Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

Cầu Móng - Cây cầu vắt qua ba thế kỷ



 Trong số những cây cầu cũ xưa còn sót lại ở Sài Gòn, có lẽ Cầu Mống là cây cầu mang hình bóng của một thứ thời gian lắng đọng nhất trong tâm tưởng của rất nhiều người yêu quý thành phố có những cây cầu in vóc dáng của năm tháng đã qua đi trên một dòng sông. 
     Cầu Mống là loại cầu sắt thiết kế kiểu Pháp và do Pháp xây dựng nên in đậm nét “văn hóa cầu” phương Tây, thành cầu uốn cong, có những khoảng trống, sơn đen bắc qua kinh Tàu Hũ nối quận 1 và quận 4 (đất Khánh Hội xưa). Chân cầu phía quận 1 nằm chếch công viên Diên Hồng đối diện đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Công Lý cũ ). Sở dĩ gọi là công viên Diên Hồng vì phía sau đó là Hội trường Diên Hồng mà báo chí trước năm 1975 còn gọi là “Viện Bô Lão” vì đây là trụ sở Thượng Nghị Viện của chế độ cũ. Chân cầu phía quận 4 nằm trên đường Bến Vân Đồn thuộc địa phận phường 12, quận 4.
     Cầu nầy do công ty vận chuyển Hàng hải Pháp Messageries maritimes bỏ vốn mướn công ty xây dựng Levallois Perret (tức Eiffel cũ) xây cất – có thể là trong cùng một giai đoạn với việc xây cất Cầu Quay Khánh Hội – do đó người Pháp cũng gọi cầu nầy là cầu “Công ty Messageries maritimes” (Công ty Đầu Ngựa) và người Việt Nam từ trước tới nay thường gọi là là cầu Móng Vĩnh Hội vì đây có thể là chiếc cầu đầu tiên có trụ móng. Cũng có thể vì hình dáng vòng cung của chiếc cầu giống như chiếc cầu vòng mống trời cho nên người dân bình dị Sài Gòn ngày xưa gọi nó là cầu Mống chăng? Cũng may là chiếc cầu Mống lịch sử nầy cho đến nay vẫn còn sống sót trong khi hình bóng chiếc cầu Quay Khánh Hội của Sài Gòn năm xưa đã không còn nữa.
       Có hai khung đường xe chạy, một để đi lên cầu sang Vĩnh Hội và một để từ cầu phía Bến Vân Đồn/ Vĩnh Hội đi qua để xuống bến Chương Dương . Trước 30 tháng 04 năm 1975, bờ kinh Tàu Hủ ở dưới gầm cầu Mống phía bến Chương Dương là hai khuôn viên ấm cúng, thơ mộng và kính đáo cho những cặp tình nhân trẻ, già đưa nhau xuống đó tình tự ngày cũng như đêm.
       Một điều ít người được biết đến: Cầu Móng là chiếc cầu đầu tiên của công ty Messageries Maritimes xây cất ngang qua con kinh Tàu Hủ và toà nhà Ngân Hàng Quốc Gia của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà (thời Pháp thuộc là Banque de l’Indochine / Ngân Hàng Đông Dương) chỉ mới được xây cất sau khi Cầu Móng đã được sử dụng.

video

Thứ Hai, ngày 21 tháng 7 năm 2014

Trẻ em vùng cao vừa trông em vừa đi học



Thứ năm 17/07/2014 17:46
(VTV Online) -
Tại các tỉnh vùng cao Tây Bắc nói chung và ở huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên nói riêng, hình ảnh các em nhỏ cõng theo em đến lớp học không phải là hiếm gặp, bởi hàng ngày, bố mẹ phải đi rẫy nên các em vừa đi học vừa phải trông em.
Được biết, Sở GD-ĐT tỉnh Điện Biên cũng đã có quy định là học sinh không được mang theo em vào lớp học, nhưng các thầy cô giáo tại đây vẫn đành phải chấp nhận việc này vì nếu không sẽ có nhiều học sinh phải nghỉ học.
Mời quý vị cùng theo dõi phóng sự dưới đây để cảm nhận rõ hơn về tinh thần hiếu học của các em học sinh miền núi!

video

Thứ Ba, ngày 15 tháng 7 năm 2014

"Cấm" nông dân chế tạo lò đốt rác phát điện: Côn đồ khoa học hay côn đồ dư luận

(Tinmoi.vn) Câu chuyện chiếc “lò đốt rác phát điện” do một nông dân chế tạo bị Sở Khoa học Công nghệ Thái Bình cấm hoạt động đã gây “sóng” trong dư luận. Một blogger có tiếng thậm chí đã gọi xem việc cấm đoán này là “côn đồ khoa học”. Tinmoi/Nguoiduatin đã tìm hiểu nội tình vụ việc.
Lò đốt rác tạo ra điện đủ cho 20 hộ gia đình ?
Chủ nhân của lò phát điện trên là ông Bùi Xuân Kiên (trú tại Thái Thụy, trình độ học vấn lớp 4, nghề nghiệp nông dân). Ông chia sẻ, đã có ý tưởng sản xuất một “nhà máy điện” từ lâu. Để thực hiện ước mơ, ông mất 6 năm dành dụm số tiền 100 triệu đồng, đi các nhà máy nhiệt điện ở Lạng Sơn, Quảng Ninh… tham quan, mua sách về tự học hỏi kiến thức.
Cuối cùng, ông ra ở một ngôi nhà hoang gần chợ vì nơi đó có nhiều rác thải để làm nguyên liệu cho lò “nhiệt điện” của mình.
Theo ông Kiên mô tả: Lò đốt này được thiết kế gồm 2 cửa. Cửa trên là lò đốt chính, cửa dưới có tác dụng hỗ trợ. Khi đưa rác vào lò, nhiệt độ đốt rác bao giờ cũng phải được đảm bảo ở mức cao từ 1.600 - 2.000 độ C.
Hình ảnh Cấm nông dân chế tạo lò đốt rác phát điện: Côn đồ khoa học hay côn đồ dư luận số 1
Ông Bùi Xuân Kiên và chiếc lò phát điện của mình (Ảnh: sưu tầm)
Toàn bộ rác thải sẽ được đốt sạch tới mức không còn tro than. Nhiệt độ này đảm bảo cho lượng hơi nước bay hơi nhanh trong nồi hơi, tạo nên áp lực làm quay tua-bin. Hơi nước đó được tuần hoàn và quay về bể ngưng.
Tại đây, nhiệt độ nước khoảng 90 độ C. Với lượng nước chờ bốc hơi này, ông Kiên thiết kế một máy bơm khiến nước quay trở lại nồi hơi. Nước sôi và bốc hơi ngay lập tức và đảmbảo nhiệt không hề suy giảm. Nguồn điện được sản sinh ra trong chuỗi tuần hoàn các thao tác vừa rồi và được đấu thẳng vào điện nguồn của hộ gia đình sử dụng.
Cũng theo ông Kiên, lò này có thể biến 1kg rác thành 1,5kW điện, 1kg gỗ sẽ được 4-5kW điện. Với lò đốt rác phát điện này, giá điện sẽ rẻ hơn 80% điện lưới. Ngoài ra, chỉ cần vài người để vận hành lò này,  thậm chí chỉ cần một người.
 "Nếu vận hành hết công suất, một lò phát điện mini có thể cung cấp điện cho 20 hộ dân" - ông Kiên cho biết.
Sở KHCN Thái Bình cấm, người dân bức xúc
Sau khi chế tạo thành công, ông Kiên có mong muốn mời nhà khoa học, cơ quan chức năng về thẩm định để “nhà máy điện” của ông để đưa vào sử dụng.
Tuy nhiên, trái với kỳ vọng, Sở Khoa học Công nghệ Thái Bình đã không cho phép ông Kiên tiếp tục chế tạo, hoàn thiện lò này.
Quyết định này, đã vấp phải sự phải ứng dữ dội từ dư luận nhiều ngày qua. Một blogger có tiếng đã có hẳn bài viết với tiêu đề khá bức xúc: Gửi những "côn đồ" khoa học.
Hình ảnh Cấm nông dân chế tạo lò đốt rác phát điện: Côn đồ khoa học hay côn đồ dư luận số 2
Bài viết thể hiện sự bức xúc của blogger. (Ảnh chụp màn hình)
“ - Việc Sở Khoa học công nghệ Thái Bình các ông quyết định nhắm mắt dẹp bỏ sáng chế lò đốt có khả năng đốt triệt để rác thải ở nhiệt độ cao và dùng nhiệt năng để phát điện của người nông dân Bùi Khắc Kiên (xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) chỉ vì những lý do vớ vẩn, những lý do mà nghe ra đứa con nít cũng thừa biết các ông không chỉ là quan liêu, không chỉ là vô cảm, không chỉ là máy móc, không chỉ là bừa bãi mà là dấu hiệu của sự ngu dốt, dấu hiệu của sự đố kị, dấu hiệu của sự cửa quyền...
-Ngu dốt vì trước một sáng chế được coi là rất lớn lao như thế, đến thế giới đọc thông tin còn ngạc nhiên, mà các ông phẩy tay, dẹp, đó là cái phẩy tay của những kẻ tô son má hồng hai chữ khoa học nhưng hoàn toàn là kẻ mù điếc về khoa học, hay nói chính xác hơn các ông là những kẻ chà đạp khoa học…” trích trong bài viết của blogger NQV.
Bài viết còn cho rằng, khi đoàn kiểm tra của cơ quan chức năng đến, những chỉ số về nhiệt độ, lượng bụi, khí thải… đều rất thuyết phục nhưng không hiểu sao sản phẩm của ông Kiên vẫn bị cấm.
Hình ảnh Cấm nông dân chế tạo lò đốt rác phát điện: Côn đồ khoa học hay côn đồ dư luận số 3
Đại diện công ty Nhật Bản đến thăm quan lò phát điện (ảnh trên) và những chỉ số khoa học của lò (ảnh dưới). (Ảnh chụp màn hình)
Như để ủng hộ ông Kiên và phản đối  “cấm lệnh” của Sở Khoa học và Công nghệ Thái Bình, tờ Đất Việt đưa tin: Ngày 7/7/2014, một công ty của Nhật Bản đã đến thăm quan lò đốt rác phát điện của ông Kiên.
Theo thông tin từ ông Bùi Khắc Kiên, nếu sự hợp tác giữa ông và người Nhật Bản bị chính quyền làm khó khăn thì công ty Nhật ấy sẵn sàng đưa ông sang Nhật Bản để chế tạo cho họ công nghệ đó.
Vụ việc nhanh chóng trở thành vấn đề nóng, gây tranh cãi trong dư luận nhiều ngày qua. Trước những chỉ trích của người dân hướng tới các nhà học, thậm chí bị chửi là “côn đồ”, là đố kỵ với công trình sáng tạo của người nông dân.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, vụ việc không được thông tin đầy đủ và ông Kiên đang trở thành nạn nhân của truyền thông. Tin mới/Người đưa tin sẽ tiếp tục lấy ý kiến của các chuyên gia cùng quan chức Sở Khoa học và Công nghệ Thái Bình để tìm hiểu vụ việc.
Còn tiếp…
  • Na Sầm

