn về làng" do NXB Văn nghệ ấn hành năm 2008):
"Người bạn hàng xóm cùng lứa tuổi hỏi:
- Sáng, mày tuổi gì?
- Tân Mùi.
- Con dê.
- Ừ.
Hai tay nó đánh chát một cái:
- Đúng rồi.
Tôi hỏi:
- Đúng cái gì?
Mắt nó bỗng sáng lên:
- Mày không phải tá, không phải tướng là phải rồi. Tuổi con dê của mày chỉ làm nghệ sĩ thôi".
Nghe người bạn nhận định chắc như đinh đóng cột vậy, Nguyễn Quang Sáng chợt nghĩ đến đám bạn văn nghệ cùng tuổi Tân Mùi với mình: Nhạc sĩ Hoàng Hiệp, nhà thơ Phùng Quán, và thấy sự suy đoán của người bạn hàng xóm cũng có phần… đúng.
Sinh thời, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. 
Dừng cuộc "hành trình" ở tuổi 82, sự ra đi của nhà văn Nguyễn Quang Sáng được xem là có phần đột ngột. Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, con trai thứ của nhà văn Nguyễn Quang Sáng kể: "Mấy hôm nay thấy ba khỏe hơn, đi lại nhiều nhưng không ngờ ba lại ra đi". Theo đạo diễn Nguyễn Quang Dũng cho biết, anh không kịp có mặt ở giây phút cuối đời của ba anh. Khi ấy chỉ có mẹ anh. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng ra đi hơi đột ngột nhưng nhẹ nhàng.
Nói đột ngột là bởi với phần đông bạn bè, người thân nhắc tới Nguyễn Quang Sáng là họ luôn hình dung tới vóc dáng đậm, chắc, vâm váp của ông. Lại nhớ, trước khi nhà văn Nguyễn Quang Sáng mất chừng hơn một năm, gặp ông ở Hà Nội, khi tôi hỏi lão nhà văn về tình hình sức khỏe của một nhà văn ở Sài Gòn ốm đã lâu ngày, ông nửa đùa nửa thật cho biết: Ông không "dám" đến thăm vì người này vốn kình địch với ông. Sợ ông ấy nhìn thấy một Nguyễn Quang Sáng khỏe nhường này sẽ lên cơn sốc, ảnh hưởng đến việc… dưỡng bệnh.
Giờ thì cả hai nhà văn nói trên đều đã trở về với tiên tổ.
Tường Duy - Xuân 2015

Thứ Bảy, ngày 07 tháng 2 năm 2015

'Nhận diện' tướng người thông minh, trường thọ

Đăng Bởi -
tuong thong minh va truong tho
Xem tướng người thông minh trong tử vi tướng số theo nhân diện học, trán là bộ phận quan trọng trong việc xem xét năng lực cũng như vận may của cá nhân

Thông minh, tài trí, trường thọ dường như là mong muốn của tất cả mọi người. Song người xưa với tư duy kính nghiệm đậm chất duy vật cổ sơ thì cho rằng trí tuệ và sự thọ yểu lại có mối quan hệ bí ẩn với tướng số, cái phần nhiều do thiên định.

Tướng người thông minh
Dân gian có câu "Trán cao phúc đức vô cùng/ Mày cao mắt sáng tinh thông hơn người". Theo diện tướng học, trán là bộ phận quan trọng trong việc xem xét năng lực cũng như vận may của cá nhân. Xét riêng về mặt trí tuệ, sự khác nhau ở mỗi người sẽ tùy đặc điểm độ cao, chiều rộng, màu da, tính cân đối, độ bằng phẳng...của trán. Trán tuy rất quan trọng nhưng không mang tính độc lập hoàn toàn, chúng luôn liên kết hỗ trợ, chế ngự và bị chế ngự bởi các yếu tố khác. Vì vậy, ngoài trán có thể xét đoán thêm khi nhìn ở một số cơ quan khác như mắt, mày, tai, nốt ruồi...
Người thông minh thường có các dạng trán sau: trán cao, rộng; trán cao rộng và vuông; trán tròn cao, đầy đặn; trán lẹm; trán cân xứng, hơi lồi lõm nhưng cao và rộng; trán gồ phía dưới nhưng cao và rộng.
Ngoài ra, trán cao có góc tròn là người có năng khiếu nghệ thuật. Trán cao trung bình có khả năng tưởng tượng và óc sáng tạo tốt. Trán thấp, hẹp, có góc tròn tuy có năng khiếu về nghệ thuật nhưng không đủ điều kiện để khẳng định điều đó.
tuong thong minh va truong tho
Tướng thông minh
Trán rộng nhưng độ cao trung bình thì thiếu chủ động trong công việc. Trán rộng, thấp thì thiếu sáng tạo, trí nhớ kém.Trán rộng với phần dưới phẳng thì trí tưởng tượng kém. Trán vuông, thấp, hẹp thì tư duy thiển cận.Trán rộng với phần trên bằng phẳng và rộng, chủ nhân là người mơ mộng. Trán gồ giữa, chủ nhân là người hay sống trong sự hoang tưởng. Tuy nhiên, nếu là tướng trán cao nhưng hẹp thì lại là người kém trí tuệ.
Miệng của người thông minh có góc cạnh rõ ràng, mở to, khép nhỏ, môi trên có vân, hai môi cân xứng, sắc môi hồng nhuận. Nhân trung (khoảng cách từ môi trên đến chóp mũi) có hình tam giác là tướng miệng tốt nhất. Người có tướng miệng này là người thông minh, nhân hậu, tài năng hơn người, thành công trong sự nghiệp.
Lông mày có nốt ruồi là người thông minh hiền hậu mà được sang quý. Lông mày trông như trăng non, thông minh hơn người. Góc mày vào tóc mai, là người thông minh tuấn nhã. Mắt của người thông minh thường sáng (sáng trong, sáng xanh), lòng đen trắng rõ ràng, lòng đen nhiều hơn lòng trắng, tướng mắt cân đối, đây cũng là một phần của tướng người quân tử, chính trực. Tai người thông minh có vành bờ phân minh rõ ràng.
Để xét đoán tướng người thông minh, cũng cần kết hợp với xem đường Trí đạo (Minh đường) trong bàn tay chủ nhân. Bởi đường Trí đạo thể hiện về trí tuệ mỗi người, trong đó gồm trí thông minh, học vấn, tư tưởng. Trí đạo tốt khi dài, sâu, rõ ràng và hồng hào, thể hiện là người thông minh, có óc suy đoán tốt, có tính trung trực, thanh liêm, giàu lòng bác ái.
Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng khái niệm thông minh ở đây nhìn dưới góc độ Nhân tướng học theo kinh nghiệm của cổ nhân, nó không trùng với chỉ số IQ (Intelligent Quotient), một khái niệm hiện đại, được xem là thước đo của trí thông minh của người thời nay.
Tướng người sống thọ
Dân gian có câu "Tai dầy có trái sống lâu/ Tai dầy mà rỗng của thâu không bền". Theo Nhân tướng học, tướng người trường thọ phải hội đủ tối thiểu bảy điều kiện sau:
1. Lông mày phối hợp thích nghi với râu và tóc, càng về già càng dài lại là dấu hiệu tốt. Tuy nhiên, dưới 30 tuổi mà lông mày đột nhiên dài ra một cách bất thường lại là chứng yểu mệnh. 2. Tai có Luân quách rõ ràng, lớn và dầy, rắn chắc, sắc tươi nhuận. 3. sống mũi (phần Niên thượng, Thọ thượng) đầy và có thịt. 5. Nhân trung sâu và rộng. 6. Răng chắc chắn. 7. Tiếng nói rõ ràng, vang dội. Thần khí sung túc.
tuong thong minh va truong tho
Tướng trường thọ. (Trong ảnh cụ bà Antisa người sống thọ nhất thế giới khi bước qua tuổi 132).
Ngoài ra, những dấu hiệu sau đây cũng liên quan khá mật thiết tới tướng thọ mệnh, cổ phía dưới có thêm lớp da trễ xuống vai (trường hợp khi người đứng tuổi và mập). Nếu là lộ hầu thì âm thanh phải trong trẻo và cao. Xương Lưỡng quyền vững vàng và ăn thông lên ngang phía xương hai bên đầu phía trên và sau tai nổi cao rõ rệt.