Thứ Hai, ngày 14 tháng 7 năm 2014

Hi hữu và ngộ nghĩnh: mèo chăm vịt như con

Hi hữu và cũng thật ngộ nghĩnh: Mèo mẹ không chỉ chăm sóc những chú mèo con, mà còn chăm sóc những chú vịt con. Hn nó tưởng những chú vịt ấy cũng là con của mình. Sự việc khiến người xem cảm thấy lạ lẫm, thường thì mèo sẽ ăn thịt vịt con chứ không như trong clip này.
Theo Afamily.vn

video

Thứ Hai, ngày 07 tháng 7 năm 2014

Cố Tổng bí thư Lê Duẩn: "Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc"

Kỷ niệm 28 năm ngày mất Cố Tổng bí thư Lê Duẩn (10.7.1986 - 10.7.2014)

Đăng Bởi -
Bác Hồ và Cố Tổng bí thư Lê Duẩn năm 1960
Bác Hồ và Cố Tổng bí thư Lê Duẩn năm 1960

Trên cương vị là Bí thư thứ nhất và sau đó là Tổng Bí thư suốt 26 năm, ông Lê Duẩn đã để lại nhiều di sản cho lịch sử Việt Nam. Có thể người ta còn tranh cãi về ông ở vài vấn đề, nhưng công lao to lớn trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất dân tộc cũng như ý chí kiên cường và tinh thần cảnh giác cao độ trong việc chống lại chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, thì có lẽ ít người nghi ngờ…

Bài học lớn về Trung Quốc 
Trước hiệp định Geneva, ông Lê Duẩn là người lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền Nam. Như nhiều nhà lãnh đạo của Việt Nam khi ấy, ông thực sự tin Trung Quốc là người anh em, đồng chí thực sự của cách mạng Việt Nam.
Năm 1954, Hiệp định Geneva được ký kết đã bẻ ngoặt nhận thức của ông về mối quan hệ với Trung Quốc. Nhà thơ Việt Phương, thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng kể:
“Khi bàn thảo về Hiệp định Geneva, Bộ Chính trị của ta chỉ đồng ý lấy vĩ tuyến 16 là ranh giới cuối cùng của khu phi quân sự tạm thời giữa hai miền Nam – Bắc trong thời gian chờ tổng tuyển cử. Nhưng Trung Quốc với sự ảnh hưởng của mình, đã khăng khăng ép ta phải đồng ý chọn vĩ tuyến 17. Khi chúng ta bàn bạc vấn đề này với Trung Quốc, họ đã nói: “Chúng tôi là tướng ngoài mặt trận. Các đồng chí hãy để cho chúng tôi tùy cơ ứng biến”. Khi nói như thế, người Trung Quốc đã tự cho mình quyền định đoạt số phận của người Việt Nam”.
Thời điểm đó, ta đã kiểm soát phần lớn vùng Nam bộ, ngoại trừ một vài đô thị nhỏ. Ở miền Bắc, ta chiến thắng vang lừng ở Điện Biên. Nhưng Trung Quốc đã bắt ta phải ký một hiệp định chia cắt đất nước - một hành động mà sau này như nhiều người nói: “người anh lớn” đã phản bội lại “người em” của mình.
Sau khi hiệp định được ký,  trên đường từ Bắc vào Nam,  nhìn những quân dân miền Nam giơ 2 ngón tay chào nhau, vừa là biểu tượng victory  - chiến thắng, vừa là lời hẹn 2 năm sau sẽ đoàn tụ, ông Lê Duẩn đã khóc. Ông hiểu, sẽ không bao giờ có tổng tuyển cử, sẽ không bao giờ chỉ là 2 năm…Rồi đây đất nước sẽ còn bị chia cắt rất lâu vì Hiệp định Geneva năm đó.
Sau đó, khi chia tay Lê Đức Thọ ra Bắc tập kết, ông Lê Duẩn đã nói với người đồng chí của mình một câu rất nổi tiếng: “Anh ra nói với Bác, 20 năm nữa tôi mới được gặp Bác”. 
Rất trùng hợp, 20 năm sau, đất nước thống nhất. Nhưng quan trọng hơn, đó là lần ông Lê Duẩn thực sự thấy thấm thía nhất về nỗi đau chứng kiến đất nước ông đã bị người anh em Trung Quốc phản bội. Năm 1972, trong một cuộc trò chuyện với Chu Ân Lai, nhắc lại về Hiệp định Geneva, ông Lê Duẩn đã  không ngần ngại lên án: “Năm đó, người Trung Quốc các anh đã bán đứng chúng tôi trên bàn đàm phán”.
Dù là năm 1954 hay năm 1972 hay sau này, dù là lúc đang lãnh đạo cách mạng miền Nam hay khi đã ra Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, kể cả khi đất nước đã thống nhất, chưa một phút giây nào, TBT Lê Duẩn quên bài học đó.
“Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc”
Khi còn sống, TBT Lê Duẩn luôn cho rằng, hiểu Trung Quốc là chuyện sống còn của dân tộc Việt Nam, khi mà lịch sử địa lý, trớ trêu thay đã khiến ta mãi mãi phải là láng giềng của họ. Mà để hiểu người Trung Quốc nhất định phải hiểu được những đặc tính của dân tộc Việt Nam.
Đắm chìm vào trong dân tộc để hiểu cái ở ngoài dân tộc và giữ dân tộc là cách mà TBT Lê Duẩn đã làm khi ở cương vị người đứng đầu đất nước.
Trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhân danh việc chi viện, giúp đỡ chúng ta, rất nhiều lần Trung Quốc lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ. Có lần Trung Quốc đề nghị cho chúng ta 500 chiếc xe vào Trường Sơn với điều kiện kèm lái xe của họ. Nhưng TBT Lê Duẩn không nhận bất cứ một chiếc xe nào. 
Có người trong Bộ Chính trị đề nghị “sao ông không nhận một vài chiếc cho người ta vui?”, nhưng TBT Lê Duẩn vẫn kiên quyết giữ lập trường của mình: “Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này”.
Hẳn là  vì hiểu rõ dân tộc, mà ông đã không quên rằng, Trung Quốc từng mượn đường vào đánh Chiêm Thành thời nhà Trần, rồi từng lấy cớ vào giúp vua Lê Chiêu Thống để kéo quân vào Hà Nội. Như một nhà nghiên cứu về quan hệ Việt Nam với Trung Quốc đã từng nhận xét về ông: “Với TBT Lê Duẩn, cái gì nhịn được thì nhịn, nhưng ông tuyệt đối không bao giờ nhượng bộ những điều quá đáng, nguy hại cho an ninh quốc gia”.
 
Tổng bí thư Lê Duẩn thăm một đơn vị tên lửa phòng không bảo vệ Hà Nội
Điều mà TBT Lê Duẩn vẫn thường cố gắng cắt nghĩa là tại sao Trung Quốc đô hộ Việt Nam 1.000 năm mà không đồng hóa được ta? Bởi 1.000 năm là quá dài, và người Trung Quốc chưa bao giờ giấu diếm tham vọng ấy suốt những thời kỳ họ cai trị Việt Nam. Trong lịch sử, nhiều dân tộc khác bị đồng hóa rất dễ dàng chỉ với vài trăm năm, nhưng sự khác biệt của người Việt Nam đã khiến dân tộc này thoát khỏi quy luật đáng sợ đó.
Có rất nhiều thứ người Trung Quốc cho là chân lý, nhưng người Việt Nam không chấp nhận. Người Trung Quốc dùng đạo Khổng để giáo dục người dân. Người Trung Quốc dạy: “Tại gia tòng phụ”, nhưng người Việt Nam nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Người Trung Quốc nói “xuất giá tòng phu”, người Việt Nam lại cho rằng “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”.
Và ông Lê Duẩn luôn nhìn thấy, qua những khác biệt đó người Việt Nam vừa để dạy mình, vừa thể hiện sự phản kháng với tư tưởng đó, và sâu sa hơn là phản kháng sự đồng hóa mà người Trung Quốc cố tình áp đặt lên số phận của dân tộc Việt Nam. Sự phản kháng này nằm sâu trong mầm mống tồn tại của dân tộc, khiến sức mạnh đồng hóa của người Trung Quốc không đâm thủng được. Trung Quốc ngày đó bắt người phụ nữ bó chân, nhưng người Việt Nam không bao giờ đồng ý.  Với người Việt Nam, để sinh tồn thì bàn chân là phải vững chắc trên mảnh đất này. Đó là một nền tảng văn hóa vô cùng Việt Nam, tự thân người Việt Nam và nó đối chọi hoàn toàn với người Trung Quốc.
Dường như, khi hiểu được truyền thống ấy và sức mạnh phản kháng ấy của dân tộc, TBT Lê Duẩn đã luôn có tự tin khi đứng trước những nhà lãnh đạo Trung Quốc, đứng trước sức mạnh của người Trung Quốc, trong rất nhiều giai đoạn thăng trầm của mối quan hệ giữa hai nước.
Một lần, khi ra ngoài Bắc bàn về đấu tranh miền Nam, ông Lê Duẩn nói: “Thưa Bác, chúng ta muốn thắng Mỹ, có một điều rất quan trọng là chúng ta phải không được sợ Mỹ, nhưng cũng không được sợ Trung Quốc và không được sợ Liên Xô”.  
Có người trong Bộ Chính trị phản đối ý kiến đó. Nhưng ông Nguyễn Chí Thanh đã đứng lên ủng hộ: “Thưa Bác, việc anh Ba nói vậy là vô cùng cần thiết và nhất định phải như vậy chúng ta mới thắng được”. 
Cả Bộ Chính trị vỗ tay hoan hô ý kiến đó. Chỉ tiếc là đến giờ những văn bản họp Bộ Chính trị khi đó hầu như vẫn chưa được công bố, khiến những câu chuyện này không thực sự được biết rộng rãi trong dân chúng.
Điều khiến nhiều người suy nghĩ là những năm tháng đó, trong lúc khó khăn nhất, khi mà chúng ta đang dựa vào họ, thành bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc một phần không nhỏ vào sự ủng hộ của họ, nhưng TBT Lê Duẩn vẫn biết cách giữ được vị thế của mình với những nhà lãnh đạo Trung Quốc.
Ông cũng rất khéo léo giữ được độc lập của đất nước mà vẫn khiến Trung Quốc duy trì sự ủng hộ với Việt Nam trong một giai đoạn dài. Cái ý thức “không sợ Trung Quốc” ấy có lẽ đã khiến TBT Lê Duẩn dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng luôn ở thế ngang bằng với những lãnh đạo Trung Quốc như Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình. Nhưng cũng chính vì tư tưởng đó, TBT Lê Duẩn đã trở thành nhà lãnh đạo Việt Nam khiến Trung Quốc e dè, nếu không muốn nói là “gai mắt” nhất trong giai đoạn ấy.
Nhà thơ Việt Phương từng kể một câu chuyện: “khi Bác Hồ đang chữa bệnh ở Trung Quốc, TBT Lê Duẩn có chuyến thăm Trung Quốc và ở gần nơi Bác chữa bệnh. Bác Hồ lúc đó đã  bảo với ông Lê Duẩn: “Chú Ba đến ăn cơm với Bác. Chắc là họ chưa đến mức có ý định giết Bác. Bác đã rất nghi ngại việc TBT Lê Duẩn ở một mình có thể có những chuyện không hay và tìm cách giữ an toàn cho ông bằng mọi cách”.
Từ năm 1976, khi ta căng thẳng với Trung Quốc, mỗi lần sang Trung Quốc, khi những người lính cần vệ của TBT Lê Duẩn đưa dụng cụ đo phóng xạ vào phòng ông kiểm tra, bao giờ độ phóng xạ cũng ở mức kịch kim. Có người lính cận vệ đã đề nghị ông đổi phòng vào ban đêm một cách bí mật. 1 năm sau đó, người lính cận vệ đó bị ung thư máu qua đời, dù trước đó rất khỏe mạnh. Đó có thể chỉ là một sự trùng hợp, nhưng cũng có thể không…
2 tháng qua, khi Trung Quốc ngày càng tráo trở và ngang ngược ở biển Đông, với tham vọng bá quyền không giấu diếm, rất nhiều người dân Việt Nam nhớ về vị TBT mà lịch sử đã nhìn nhận là người có đường lối cứng rắn nhất với Trung Quốc. 
Có lẽ ngày hôm nay, với vấn đề biển Đông, người Việt Nam chúng ta sẽ phải nhớ lại câu nói của cố TBT Lê Duẩn và bài học mà ông đã để lại: “Chúng ta, bằng bất cứ giá nào, cũng không được phép sợ Trung Quốc”.
  •  Thảo Nguyên

Thứ Bảy, ngày 05 tháng 7 năm 2014

“Huyền thoại Thị Nở” màn ảnh Việt tiết lộ nguyên nhân dang dở mối tình đầu với nhà thơ Chính Hữu

GiadinhNet - Những ai từng xem bộ phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” (năm 1982) hẳn không thể quên cô Thị Nở vừa xấu, vừa ương ương, dở dở nhưng lại rất mộc mạc, chân thành trong tình yêu. Vai diễn thành công ấy đã làm cho người đóng - NSƯT Đức Lưu “một bước thành sao” nhưng cũng vô tình đẩy sự nghiệp của bà vào “ngõ cụt” khi “cái bóng” của Thị Nở quá lớn.

“Huyền thoại Thị Nở” màn ảnh Việt tiết lộ nguyên nhân dang dở mối tình đầu với nhà thơ Chính Hữu 1
Vai diễn Thị Nở của NSƯT Đức Lưu trong phim “Làng Vũ Đại ngày ấy”. Ảnh tư liệu.
 
Thậm chí, trong cuộc sống riêng, vai diễn này dường như cũng trở thành “cái duyên tiền định” của bà; 20 năm trước khi đóng vai “người phụ nữ xấu nhất màn ảnh” với cảnh quay bị Chí Phèo quát nạt làm rơi rổ cà chua, NSƯT Đức Lưu từng bị mối tình đầu tát “nổ đom đóm mắt” làm vỡ nát cả rổ trứng trên tay...
 
Tình đầu dang dở vì cái tát “nổ đom đóm mắt”

Khi tiếp nhận thông tin được gặp NSƯT Đức Lưu, tôi dự đoán cho mình những suy nghĩ mông lung. Bởi, Thị Nở ngoài đời khác với Thị Nở trên màn ảnh như thế nào mà sau khi vai diễn “nổi như cồn” ấy cũng là lúc sự nghiệp nghệ thuật của NSƯT Đức Lưu “chợt tắt”. Đem thắc mắc hỏi chính nhân vật và có thời gian tiếp chuyện bà, tôi mới thực sự hiểu rằng, cái “duyên” với nghệ thuật của bà tuy khép lại nhưng dòng chảy nghệ sĩ trong lòng một người yêu nghệ thuật vẫn vẹn nguyên.
 
Sau vai diễn Thị Nở, bà phải từ bỏ nghiệp diễn, về Thành ủy Hà Nội làm ở ban Đối ngoại, giữ chức thư ký thường trực của Ủy ban Đoàn kết với các nước. Bà đã dằn vặt về điều đó, nhưng hơn ai hết bà hiểu, “cái bóng” của Thị Nở quá lớn. Đã có lần bà ngỏ ý với đạo diễn Đặng Nhật Minh muốn đóng vai mẹ của Đặng Thùy Trâm nhưng đạo diễn sợ khi bà “ló mặt” ra màn ảnh người ta lại bảo: “Ô Thị Nở” thì hỏng hết phim... Vai diễn Thị Nở tự nhiên khép lại con đường nghệ thuật của bà như thế.

“Thị Nở” trong phim “Làng vũ đại ngày ấy” đã được khai thác rất nhiều; NSƯT Đức Lưu cũng được người ta biết đến qua những bài báo viết về bà sau thành công của “vai diễn để đời”. Thế nhưng, “Thị Nở” ngoài đời vẫn có nhiều điều chưa kể, đặc biệt là mối tình đầu đầy say mê nhưng cũng nhiều cay đắng với tác giả của bài thơ Đồng chí – nhà thơ Chính Hữu.
 
NSƯT Đức Lưu tên thật là Nguyễn Thị Đức Lưu (SN 1939) quê ở Tây Đằng, Quảng Oai (Ba Vì - Hà Tây cũ). Người con gái xứ Đoài mây trắng có làn da trắng nõn nà, đôi mắt lúng liếng, miệng cười duyên dáng ấy đã làm trái tim bao chàng trai loạn nhịp khi chỉ mới tuổi trăng tròn. Sau một năm công tác ở Trung đoàn 151, bà được chuyển sang Đoàn ca múa II thuộc Tổng cục chính trị. Tại đây, bà gặp Đoàn trưởng, nhà thơ Chính Hữu; chính ông dìu dắt cô gái Đức Lưu trưởng thành và thấm nhuần lý tưởng cách mạng. Và giữa họ nảy nở một tình yêu đẹp, trong sáng. Đôi “trai tài, gái sắc” say đắm nhau trong lửa đạn chiến tranh, cùng hứa hẹn về một mái ấm hạnh phúc.
 
Năm 1955, hai người hẹn nhau cùng về thủ đô Hà Nội chuẩn bị lễ thành hôn. NSƯT Đức Lưu đã chuẩn bị nửa chỉ vàng cho nhà thơ Chính Hữu làm quà tặng, mẹ bà cũng chuẩn bị thêu đôi gối cho hôn lễ mùa thu tới. Nhưng cuộc đời khó ai đoán định chữ “ngờ”, mà chính những người trong cuộc không thể lường trước.

Năm 1959, NSƯT Đức Lưu trúng tuyển vào trường Điện ảnh Việt Nam, lớp diễn xuất khóa I cùng các nghệ sĩ: NSND Trà Giang, Thụy Vân, Thế Anh,… Trong đợt thực tập, bà cùng các diễn viên đi thực tế ở nông trường Rạng Đông (Nam Định). Là trưởng lớp diễn xuất khóa I nên ngày thứ bảy, chủ nhật bà phải ở lại đợi đến ngày thứ hai, cùng với ông Trung Tín (phát thanh viên của Đài phát thanh Việt Nam khi đó, học lớp diễn viên cùng khóa) ở lại xin giấy nhận xét của địa phương nên không về kịp gặp người yêu. Chờ đợi sau thời gian xa nhau, những tưởng nỗi nhớ sẽ làm tác giả “Đồng chí” cuồng si hơn… nào ngờ, chiều thứ hai lên phòng Văn nghệ đưa đồ, tay đang ôm rổ trứng, rổ quà của địa phương gửi tặng thì bà bị một cái tát trái nổ “đom đóm mắt” từ chính người đàn ông mà mình đang nhớ nhung, mong ngóng. Do bất ngờ, khiến rổ trứng và rổ quà rơi vung vãi, nghẹn ngào không biết chuyện gì xảy ra, bà vội lúi húi nhặt hết đồ vào rổ rồi chạy ra ngoài khóc tức tưởi. Đôi mắt lưng tròng, bà đi bộ hết đường Lý Nam Đế để về ký túc xá Cao Bá Quát, lòng không thôi uất hận và xấu hổ. Sau đó một tuần, nhà văn Hữu Mai (lúc đó là Trưởng ban Văn nghệ) đã đứng lên thay mặt Chính Hữu bày tỏ lời xin lỗi và hàn gắn tình cảm. Nhà văn Hữu Mai đã xóa bỏ sự nghi ngờ của anh chàng cả ghen Chính Hữu. Hóa ra, hành động bộc phát của Chính Hữu khi đó là do… ghen, do nghi ngờ Đức Lưu và Trung Tín có quan hệ tình cảm.

Sau đó, tuy hiểu lầm được xóa bỏ nhưng cái tát “vô cớ” trở thành rạn nứt khó hàn gắn giữa hai người. Khi sự việc vỡ lở, bố NSƯT Đức Lưu lúc đó là Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Nam định bảo cô con gái: “Bây giờ Chính Hữu chưa lấy con, đã tát, đã ghen như vậy, lấy con về rồi con sẽ phải bỏ nghề. Con hãy xác định cho kỹ, một là lấy Chính Hữu, hai là bỏ nghề”. Cuối cùng, bà chọn bỏ Chính Hữu để theo đuổi nghệ thuật. Mối tình đẹp khép lại, trong niềm tiếc nuối của bao người. Mấy năm sau, bà và Chính Hữu đều có con gửi ở một trường mầm non. Đó là lần duy nhất sau khi chia tay, bà gặp lại Chính Hữu. Do trời tối, lúc đó vào 6 -7 giờ tối nên bà đã đứng khuất bên cạnh bức tường để tránh cho ông nhìn thấy…
 
Hạnh phúc vững bền với nhà khoa học
 
“Huyền thoại Thị Nở” màn ảnh Việt tiết lộ nguyên nhân dang dở mối tình đầu với nhà thơ Chính Hữu 2
“Thị Nở” của thì hiện tại. Ảnh TG

Sau khi tình yêu đầu đổ vỡ, NSƯT Đức Lưu đã có một thời gian đau khổ tận cùng, nhưng rồi bà cũng lấy lại cân bằng. Bà vùi đầu vào công việc, tối đến tranh thủ học tiếng Anh tại Trường ĐH Tổng Hợp. Chính những buổi tối học thêm đó, bà quen và đón nhận tình yêu của nhà khoa học, GS.TS Trần Hạ Phương – sau này là chồng của bà. Nhắc đến người chồng, bà tủm tỉm cười: “Ông ấy là cán bộ giảng dạy Trường ĐH Tổng hợp, ở tại Khu ký túc xá phố Lò Đúc. Một lần, giữa sân trường, ông ấy mạnh dạn hỏi tôi: “Xin phép được đưa chị về nhà!”. Thời điểm đó, ông ấy mới ở Đức về, đi xe đạp. Vậy là hai người vừa trò chuyện, vừa đi dạo hết qua ĐH Tổng hợp rồi qua Ký túc xá Cao Bá Quát nơi tôi ở. Buổi tối thứ 7, mà 4 lần dạo quanh Lò Đúc đến Cao Bá Quát rồi ngược lại, cứ người đưa về, người tiễn ngập ngừng giây phút chẳng muốn rời xa…”. NSƯT Đức Lưu cho biết, GS.TS Trần Hạ Phương là người hiền lành, ít nói nhưng trân trọng nghệ thuật, đặc biệt là những người nghệ sĩ – chiến sĩ như bà.