Ngũ nhạc (gồm trán, mũi, cằm, lưỡng quyền trái, phải) đầy đặn và đúng cách cục. Đến tuổi trung niên (khoảng ngoài 30 tuổi) tai mọc lông dài hoặc lông mày bắt đầu mọc dài và sắc thái tươi nhuận. Lưng rộng, bụng dầy.
Người có đầy đủ tất cả các điều kiện kể trên, theo cổ nhân, chắc chắn là tướng trường thọ trong trường hợp bình thường. Tuy nhiên, khi đoán định về thọ yểu còn phải kết hợp với cả xem tướng bàn tay, nhất là đường Sinh đạo. Một đường Sinh đạo dài, rõ nét, không bị đứt quãng thể hiện tuổi thọ, sức sống của chủ nhân. Tuy nhiên, không thể nói thọ yểu phụ thuộc hoàn toàn vào độ ngắn dài của đường này, vì rằng nó còn được hỗ trợ hoặc chế ước bởi các đường Trí đạo, Tâm đạo và ngón tay cái.
Tướng người non yểu
Một cá nhân bị xem là có tướng non yểu nếu đồng thời phạm bảy khuyết điểm sau:
1. Lông mày đẹp đẽ về hình thức nhưng hỏng về thực chất (sợi thô vàng, sắc khô héo). Lông mày mọc xệ xuống phía dưới mi cốt, dáng vẻ lạnh lẽo.
2. Tai nhỏ, úp xuống phía trước mặt. Tai quá mềm và sắc không xạm, tai quá mỏng, nhĩ căn bạc nhược.
3. Mũi gãy khúc, Sơn căn (gốc mũi nằm giữa hai mắt), gập xuống, Chuẩn đầu (đầu mũi) nhỏ nhọn, khiến mũi trở thành liệt thế.
4. Đầu nhỏ, cổ dài, trán nhỏ nhọn và nổi gân xanh, thiếu niên mà đi hoặc ngồi so đầu rụt cổ.
5. Nhân trung ngắn, nông cạn.
6. Tiếng nói đứt đoạn, giọng nói gấp mà hời hợt như người thiếu hơi, âm điệu buồn tẻ như người không có sinh khí.
7. Ánh mắt đờ đẫn như kẻ si ngốc hoặc người ngái ngủ, ngồi thì lưng như gục ngã, đứng nhìn thì chân không có gân cốt, đi thì thân hình xiêu vẹo, bước chân thiếu vững vàng.
Tất cả những dạng thức trên đểu là biểu hiện của "Thần suy nhược, hôn ám đoản xúc" nên không thể nào sống quá 50 tuổi. Bởi lẽ đó, có người tuy về hình tướng rất đẹp đẽ phương phi mà chết yểu chỉ vì khí chất không cân xứng.
Ngoài tổng quát về mạng non yểu kể trên, tác giả Phong Vân Tử trong cuốn "Giám nhân thuật" còn liệt kê một vài hạn tuổi non yểu với một số dấu hiệu đặc biệt, cụ thể là: Chết yểu trong vòng 10 tuổi trở lại: Phàm tướng người non yểu trong tuổi trên được thể hiện qua đầu và trán nhỏ quá mức so với thân mình, trán nổi gân xanh quá rõ rệt, phía sau đầu xương bị lõm xuống. Người to con mà đầu lại nhỏ, cộng thêm tiếng nói quá nhỏ, khó sống qua năm 15 tuổi. Tai mỏng như giấy, nhĩ căn bạc nhược, da mỏng và bóng như bôi dấu, khó vượt qua quãng 16-19 tuổi. Mắt lồi mà lòng đen ít, lòng trắng nhiều, nhĩ căn xạm đen, tai mỏng và hướng về phía trước, khó sống qua tuổi 20.
Lông mày ngắn, mặt ngắn, không thọ quá 25 tuổi. Mày thưa thớt, xâm phá Ấn đường, mắt không có thần, môi xám là tướng đoản thọ trong vòng 26 tuổi. Mắt nhỏ, quyền thấp, xương thô, thịt teo mà Hạ đình quá dài nhọn, không quá 27 tuổi. Lông mày giao nhau mà mát thoát thần, môi vẩu mà môi trên lại ngắn, da mặt quá mỏng, khó sống được quá 30 tuổi.
Mắt lồi, lông mày ngắn, Địa các quá dài không tương xứng với khuôn mặt, khó sống qua 32 tuổi. Mắt thì lúc như lộ chân quang, lúc lại như chìm xuống. Lông mày vừa thô vừa ngắn lại thêm Hạ đình dài hẹp, không quá 34 tuổi. Lộ mắt, lộ hầu, xương nhỏ mà người mập, không quá 36 tuổi. Mắt lộ hung quang hừng hực, tính tình thô bạo thì dẫu mũi cao, Sơn căn không gẫy khúc thì cũng chỉ đến năm 39 tuổi khó tránh được số trời.
Con người quá 50 tuổi mà chết thì không còn gọi là yểu tử nữa mà nên gọi là mạng vong hay thọ chung. Thông thường, kẻ sống mũi không ngay ngắn (có chiều hướng lệch sang bên trái hay bên phải) ít khi sống quá 42 tuổi. Mắt nhỏ, mày co rút lại không tương xứng với khuôn mặt, Sơn căn lại đầy đặn thường sống đến khoảng 42-44 tuổi. Bắt đầu phát phì mà thần khí lại có vẻ co rút, thì khó qua được tuổi 49 và 50.
Dĩ nhiên, đây là theo cách tính của cổ nhân, khi mà người thọ đến tuổi 70 rất hiếm.
Hải Hậu
(Câu Chuyện Pháp luật)