Kết thúc mối tình đầu dang dở với nhà thơ Chính Hữu, GS.TS Trần Hạ Phương là mối tình trọn vẹn nhất cuộc đời NSƯT Đức Lưu. Hạnh phúc khi có người đàn ông luôn lắng nghe, chia sẻ mọi điều trong cuộc sống, bà đã vơi đi những tháng năm đau khổ, dằn vặt về mối tình đầu. Đám cưới đặc biệt của bà diễn ra đúng ngày Hiến chương Nhà giáo 20/11/1962 tại 57 Mã Mây. Bạn bè đến chung vui, mỗi người góp một câu chuyện vui vẻ, đám cưới diễn ra suốt 3 ngày liền.
 
Sống với nhau trọn vẹn 50 năm, tình cảm vợ chồng chẳng bao giờ có cãi vã, ông luôn bên cạnh động viên bà. Nâng niu tấm ảnh của người chồng chụp kỷ niệm buổi Họp mặt những người Việt Nam ra nước ngoài đầu tiên ở Liên Xô và Đức năm 1953, giọt nước mắt cảm động lăn dài trên má: “Chúng tôi chuẩn bị làm đám cưới vàng thì ông ấy đổ bệnh mất tại nhà năm 2012”. Không chỉ là người đàn ông quan trọng trong cuộc đời NSƯT Đức Lưu, GS.TS Trần Hạ Phương còn là đức lang quân lãng mạn luôn cố vấn, giúp vợ thành công trong những vai diễn. Vai cô Mận trong phim “Cô gái công trường”, vai vở kịch truyền hình “Đêm tháng bảy” và đặc biệt là vai Thị Nở của trong “Làng Vũ Đại ngày ấy” của đạo diễn NSND Phạm Văn Khoa. Đáp lại ân tình của người chồng quá cố, bà vừa hoàn thành xong 2 tập bộ phim tài liệu về vùng quê Duy Xuyên (Quảng Nam) theo tâm nguyện trước khi mất của GS.TS Trần Hạ Phương.
 
Khép lại tất cả những vương vấn cuộc đời, bây giờ, NSƯT Đức Lưu ăn chay niệm Phật, sống vui vầy với 2 người cháu nội. Thỉnh thoảng có thời gian rảnh, bà lại bắt xe ô tô xuống ngôi chùa Hoàng Xá (Hưng Yên) làm từ thiện. Ngoài ra, bà còn giữ vị trí Hội đồng quản trị trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, mỗi năm bà vận động 50 sinh viên tình nguyện xuống địa phương làm từ thiện. Bà chia sẻ, chừng nào còn sống bà sẽ tiếp tục làm công việc thiện nguyện này.
Giáng Son

Thứ Tư, ngày 02 tháng 7 năm 2014

Bùi Giáng rơi tiền

Đăng Bởi -
Chân dung Bùi Giáng
Chân dung Bùi Giáng
Rơi hay rải tiền ngầm nghĩa là phải có rất nhiều tiền. Và rải, rơi theo ý mình muốn. Trước đây đã có nhiều giai thoại về đốt tiền, rơi tiền cỡ Bạch công tử hay Hắc công tử Bạc Liêu. Nhưng thi sĩ Bùi Giáng vẫn giàu có để "rơi tiền" theo ý muốn. Tại sao không?
Như trong bài thơ Tiền Và Lá, nhà thơ Kiên Giang rất tinh tế và tài hoa khi cảm thán:
“Tiền không là lá em ơi
 Tiền là giấy bạc của đời in ra
 Người ta tiền bạc đầy nhà
Cho nên mới được gọi là chồng em!
 Bây giờ mỗi buổi chiều lên
 Tôi gom lá đốt, khói lên ngút giời
 Người ta đã bị mua rồi
 Chợ đời hội họp, mình tôi vui gì?”.  
(Tiền và Lá) 



Thi sĩ Bùi Giáng và Kỳ nữ Kim Cương
Bài thơ này cũng có dư luận cho là của thi sĩ Nguyễn Bính. Nhưng trong một lần gặp gỡ nhà thơ Kiên Giang ở một tiệc cuối năm do nhà thơ Lâm Xuân Thi tổ chức tại Sài Gòn cuối năm 2013, người viết đã hỏi thăm. Nhà thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà xác nhận bài thơ trên là của ông chứ không phải của thi sĩ Nguyễn Bính. Rất nhiều công trình nghiên cứu về thi ca đã nhầm lẩm chi tiết này.
Thi sĩ Bùi Giáng chưa có bài thơ nào thật nổi trội, cảm thán về tiền được người yêu thơ biết đến như bài thơ Tiền và lá ở trên. 
Chúng tôi muốn nhắc lại bài thơ vì cho rằng đây là một tác phẩm hay, đề cập trực tiếp vào nỗi ám ảnh của người nghệ sĩ. Và một nghệ sĩ lớn nhưng phiêu bạt, lang thang, không gia đình lại mang trong hồn những chấn động, tang thương của cơn bão thời đại vừa thổi qua thì miếng cơm, manh áo hàng ngày, ở đây tựu trung là tiền – như chủ đề của bài viết này - cũng là ám ảnh không hề nhẹ! 
Thế nhưng, thật lạ lùng, trong thi ca của ông cứ bỡn cợt, bông đùa, tang bồng “Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi / Đi lên đi xuống đã đời du côn” hay “Thưa rằng nói nữa là sai / Mùa xuân đang đợi dáng ai bước vào…”.
Bùi Giáng rong chơi "Sài Gòn Chợ Lớn"  
Có thể Bùi tiên sinh chưa bao giờ xem tiền bạc là quan trọng nhưng chắc chắn ông cũng không có tiền để rải như ý muốn!
Thế mà có đấy! Bùi Giáng đã từng bỡn cợt với tiền và rải tiền theo ý mình thích mình muốn trong câu chuyện sau của anh Huỳnh, chủ quán cà phê CCR nổi tiếng một thời trên đường Nguyễn Đình Chiểu, một người đọc rất mê Bùi và có rất nhiều kỷ niệm với Bùi. 
Anh đã kể cho Một Thế Giới nhiều chuyện hay mà chính bản thân anh chứng kiến chứ không phải là người hóng hớt hay nghe lại.  
Anh Huỳnh kể: Vào khoảng năm 1985, người ta thường thấy Bùi Giáng lang thang khắp Sài Gòn và thường xuất hiện ở chợ Trương Minh Giảng. Ít người biết ông là một nhà thơ nổi tiếng. Thời gian và thời đại đã thay đổi. Lớp bạn đọc những tác phẩm của ông cũng tan tác áo cơm. 
Chỉ có một số rất ít mới nhận ra thi sĩ bậc thầy và người thấy ngày xưa của mình. Bởi ông có một thời gian đi dạy và thỉnh giảng trên các giảng đường Đại học Sài Gòn. Bùi Giáng khoác lên mình đủ thứ hằm bà lằng mà ông tình cờ nhặt được trên đường từ bao tời, bao tải hay những áo quần cũ mà người ta thương tình cho ông.
Cũng có một số người bán hàng trong chợ biết ông nên cũng cho ông mua… chịu như cà phê, phở, cơm tấm. Để đáp lại tấm lòng đó, ông thường viết tặng những bài thơ khi có yêu cầu hay khi cao hứng. 
Ít người hình dung được những tác phẩm đó sau này là những di cảo đặc biệt. Ví như những câu thơ cà rỡn mà tài hoa của Bùi mà anh Huỳnh tình cờ được đọc và nhớ khi ông viết tặng cho hai cô gái phục vụ trong hàng Phở. “Một sáng, tôi gặp Bùi tới đây rất sớm và không gặp ông chủ, vốn là người mến ông! Hai cô gái chạy bàn còn rất trẻ và không hiểu tại sao có một người đàn ông nhếch nhác, lôi thôi, hôi hám và quái dị xuất hiện ăn phở rồi…đòi ghi sổ không trả tiền! Bùi đã viết tặng mấy câu thơ như sau “Hai cô thiếu nữ dịu dàng / Xin đừng nói bậy hai nàng buồn ta!?...”   

Thủ bút Bùi Giáng
Nhưng đừng tưởng ông điên, không biết gì! Khi có tiền, Bùi Giáng vẫn đem đến trả nợ đã ghi sổ đàng hoàng. Và tiền đó thường là của người thân, bạn bè cũ cho hay học trò cũ tặng thầy. “Bùi giáng gần như không quên người nào. Khi có tiền ông trả cho những người cưu mang mình từ người chạy xe ôm hay chú xích lô hàng ngày vẫn chở ông đi…”
Một lần cùng với một số bạn bè Việt kiều từ Mỹ về ghé thăm ông, anh Huỳnh rất vui khi biết người bạn mình đã giúp ông một khoản tiền không nhỏ. –“Tôi không nhớ là bao nhiêu nhưng với ông nếu chỉ du thân và ăn uống rong chơi thì cũng sống được mấy tháng. Trong số tiền đó có mấy tờ đô-la người bạn muốn ông để dành vì sợ đổi ra ông sẽ đánh rơi.
Và quả đúng như suy nghĩ của bạn tôi! Bùi Giáng đánh rơi thật! Buổi sáng hôm sau tôi tình cồ đi xuống chợ Trương Minh Giảng. Tôi chứng kiến một Bùi tiên sinh phấn khích la hét tung trời! Và nữa, sau lưng ông rồng rắn một bầy con nít lít nhít kéo theo vừa nhảy máu ca hát vừa tranh nhau lượm tiền của Bùi Giáng đánh rơi!
Thì ra có tiền nhưng Bùi giáng không để ý, ông nhét hờ vào một cái túi quần thủng vừa đi vừa nhảy múa nên tiền cứ rơi ra. Bọn trẻ vừa hò reo vừa sung sướng nhặt.