Một kỷ niệm văn chương dở khóc, dở cười

Khi đó tôi đang làm công việc giáo vụ của trường Viết văn Nguyễn Du. Một hôm tôi được giao nhiệm vụ là phải mời bằng được nhà văn N… vào giảng bài cho các sinh viên trường viết văn. Ông là nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, vì thế, sự có mặt của ông vào đúng thời điểm nhà trường đang gặp khó khăn, là vô cùng cần thiết. Vì thế buổi giảng bài của ông được đưa lên thành công việc trọng điểm trong tuần. Khi lãnh đạo nhà trường trực tiếp đến mời, nhà văn N… nói là ông rất ngại. Nhưng rất may là vào phút chót ông cũng nhận lời.

văn chương, kỷ niệm

Trước khi buổi giảng diễn ra vài hôm, tôi đã phải trực tiếp gặp và nói với các sinh viên về tầm quan trọng của sự kiện nhà văn N… đến trao đổi nghề nghiệp. Nhiều sinh viên không quan tâm. Có người còn tỏ ra chế nhạo. Nhưng tôi vẫn kiên nhẫn nhắc lại vài lần nữa, đặc biệt là vào ngay trước hôm diễn ra bài nói chuyện của nhà văn N… Tôi rất sợ mọi việc không như ý thì lợi bất cập hại.
Đúng lịch tôi đến cơ quan rất sớm, cùng lái xe đi đón nhà văn N… ở một khu tập thể. Những gì tôi lo lắng đã không xảy ra. Tuy vẫn còn vắng một hai người, nhìn chung đó là buổi học khá đầy đủ sĩ số. Tôi biết nhiều sinh viên phải miễn cưỡng ngồi nghe nhưng họ cũng không để lộ thái độ làm mếch lòng người khác. Như mọi cuộc diễn thuyết trước đó, nhà văn N… khá bốc. Hôm ấy bỗng đâu ông như trút ra nỗi niềm bấy lâu phải nén xuống trong lòng, khi ông nói to lên rằng: “Điều tôi muốn nói với các em là đừng để cho bất cứ ai, bất cứ thằng nào … xía vào quyết định số phận cuộc đời mình”. Tôi còn nhớ như in vẻ mặt nhà văn N… lúc ông nói điều đó. Nó đầy vẻ bất cần. Cứ như ông vừa tự tháo xiềng cho mình. Sau đó ông cũng nói về thơ, văn nhưng khá khiêm tốn. Cuối cùng ông đọc thơ, một bài thơ chỉ có ý mà không còn lời, tức là chủ về triết lý, khá khô khan.
Chiều hôm ấy, để tăng thêm sự trọng thị của nhà trường, Ban giám hiệu cử tôi cùng với mấy học sinh nữ, ăn mặc tươm tất, mang biếu nhà văn N… một giỏ quà. Chỉ gồm bó hoa và ít quả tươi. Chúng tôi đến đúng lúc nhà văn N… không có nhà. Tôi bèn để quà lại cùng mấy lời ghi trên tờ giấy. Hôm sau nhà văn N… gọi điện cho tôi. Giọng ông nhẹ nhàng, cực kỳ ấm áp. Ông lịch sự và rất xúc động cảm ơn tôi. Sau đó ông thật lòng bảo thêm: “Để đáp lại thịnh tình của nhà trường và các bạn sinh viên, tôi sẽ đến nói chuyện thêm một buổi nữa”.
Tôi buông máy là đi gặp lãnh đạo ngay. Tình huống phát sinh này khiến chúng tôi lúng túng. Một buổi đã khổ với việc gom những ông bà sinh viên kiêu ngạo, giờ thêm buổi nữa không biết sẽ làm thế nào để giữ chân họ đây. Nhưng không thể không đáp ứng tấm chân tình của nhà văn N… Cuối cùng nhà trường vẫn quyết định chính thức mời ông buổi thứ hai. Ông hoàn toàn đồng ý và tỏ ra rất vui. Nhưng tôi thì không thể cười được. Tôi biết là mình sắp khốn nạn. Tôi lại phải dùng mọi cách để nói với sinh viên, về buổi giảng thứ hai của ông, là buổi mà ông chia sẻ nhiều bí mật về ông và thế hệ ông. Tôi nhấn mạnh rằng, nhà văn N… rất quý các bạn nhà văn, nhà thơ trẻ mà ông tin là có tài! Đôi khi tôi vẫn phải dùng bài nịnh rẻ tiền đó. Nhiều người phản ứng ra mặt là họ nghe thế quá đủ rồi. Tôi vẫn kiên nhẫn thuyết phục nhưng không dám nói ra tình cảnh bi hài mà nhà trường đang bị lâm vào.