 Thoáng dừng chân cô đơn của người Thi sĩ ngỡ chỉ vui chơi quên ngày tháng
"Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu..."
Tôi chạy đến bên Bùi Giáng, nắm tay nhắc ông: -“Ông thầy, ông để rơi tiền hết rồi!...”
Bùi Giáng quắc mắt nhìn tôi. Chợt nhận ra người quen vừa ngồi với nhau hôm qua, cặp mắt ông thoáng dịu lại, cười hê hê một nụ cười dài: -“Ha ha! Rơi rơi rơi! Tiền rơi rơi!... Nhưng ta vẫn còn tiền đây này!”. Rồi ông kéo tôi lại, khoái chí lật cái quần rách lên.
Vẫn còn mấy tờ tiền ông lận sâu trong dải quần!..
Ở vị trí đó thì khó mà rơi!...
Thì ra thi sĩ Bùi Giáng đã để một số tiền trong túi quần rách, vừa chạy nhảy la hét phấn khích để rải… một cách cố ý cho bọn trẻ bụi đời mà ngày thường ông vẫn lang thang kẻ chợ cùng với chúng. 
Ông tặng bọn nhỏ một cách hào sảng. Câu chuyện tiền rơi của ông đã làm rơi nước mắt anh Huỳnh. 
Trong cái biền du côn tàn nhẫn như trong thơ của Bùi từng khắc họa “cứ tưởng đầu đường thương xó chợ / Ai ngờ xó chợ vẫn chơi nhau” đã thực sự có tình người.
  • Nguyễn Hữu Hồng Minh

Thứ Hai, ngày 30 tháng 6 năm 2014

Hễ thấy "Tây" là tránh mặt

Tôi cũng từng chứng kiến ở một trường ĐH lớn tại Hà Nội, khi có đoàn nước ngoài sang làm việc, nhiều TS, GS của chúng ta nói ngoại ngữ "mỏi cả tay" mà phía bạn chỉ biết cười trừ. Đấy là chưa kể nhiều vị cứ thấy "Tây" là tránh mặt vì mình "nói họ chả hiểu" thì nói để làm gì?


Hồi đầu tháng, một cơ quan quản lý nhà nước vừa đưa ra lấy ý kiến dự thảo nghị định về tiêu chuẩn với một số chức danh quản lí của công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước. Dự thảo này đưa ra nhiều quy định với bậc thứ trưởng, trong đó có quy định khả năng ngoại ngữ phải đạt ở trình độ cao cấp bậc 6, tức là ở mức sử dụng thành thạo, hoàn toàn có thể chủ động làm việc bằng ngoại ngữ đó mà không cần phiên dịch.
Ngay khi vừa đưa ra thăm dò, quy định này đã nhận được nhiều ý kiến phản biện. Trên cơ sở đó, đại diện của cơ quan soạn thảo đã thừa nhận quy định này là cao và sẽ sửa đổi. Đây là thái độ cầu thị, chúng ta sẽ chờ đợi các điều chỉnh tiếp theo tới đây. Nhưng xung quanh nó cũng gợi lên nhiều vấn đề đáng suy ngẫm cho người làm chính sách.
Bởi, cần hiểu rằng "Thứ trưởng" là cán bộ nhà nước ở bậc cao cấp, thường trợ giúp cho Bộ trưởng phụ trách một vài lĩnh vực cụ thể. Do đó, dù đi lên từ công tác chuyên môn, nhưng khi ở vị trí quản lý thì công việc của họ lại nặng về quản lí chứ không trực tiếp làm chuyên môn hay đi thương thảo các vấn đề quá chi tiết. Bởi những hoạt động này thuộc chức năng, nhiệm vụ của các cục, vụ, ban chuyên môn trực thuộc bộ. Đúng là đôi khi thứ trưởng có thể phải làm việc với khách nước ngoài, nhưng khi đó, mọi hoạt động chuẩn bị, tổ chức đã có Vụ Hợp tác Quốc tế đảm nhiệm, có phiên dịch hỗ trợ.
Còn trình độ ngoại ngữ cao cấp bậc 6 là một cách đánh giá mới, do Bộ GD&ĐT ban hành vào đầu năm 2014 qua Thông tư "Ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam".
Đây là bậc cao nhất và trình độ này nôm na tương đương với trình độ của một phiên dịch chuyên nghiệp, có kinh nghiệm, có am hiểu rộng. Nếu tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy định chi tiết của thông tư này, theo đánh giá của cá nhân tôi, đại đa số cử nhân mới tốt nghiệp chuyên ngành ngoại ngữ, học trong nước cũng khó lòng đáp ứng được.
Sau gần 10 năm học tập ở nước ngoài, tự đánh giá, soi mình vào từng yêu cầu của bậc 6, tôi thấy chắc chắn mình chưa đạt được. Nếu quy định này mà khả thi, vô hình chung là "trói chân" các Thứ trưởng.
Đọc yêu cầu về ngoại ngữ cho "người nhà nước" khiến tôi không khỏi nghĩ đến thực tế lâu nay trong khâu chọn lựa người nhà nước là căn bệnh sính bằng cấp, trọng hình thức.
ngoại ngữ, bằng giả, tiến sĩ, giáo sư, bệnh bằng cấp
Ảnh minh họa
Căn bệnh bằng cấp
Hồ sơ của tuyệt đại đa số cán bộ công chức từ cấp vụ, viện, hay trường CĐ, ĐH trở lên hiện có đủ từ các văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, chính trị, quản lí nhà nước... Sẽ chả ai có thể có ý kiến gì, nếu những bằng cấp, chứng chỉ đó phản ánh thực chất năng lực người sử dụng. Điều đó quá tốt.
Tục ngữ ta có câu "tốt gỗ hơn tốt nước sơn" và trong tiếng Anh cũng có một câu mang hàm ý gần giống: clothes don't make the man (manh áo không làm nên thầy tu). Hãy chỉ nhìn vào tấm bằng ngoại ngữ thôi để thấy được thực tế buồn là "sơn" thì đẹp mà "gỗ" dường như chưa xứng.
Sẽ không phải là nhận định hồ đồ nếu ai đó giả định đa phần TS, GS, giảng viên ĐH, cao đẳng, công chức ở nước ta không có đủ trình độ ngoại ngữ theo đúng chuẩn quy định (huống chi là thứ trưởng). Giá có một đề tài cấp nhà nước, hay một luận án tiến sĩ đánh giá về thực trạng này để công luận được tỏ tường thì hay biết mấy!
Ở một hội thảo quốc tế, tôi từng chứng kiến có GS khả kính phát biểu khá hùng hồn. Ông đánh giá về quan điểm của một học giả nước ngoài cùng chuyên môn và tôi cứ há hốc mồm khi vị GS này nhắc đi nhắc lại rằng "ông đó nói thế này", "ông đó nói thế kia" trong khi giới tính của học giả đó rõ ràng là nữ giới.
Trong thời gian học ở nước ngoài, chúng tôi cũng nhiều lần đón các đoàn học giả, quan chức từ trong nước sang công tác. Bằng cấp đủ cả, lãnh đạo cấp vụ, trường không thiếu. Nhưng trong mọi hoạt động họ đều "tha thiết" nhờ chúng tôi phiên dịch giúp, thậm chí khi đi siêu thị, chỉ mỗi việc thanh toán tiền cũng "thảng thốt" nhờ giúp vì "họ nói gì anh không hiểu".
Tôi cũng từng chứng kiến ở một trường ĐH lớn tại Hà Nội, khi có đoàn nước ngoài sang làm việc, nhiều TS, GS của chúng ta nói ngoại ngữ "mỏi cả tay" mà phía bạn chỉ biết cười trừ. Đấy là chưa kể nhiều vị cứ thấy "Tây" là tránh mặt vì mình "nói họ chả hiểu" thì nói để làm gì?
Bệnh nhờn quy định
Bản chất của những quy định về bằng cấp là không sai. Vấn đề nằm ở việc thực hiện và giám sát.
Nhiều lãnh đạo QH, Chính phủ, Bộ từng thẳng thắn thừa nhận rằng chúng ta có quá nhiều quy định mang tính hình thức và một khi bệnh hình thức trở nên "trầm kha", nó sẽ dẫn đến vô vàn hệ lụy.
Đầu tiên là nạn mua bằng cấp giả.
Vài năm trở lại đây, cơ quan chức năng đã nhiều lần khám phá các đường dây làm bằng giả các loại. Điều đáng quan ngại là ban đầu tệ nạn này chỉ diễn ra ở phạm vi hẹp là bằng ngoại ngữ và chứng chỉ tin học. Dần dần, nó biến tướng, mở rộng ra. Từ trung cấp, CĐ, ĐH đến TS, đủ cả từ kinh tế, luật, văn hóa. Quy mô những "lò" sản xuất này ngày càng lớn. Có trường hợp bị phát giác hàng nghìn bằng giả. Trong vài năm trở lại đây, không ít trường hợp cán bộ, thậm chí cán bộ quản lí, từ cấp xã đến cấp tỉnh đã bị phát giác sử dụng bằng giả!
Kế tiếp là tệ "gian dối", "khai man", "học hộ", "thi hộ". Rồi có cả thị trường viết luận án, luận văn thuê, rao bán công khai trên mạng. Dư luận đã từng biết đến vị giám đốc sở ở một tỉnh, ngoại ngữ  chả biết chữ nào, chưa thấy xuất ngoại bao giờ, ấy thế mà có bằng thạc sĩ của một trường ĐH "đẳng cấp quốc tế' chỉ tồn tại trên giấy, chả được ai thừa nhận. Rồi thì có vị quan chức khác quanh năm bận họp hành, ấy thế mà đùng cái, một ngày đẹp trời cuối năm trưng ra 2 bằng ĐH được cấp cùng năm. Mà, tên người này đúng là có trong danh sách sinh viên tốt nghiệp của trường ĐH nọ. Nghe như có phép phân thân. Nghe tưởng như đùa mà ngẫm ra thì nước mắt chảy ngược vào trong, chát đắng.
Việc bằng giả dần dần trở nên…phổ cập, như báo chí đưa tin. “Cả làng toét mắt” cả, có phải “chỉ mình em đâu. Công khai nhờ nhau kiếm cho tấm bằng, giới thiệu chỗ giá rẻ, làm nhanh.
Thật giả lẫn lộn. Nhiều trường hợp phát hiện sử dụng bằng giả, khai man, gian dối trình độ học vấn nhưng chưa nhiều trường hợp bị đuổi việc, truy tố.
Đừng để hàm oan những tấm bằng...
Những tấm bằng chả có tội tình gì. Chúng luôn được in trên giấy tốt, mực đẹp, trang trí công phu. Chúng xứng đáng được nâng niu, đặt ở những nơi trang trọng. Hãy trả lại ý nghĩa, bản chất cho chúng thay vì đóng nhầm khung hay bó buộc chúng trong những chiếc phong bì lòe loẹt, quá khổ.
  • Nguyễn Công Thảo

Chủ Nhật, ngày 29 tháng 6 năm 2014

Khi Bùi Giáng ăn cháo lòng bò

Đăng Bởi -

Bùi Giáng ngao du cùng xích-lô Sài Gòn
Bùi Giáng ngao du cùng xích-lô Sài Gòn
Bùi Giáng là hiện tượng đặc sắc trong Thi ca. Viết về ông đã có nhiều các nhà phê bình và văn nghệ sĩ nổi tiếng. Nhưng hình như rất ít những "góc nhìn" bình dân "soi ngắm" ông trong khi Thi sĩ  là Kẻ sĩ "thõng tay vào chợ". Một Thế Giới giới thiệu một số mẩu chuyện về Bùi tiên sinh qua ký ức và nỗi nhớ của những người dân lao động bình thường... 
Bùi Giáng trong mắt một nhạc công
Bùi Giáng là một hiện tượng văn học độc đáo. Khi còn sống cuộc đời ông đã gắn bó với nhiều giai thoại và sau khi ông mất nhiều giai thoại đã trở thành… huyền thoại. Vì sao? “Bởi nhiều chuyện về cuộc đời ông không còn có thể kiểm chứng – anh Phan, một nhạc công chơi trống ờ Sai Gòn Star cho Một Thế Giới biết: Sau ngày ông mất những câu chuyện đó được xem như là… đương nhiên! Và người nghệ sĩ lớn nào không lấp lánh những huyền thoại?”.
 Bùi Thi sĩ là một hiện tượng độc đáo của Thi ca Việt Nam
Anh Phan kể mình cũng là một trong những người được Bùi rất mến. Vì thế, anh có rất nhiều kỷ niệm riêng với ông. –“Tôi là dân đọc sách. Đặc biệt là sách của Bùi Giáng. Cả những sách dịch của ông! Không hiểu vì sao chữ nghĩa của ông nhiều và khủng khiếp đến vậy! Ông chuyển dịch thôi cũng khiến chúng ta mê ly. Ví như các tựa sách Hòa âm điền dã của André Gide, ông dịch từ nguyên tác La symphonie pastorale nghe thánh thót, cảm nhận hết hơi thở hòa quyện của thiên nhiên. Hay Hoàng tử bé từ Le Petit Prince của Antoine de Saint-Exupéry. Trước đó có nhiều tựa khác như Hoàng tử con, Cậu hoàng nhỏ của các dịch giả khác… nhưng dư luận vẫn chú ý bản dịch của Bùi hơn.
Vì sao? Thứ nhất, bản dịch đậm chất văn chương và ông bố bà mẹ nào không yêu con mình, không xem con là một hoàng tử bé? Chữ nghĩa của Bùi Giáng vừa cao siêu vừa gần gũi là chỗ đó. Nó gợi cảm, gắn bó, giao cảm thiết thân và sâu xa với người đọc…”.
Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn cùng ăn cơm

Anh Phan kể “công việc nhạc công, chơi trống ở một bar cao cấp phải làm hàng đêm, bắt đầu từ 8 giờ, nên tạo cho tôi một đời sống đặc biệt. Tôi thường dậy buổi trưa và đọc sách đến chiều. Tôi cảm nhận chữ nghĩa xô lệch của ông. Phải ở trong một chiều kích nào đó của đời sống nghệ sĩ mới cảm được hết thân phận của người nghệ sĩ trình bày qua tác phẩm của họ…”.
Và anh đã để thời giờ tìm hiểu, thăm dò nhiều nguồn, nhiều người để đến “bái sư phụ” hay gặp “cố nhân”. Thật may mắn, qua một người bạn hướng dẫn, anh đã biết Bùi Giáng đang sống ở một ngôi nhà ở Gò Vấp Sài Gòn. “Bùi Giáng rất thông cảm với công việc của tôi – anh Phan nhớ lại – Ông cho biết mình rất thích âm nhạc. Đã từng muốn học chơi piano và sáng tác nhưng sau đó biết mình không có khả năng! Vì thế ông rất quý mến Trịnh Công Sơn, một người mà ông nói là “xuất quỷ nhập thần” ra vào như không trong âm nhạc. Viết lách hay sáng tác ai cũng có thể làm được! Nhưng để đi đến cùng thì chỉ có… số mệnh! Bùi nói: “Như con cá nó biết lội, con chim nó biết bay, thằng thi sĩ biết làm thơ! Nhưng thơ là gì thì hắn không biết…”.

Một tác phẩm tuyển chọn Thơ Bùi Giáng khá đặc sắc được Nhã Nam đầu tư và xuất bản gần đây
-“Bùi Giáng quan tâm đến tôi và công việc của tôi vì ông thích sự khác người – anh Phan cho biết. – Bùi nói, chơi nhạc đó là một công việc thú vị!. Mà lại sống về ban đêm, khi mọi người đã đi ngủ hết!. Phần lớn ai cũng có thể nói về nhịp điệu đời sống, và những gì chỉ thấy được rõ ràng ban ngày. Còn ban đêm hình như ít người biết rõ, thậm chí rất phân vân và mù mờ!. Nó như những khoảng tối trong tâm hồn…
-Tôi thường lại nhà và đưa Thi sĩ đi chơi!- anh Phan kể: - Hai nơi Bùi Giáng thường nói tôi chở đi là chùa Già Lam và một quán cháo lòng bò ngồi ngoài trời ở chợ Gò Vấp. Ông rất thích ăn cháo lòng ở đây! Nhưng không bao giờ gọi là cháo lòng bò mà ông thường tiếu ngạo bằng một thứ cháo khác của bò. Và cứ nhắc đi nhắc lại hai chữ cháo bò đó theo cách của ông và cười rất sung sướng! Cười rất to…”   
(Còn tiếp)
Nguyễn Hữu Hồng Minh

Thứ Năm, ngày 26 tháng 6 năm 2014

Nhà văn NguyễnTrí: Cảm ơn cái khổ... cái nghèo

Nhà văn Nguyễn Trí bộc bạch rằng, ông cảm ơn cuộc đời đã cho... cái khổ cái nghèo, bởi nhờ đó mà ông trưởng thành và biết trân trọng, yêu thương, tha thứ, chia sẻ với những số phận bất hạnh. Với ông, văn học cũng là thế giới kỳ diệu giúp ông tìm lại được chính mình.

Văn học Việt Nam luôn tiềm ẩn những bất ngờ thú vị, thỉnh thoảng trình làng những gương mặt độc đáo. Một cô gái quê mùa Nguyễn Ngọc Tư tận đất Mũi Cà Mau. Một lão nông Ngô Phan Lưu ẩn dật ở Phú Yên. Một nghệ sĩ xiếc lang thang Mạc Can của Sài Gòn… Và mới đây là một "giang hồ" Nguyễn Trí từ Bình Định phiêu bạt vào Đồng Nai. Những trang văn ngồn ngộn chất sống, thấm đẫm tính nhân bản của họ đã mang lại sự mới lạ khác biệt cho văn đàn.
Trong số những nhà văn "từ trên trời rơi xuống" ấy, Nguyễn Trí có một số phận đặc biệt khác thường. Vốn sinh ra trong gia đình khá giả, có học thức, nhưng do "thất cơ lỡ vận" mà ông rơi tận cùng xã hội, trải qua rất nhiều nghề mưu sinh: hái củi đốt than, nấu rượu lậu, nấu đường lậu, đãi vàng, đi trầm, tìm đá quý, làm… đồ tể (mổ lợn)… và dạy tiếng Anh bồi. Cặm cụi đầu tắt mặt tối mà ông vẫn không đủ sống, gia đình lại gặp thảm kịch: con gái chết oan, con trai tử nạn, một người con trai khác sa vào nghiện ngập phải đi tù, để lại hai cháu nội thơ bé cho ông nuôi. May mắn, ông có được người bạn đời hiền lành, giỏi chịu đựng, tảo tần, biết chia sẻ với chồng.
Từ bóng tối khổ đau ấy, Nguyễn Trí đã tìm đến trang viết để tự giải toả, không ngờ đó là cứu tinh giúp ông bước ra ánh sáng. Qua sự giới thiệu của nhà văn Hồ Anh Thái, tập truyện ngắn đầu tay "Bãi vàng, đá quý, trầm hương" của ông đã được Nhà xuất bản Trẻ ấn hành. Nhờ nỗ lực của nhà văn Trần Đức Tiến, gần như đến phút 89 tập truyện ấy đã "đăng quang" xứng đáng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013.
Bây giờ thì cái tên Nguyễn Trí đã dần quen thuộc với bạn đọc. Truyện của ông thường xuyên được báo chí đăng tải. Ông vừa được Nhà xuất bản Trẻ in tập truyện thứ hai mang tên "Đồ tể". Một số tác phẩm khác của ông cũng được lên kế hoạch ấn hành. Nhân dịp nhà văn Nguyễn Trí phóng xe máy chu du Sài Gòn, chúng tôi có cuộc trò chuyện với ông…
Nhà văn Nguyễn Trí cùng người bạn đời bao năm chia ngọt sẻ bùi.
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013 cho tập truyện "Bãi vàng, đá quý, trầm hương" có ý nghĩa ra sao đối với ông, thưa nhà văn?
- Bãi vàng cả đá quý lẫn trầm hương, trong thực tế đã lấy của tôi rất nhiều thứ. Nhưng giờ đây, tác phẩm đầu tay ấy và giải thưởng đã cho tôi cũng rất nhiều thứ. Tôi được tí tí vật chất đi kèm để cho bà xã có nụ cười, có tí danh không hão. Quan trọng nhất là có rất nhiều bạn văn.
- Từ khi nhận giải thưởng đến nay, ông cảm thấy cuộc sống và sáng tác của mình có gì thay đổi?
- Xưa nay tôi luôn sống trong mặc cảm tự ti, tự cho mình là thứ bỏ đi của đời sống. Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và sự ưu ái của bạn đọc đã cho tôi thấy cuộc đời thật đáng quý. Những điều ấy giúp công việc sáng tác của tôi thuận lợi hơn và tôi viết có trách nhiệm hơn rất nhiều.
- Bằng kinh nghiệm của mình, theo ông, văn chương có vai trò ra sao đối với đời sống? Giữa thời đại tràn ngập thông tin giải trí hiện nay, để thu hút người đọc, liệu văn chương có cần đề cao chức năng giải trí?
- Ngày nay văn hóa đọc có vẻ như bị lùi lại so với văn hóa nghe nhìn. Sách là một hình thức giải trí và học hỏi. Một cuốn sách hấp dẫn luôn lôi kéo người đọc đi đến trang cuối, nhưng nó phải gửi vào đó một thông điệp nào đó. Không có thông điệp thì cuốn sách ấy sẽ chết yểu. Tôi nghĩ tính giải trí cần phải có trong một tác phẩm, khô khan thì sẽ héo…
- Cho tới nay, trong số những truyện ngắn của mình, nếu chọn khoảng 3 truyện mà ông tâm đắc nhất, ông chọn những truyện nào?
- Tôi tâm đắc nhất ba truyện "Đồ tể", "Tiền rừng" và "Bất lực".
- Vì sao, thưa nhà văn?
- Đó là tiếng kêu thống thiết trước sự tàn ác của cái nghèo. Vâng, nghèo túng làm chúng ta vô cảm trước sự tàn sát. Tôi muốn nói tới cái nghèo từ vật chất đến đến nghèo cả lương tri. Đó là sự thật!
- Vâng, một sự thật đớn đau mà chính ông đã từng trải và trả giá, một sự thật mà không phải ai cũng có thể thấu hiểu. Đã có bao giờ ông rơi nước mắt trước số phận của nhân vật mình ngay trên trang viết?
- Đời tôi cực khổ lắm! Có thể vì đi qua quá nhiều những khổ hạnh nên tôi đâu còn có nước mắt mà rơi, nó chảy ngược vô bụng rồi tuôn ra chữ đấy thôi…
- Dù sao khi nước mắt tuôn thành chữ như ông cũng còn may mắn hơn nhiều số phận bất hạnh khác. Ông thường sáng tác vào khoảng thời gian nào trong ngày?
- Nhà tôi gần nông trường cao su. Mỗi buổi sáng tôi vừa đi trong lô cao su vừa viết trong đầu. Tám giờ tối tôi ngủ, ba giờ thức dậy và gõ vào máy tính những cái đã định hình.
- Sau khi nhận giải thưởng, ông có được nhiều bạn văn chương. Ông cảm nhận ra sao tình đồng nghiệp? Có bao giờ ông thất vọng về một bạn văn nào đó vì thái độ ứng xử của họ đối với mình?
- Bạn văn ai cũng quý tôi, không phải tôi là tác giả đoạt giải, mà vì tinh thần biết dốt của tôi. Tôi sống theo kiểu "tứ hải giai huynh đệ", tất cả đều là anh em, ai cũng là thầy mình. Tôi không khiêm tốn giả hiệu đâu. Thật lòng đấy. Có thể vì kiểu sống này nên chưa người bạn nào phiền hà tôi.
- Vậy còn gia đình, đặc biệt là hiền nội có hỗ trợ gì cho những trang văn của ông?
- Bà xã là chỗ dựa tin cậy của tôi. Bà cũng không… sai vặt, mà luôn luôn để yên khi tôi ngồi vô máy. Lúc ấy, nếu có bạn bè tới bà cũng bảo ổng đi dạo trong lô cao su rồi.
- Cuộc sống của ông và gia đình hiện nay ra sao?
- Gia đình tôi sống rất đơn giản nên vật chất không làm khó được chúng tôi. Nhà sát bên trường học, bà xã và cái quán xi rô đá bào cũng sống được. Nhuận bút của tôi cũng hỗ trợ thêm cho gia đình. Nhờ vậy, tôi yên tâm sáng tác