Thời gian đó trường Viết Văn vừa chiêu sinh một lớp viết báo ngắn hạn. Khóa học dự kiến sẽ khai giảng sau buổi nói chuyện thứ hai của nhà văn N… vài ngày. Một số học viên từ các tỉnh xa đã có mặt, tôi ước khoảng hơn chục người. Khi nhà văn N… bước vào phòng khách, tôi gần như ù hết cả tai. Nhưng tôi vẫn hy vọng các ông bà sinh viên viết văn, sau chầu cà phê sáng, sẽ dẫn xác vào lớp. Chỉ cần họ ngồi trong lớp, còn nghe gì hay nghĩ gì tôi cũng không quan tâm.
Đã quá giờ vào lớp gần tiếng đồng hồ mà vẫn chỉ thấy chưa đầy chục người, ai cũng lộ vẻ thờ ơ. Tôi biết là hỏng to tồi. Tôi vội chạy lên các phòng có học sinh ngắn hạn, chủ yếu ở khu vực phía Nam, đang còn nghỉ lấy sức sau chuyến đi tầu hỏa xuyên Việt. Tôi làm bộ quan trọng bảo với họ như sau: “Các bạn thật là những người may mắn. Các bạn đến nhập học đúng vào hôm nhà trường mời được nhà văn, nhà viết kịch, nhà thơ, triết gia lão thành N… một nhà văn cỡ thế giới. Đây là đặc ân ông chỉ dành cho học sinh viết văn. Bởi vì mời được ông khó vô cùng. Vì thế ngay lập tức chúng tôi nghĩ đến các bạn. Ta cần phải tận dụng cơ hội hiếm hoi này để nghe một nhà văn lớn của đất nước nói chuyện. Trân trọng mời các bạn cứ vào lớp nghe tự nhiên.”
Mọi người mắt đều sáng lên. Họ tin vào lời tôi. Bản thân họ cũng thấy đó là dịp hiếm. Sau khi giục họ nhanh chóng xuống và ổn định chỗ ngồi, tôi chạy vào lớp. Thêm được một, hai người, y như cảnh rã đám của chợ chiều. Có trời cũng không thể tìm thêm được những ông bà sinh viên còn lại. Đành phải mời nhà văn N… lên giảng đường. Mặc dù được bổ sung hơn chục học viên của lớp ngắn hạn nên các bàn không đến nỗi bỏ trống, nhưng nhà văn N… chỉ liếc qua đã biết ngay là ông quá cả tin, bị lừa bởi màn kịch của nhà trường và lẽ dĩ nhiên thủ phạm chính là tôi, khiến ông bị rơi vào tình thế vô duyên. Nhưng là người lịch duyệt và từng trải, ông chỉ hơi nhíu mày lại rồi vẫn nhiệt tình giảng bài, y như chẳng có chuyện gì. Chỉ có điều, kết thúc buổi nói chuyện là ông lên xe về ngay không muốn nhìn thấy bất cứ ai, lòng có lẽ rất buồn và chắc chắn là ông bị tổn thương sâu sắc. Ông có thể đã rất giận tôi là không nói thật với ông. Nhưng tôi cũng như ông, là sản phẩm của một thứ văn hóa đóng kịch. Chúng tôi biết mọi chuyện thế là thất bại. Nghe đâu sau đó cũng có một cái hội nghị bàn về tương lai của trường viết văn và có mặt nhà văn N… Ông nói tốt hay xấu về trường là điều tôi không bao giờ biết, vì tôi không chủ định tìm hiểu. Nhưng cảm giác về sự có lỗi với ông thì sẽ còn bám theo tôi rất nhiều năm sau…
  • (Theo Tạ Duy Anh/ Báo Xuân Tiền Phong)