  Phan Hoàng

Thứ Tư, ngày 25 tháng 6 năm 2014

Chú vẹt sành điệu

Đoạn clip ngắn ghi lại hình ảnh cực kỳ đáng yêu của một chú vẹt có khả năng đặc biệt. Dường như nó có thể cảm thụ âm nhạc rất tốt. Chú vẹt nhún nhảy, vỗ cánh theo nhịp nhạc của bài "Không cảm xúc". Thậm chí, nó còn lắc đầu liên tục đến... chóng mặt.

video
  • 2T(Theo Youtube)

Thứ Ba, ngày 24 tháng 6 năm 2014

Nhật ký 26 vụ tự tử từ cầu Cần Thơ

4 năm, 26 vụ tự vẫn, chỉ có 8 người may mắn thoát khỏi cái chết. Trong đó có những trường hợp khi cận kề với tử thần mới hay mình thèm sống như thế nào…
Cuốn “nhật ký chết chóc"
Hoàng hôn loang loáng trên sông Hậu, cầu Cần Thơ - chiếc cầu dây văng dài nhất Đông Nam Á cũng lộng lẫy cong vút trong ráng chiều. Đẹp đẽ và thơ mộng.
“Nhưng chuyện về hàng loạt vụ tự vẫn đầy uẩn khúc trên cây cầu này đủ sức khiến lòng người chùng lại” - ông Dương Công To, đội trưởng đội dân phòng đường thủy xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, Vĩnh Long nói với chúng tôi như thế.
Ở đây, người ta gọi vị đội trưởng tuổi đã ở ngưỡng thất thập cổ lai hy này là “ông Tư Hài”. Ông Tư Hài vừa lần dở cuốn sổ ghi lại thông tin những vụ tự vẫn trên cầu Cần Thơ vừa cười bảo: “Nhật ký chết chóc đây”. Mà quả vậy, cuốn sổ lem nhem vết ố, có những trang chỉ có số thứ tự, giờ giấc phát hiện tử thi, còn tên tuổi người chết thì bỏ trống… Bởi họ là những cái xác không có ai đến nhận nhìn. Ông Tư Hài thở dài, nói nhẹ tênh mà nghe hiu hắt: “Cầu này khánh thành được 4 năm, mà tới 26 vụ tự vẫn, chỉ có 8 người được cứu thôi. Đa phần toàn chết vì tình”. 
                Như một chiều cuối tháng 4.2010, tầm chiều tà, người dân đi dạo mát trên cầu Cần Thơ hoảng loạn lao tới giữ chân một cô gái đang định trầm mình xuống sông Hậu. Người tình của cô gái, tên Sang đã chìm nghỉm dưới lòng sông cách đó mấy phút.
 Ông Tư Hài trầm ngâm lần dở quyển "nhật ký chết chóc"
Sang và cô gái là sinh viên tại đại học Tây Đô, tình cờ quen biết và yêu nhau. Nhưng hai bên gia đình kịch liệt phản đối, quá tuyệt vọng, đôi bạn trẻ bàn nhau lên cầu Cần Thơ tự vẫn. 
Nhưng rồi chỉ có Sang ra đi, cô gái may mắn giữ lại được mạng sống. Xác Sang được vớt lên bờ vào lúc 15 giờ 30’ ngày 29.4.2010. Không biết người chết đi có được thanh thản và kẻ ở dương gian liệu đến bao giờ mới nguôi ngoai…
              Ông Tư Hài tiếp tục kể về một chuyện tình buồn cũng chấm hết bằng cái chết. Người đàn ông tên Bình, ngụ ấp Hòa Phụng, Phụng Hiệp, Hậu Giang lấy vợ đã hơn 2 năm mà chưa có một mụn con. Không hiểu run rủi thế nào, Bình lại quen và yêu Hằng - cô sinh viên đại học Luật.  Tình sai trái, không lối thoát Bình hẹn Hằng lên cầu Cần Thơ. Và từ dây văng có vị trí cao nhất tính từ mặt sông, Bình đã lao xuống sông Hậu. Xác Bình đến 2 ngày sau mới trồi lên. Vợ Bình còn rất trẻ, Hằng cũng trẻ, người chết thì hết rồi, nhưng chỉ thương những người còn ở lại.
Sắp chết mới biết mình muốn sống
           Có thể nói cầu Cần Thơ là chiếc cầu chở nặng hạnh phúc lẫn buồn đau. Đã 7 năm kể từ ngày tai nạn sập nhịp dẫn kinh hoàng xảy ra, tưởng chừng nỗi đau đã nguôi ngoai… thì giờ đây, người dân ven khúc sông này lại tiếp tục bị ám ảnh bởi những cái chết đầy uẩn khúc do tự tử: 26 vụ tự vẫn chỉ là thống kê chưa đầy đủ của một lão ngư nặng tình với sự sống của con người.
               Ông Tư Hài bùi ngùi tâm sự với: “Đến vụ tự vẫn thứ 5, chúng tôi vớt kịp thời một thanh niên ở ấp Hòa Mỹ, lúc đó mới biết là từ độ cao gần 40m của cầu Cần Thơ rơi xuống người ta có thể sống được. Mà sống chắc cũng dặt dẹo thôi”. Vì theo ông Tư Hài, khi rơi từ trên cao xuống, mặt nước sẽ tạo ra phản lực khiến người rơi bị thương rất nặng. Biểu hiện thường thấy là phần da người tiếp xúc với mặt nước sẽ bị phồng rộp, hay lột hoàn toàn, đau đớn không kém gì bị phỏng lửa.
 Xinh đẹp là thế, nhưng những kẻ chán đời đã khiến cầu Cần Thơ mang nỗi ám ảnh mang tên "tự vẫn" (người trong ảnh là ông Tư Hài).
Mà có rất nhiều trường hợp, đến khi cận kề cái chết mới biết mình muốn sống đến cỡ nào. Ông Tư Hài lại đều đều tiếp tục câu chuyện: “Mạng người là quý mà, nên cái lúc sanh tử hầu như người ta đều rất sợ chết. Như có thằng nhỏ, tên Giàu quê ở Cần Thơ, buồn vì bị người yêu bỏ, gia đình la mắng, đùng đùng lên cầu Cần Thơ tự tử. Lúc nó thoi thóp mới nói vào tai chúng tôi rằng: “Làm ơn cứu con sống, làm ơn cứu con sống…”. May mắn sao, Giàu được cứu.
             Nhưng theo ông, ít có ai từ trên cầu Cần Thơ nhảy xuống sông mà sống nổi. Vì sông Hậu đoạn cầu Cần Thơ có nhiều xoáy nước, lòng sông sâu, khoảng cách từ giữa dòng đến bờ lại rất xa…“Biết là khó sống, nhưng tụi tui cũng cố gắng hết sức để cứu người, mạng người quan trọng mà. Chỉ mong những người muốn tìm đến cái chết nghĩ một chút về gia đình, người thân, về những người ở lại”, ông Tư Hài nhắn nhủ.
             Mấy mươi năm gắn liền với khúc sông này, ông Tư Hài đã cứu biết bao nhiêu người đuối nước, bao nhiêu ghe thuyền chìm. Hỏi tới, ông cười tự hào: “Biết bao nhiêu cho kể con ơi. Tui năm nay tuổi thiệt là 74 rồi mà còn bơi giỏi lắm nha”.74 tuổi, mà ông Tư vẫn còn nặng cái nợ bao đồng, bởi: “Nói ra thì bây không tin, chứ nhiều khi nghe người ta nói cũng buồn lắm. Nói sao mình rảnh, họ đã không muốn sống thì thỏa nguyện cho họ đi, cãi mệnh trời rồi quả báo cho coi. Rồi nói mình sao mà liều, cứu người như thế, có khi mình chết theo người ta”. Với những gì đã cống hiến cho đời, ông Dương Công To - tức đội trưởng Tư Hài đã được tặng danh hiệu “Hiệp sĩ giao thông” và rất nhiều bằng khen của các sở ban ngành tại địa phương.

 Ông Tư Hài bên cạnh những danh hiệu của mình
              Gấp cuốn “nhật ký chết chóc lại”, ông Tư Hài thở dài: “Nhưng mà nếu mình không làm, thì sao thành tấm gương để tụi trẻ nó noi theo. Tui ít lời, chỉ biết nói đi nói lại câu mạng người là quan trọng nhất. Hễ còn sống thì bất cứ chuyện gì cũng vượt qua”.Gần đây nhất, vào cuối tháng 5.2014 lại có nữ sinh từ cầu Cần Thơ lao mình xuống dòng sông Hậu để kết thúc cuộc đời vì người yêu sắp đi lấy vợ… Lại nghĩ, chết chưa bao giờ là sự chấm hết, chỉ là kẻ muốn chết đang ích kỷ gieo rắc nỗi đau thương vô hạn cho những người thân yêu còn ở lại. 
            Không biết đến bao giờ những cây cầu, những dòng sông - lý ra gắn liền với sự nên thơ, giàu đẹp… mới thoát khỏi nỗi ám ảnh mang tên “tự vẫn”… 
Hồ Bá Nguyễn/Motthegioi

Chủ Nhật, ngày 22 tháng 6 năm 2014

Trò chuyện với con trai cố TBT Lê Duẩn: “Dân còn biết phẫn nộ, là phúc của dân tộc vẫn còn”

Đăng Bởi -
 “Dân còn biết phẫn nộ, là phúc của dân tộc vẫn còn”
Trong bất cứ lần trò chuyện nào với TS Lê Kiên Thành – con trai của cố TBT Lê Duẩn, tôi nhận ra mọi con đường đều đi về câu chuyện đất nước. Vận mệnh dân tộc là điều luôn ám ảnh ông. Những ngày Xuân này, khi Đảng tròn 84 tuổi, khi đất nước đang đối mặt với những thách thức lớn hơn bao giờ hết, câu chuyện đó càng trở nên nhức nhối….
PV: Năm 2013 và những ngày đầu năm 2014, một trong những sự kiện mà cả nước quan tâm nhất chính là vụ xét xử đại án tham nhũng của Dương Chí Dũng và đồng bọn. Khi Dương Chí Dũng tiết lộ những thông tin chấn động , một đồng nghiệp của tôi đã bình luận: "Khi nghe về con số 500 nghìn USD hay 1 triệu USD Dương Chí Dũng khai, thú thật tôi sửng sốt. Những người nông dân thu nhập vài trăm nghìn đồng một tháng, thậm chí chưa từng nhìn thấy tờ 100 USD trong suốt cuộc đời mình có lẽ sẽ còn sửng sốt hơn tôi rất nhiều. Dù tham nhũng đang là quốc nạn của chúng ta, những người dân như tôi có lẽ vẫn sẽ bàng hoàng về những con số đó…"
TS Lê Kiên Thành: Tôi kể ra điều này thì có lẽ đụng chạm đến những bạn bè tôi đang làm quan chức. Nhưng một lần ngồi ăn cơm với một số quan chức, những điều tôi nghe được khiến tôi giật mình. Có vị quan chức hồn nhiên nói với tôi: “Này, ngày xưa tôi nghĩ 1 triệu đô là nhiều lắm”. Tôi nghe và hiểu rằng, à vậy thì với họ bây giờ 1 triệu đô rất bình thường. Như tôi làm doanh nhân, tôi nhìn 1 triệu đô vẫn thấy ghê gớm, rất ghê gớm. Để kiếm tiền trong sạch, đó là số tiền thực sự không dễ kiếm. Vậy mà câu nói này lại nói ra từ miệng một vị quan chức cấp vụ thôi – không hề cao, thì để hiểu rằng góc tối trong cuộc sống của một số quan chức chúng ta hiện nay như thế nào…
PV: Nếu vụ án này được làm sáng tỏ, người giúp cho Dương Chí Dũng bỏ trốn bị trừng trị đích đáng, tôi tin lòng dân sẽ được xoa dịu trong lúc đang vô cùng bức xúc như thế này. Nhưng trong trường hợp xấu hơn, nếu như vụ án đó lại chìm xuồng và đi vào im lặng thì điều gì sẽ xảy ra với lòng dân?
TS Lê Kiên Thành: Tôi chỉ sợ người dân sẽ nghĩ rằng đương nhiên nó phải thế và họ chấp nhận nó, thì đấy sẽ là thảm họa. Nếu chuyện đó xảy ra mà người dân phẫn nộ, thì phúc của dân tộc vẫn còn. Không biết có phải tôi bi quan hay không, nhưng nhiều khả năng người ta sẽ chấp nhận nó, như bao sự việc mà người ta đã chấp nhận trước đây. Vì chúng ta đã quá quen với những vụ án tham nhũng được xử một cách đầu voi đuôi chuột từ trước cho đến nay. Vì chúng ta đã chứng kiến quá nhiều vụ án cần phải xử nhưng cuối cùng lại không xử, hay cần phải xử nặng thì lại xử nhẹ. Sự nương nhẹ rất khó hiểu mà chúng ta làm với cuộc chiến chống tham nhũng đã làm tối đi đường lối lãnh đạo của chúng ta.
TS Lê Kiên Thành: Người ta đã nhạo báng và thách thức cả xã hội. Chuyện Dương Tự Trọng – em trai Dương Chí Dũng đứng trước tòa nói một cách thản nhiên “tôi không khẳng định nhưng cũng không phủ nhận” – đó là kiểu nói của của người hiểu pháp luật và thách thức pháp luật.
PV: Nhiều người nói cái xuống cấp nhất, cái đáng lo ngại nhất, cái đáng báo động nhất chính là nền tảng văn hóa của dân tộc đang bị lung lay ghê gớm. Ông có cùng chung suy nghĩ đó?
TS Lê Kiên Thành: Trong năm vừa rồi, điều rõ nhất tôi cảm nhận được là chưa bao giờ cái xấu và tội ác đến với chúng ta bình thản như thế này. Người ta nhìn nó thản nhiên, như là điều tất yếu. Có những người dùng cái ác và cái xấu để sinh tồn. Có những người nhìn nó thản nhiên một cách lạ kỳ.
Việc một tên cướp bị tuyên án tử hình vì chém đứt tay một người và trước đó đã chém 14 người, nhưng bà mẹ đẻ ra thằng bé đó không hề mảy may ân hận. Bà ta chửi bới cả xã hội và nghĩ rằng tại sao phải chém tay mà không chém đầu. Đó là hình ảnh đáng sợ nhất: hình ảnh một người mẹ biết quý con mà không còn coi sự sống của người khác ra gì. Đó là điều quá lạ lùng với xã hội này. Và người ta hay nói đến văn hóa, nói đến đạo đức xuống cấp cho những trường hợp này.
Nhưng những gì đang diễn ra ở đất nước ta hôm nay, có lẽ mình phải hiểu khác đi. Ví dụ, tại sao nhiều người có tiền mà vẫn tham nhũng khủng khiếp như vậy? Có lẽ đó không phải văn hóa. Người ta hay nói “bần cùng sinh đạo tặc” – nhưng nhìn vào xã hội mình, đúng là đạo tặc có một phần từ bần cùng đi lên, nhưng một phần đạo tặc lại sinh ra bởi những người không bần cùng.
Những quan chức phạm tội ác tham nhũng mà chúng ta thấy trong những năm qua, họ đâu phải là những người bần cùng? Hãy nhìn qua những vụ án gần đây nhất sẽ thấy rằng những người hiểu pháp luật, bảo vệ pháp luật, họ vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng và đầy tính toán, tính toán sao để khi người ta bị bắt, người ta chỉ nói một câu rất nhẹ nhàng là: chứng minh đi. Tức là người ta đã chuẩn bị cho tình huống đó.
Người ta đã nhạo báng và thách thức cả xã hội. Chuyện Dương Tự Trọng – em trai Dương Chí Dũng đứng trước tòa nói một cách thản nhiên “tôi không khẳng định nhưng cũng không phủ nhận” – đó là kiểu nói của của người hiểu pháp luật và thách thức pháp luật. Hành động đó, ở một góc độ nào đó,  không khác gì câu chuyện ông bác sĩ ném xác bệnh nhân trong vụ thẩm mỹ Cát Tường mà báo chí nhắc đến gần đây.
Và đáng ngạc nhiên nữa là có những tờ báo chính thống bênh vực, thậm chí là ca ngợi Dương Tự Trọng. Điều đó làm tôi cảm thấy khủng hoảng và mất hết phương hướng. Những người đứng ra bảo vệ lẽ phải cho chúng ta, những người đáng lẽ phải bảo vệ chúng ta mà còn như vậy mà còn như vậy thì chúng ta sẽ phải tin vào cái gì?
Nếu nói hành động đó hiểu được – tôi đồng ý. Nhưng thông cảm được thì không. Nhưng những người chức vụ cao, những người nắm truyền thông mà đưa ra những định hướng bảo vệ con người đó, hay tiếc rẻ gì đó về họ, thì tôi hiểu rằng những cái xảy ra như thế này không thể là đơn lẻ. Tôi đang nghĩ rằng chúng ta đang bị “biến dạng” một cách tổng thể mà văn hóa chỉ là một phần. Khi những người làm ra pháp luật, đang góp phần bảo vệ pháp luật lại không coi pháp luật ra gì; khi một xã hội mà nguyên tắc sống ở trong đó không được tôn trọng, không được bảo vệ bởi những người  đáng lẽ phải tôn trọng nó nhiều nhất thì chúng ta sẽ phải gọi tên những ngày chúng ta đang sống đây là cái gì? Tôi không thể cắt nghĩa cho con cháu mình được.
Tôi có nghe một số phóng viên nói tốt về Dương Tự Trọng. Nếu đúng là Dương Tự Trọng là con người đáng khen như thế thật, vậy thì tôi tự hỏi cái gì ở trong cái guồng máy xã hội ta biến con người đó thành ra con người như thế này? Chắc phải gì ghê gớm lắm đang tồn tại trong guồng máy này mà cứ đưa một người tốt vào thì hỏng.  Đó là sự thất bại của chúng ta. Nếu đúng là điều đó đang tồn tại mà chúng ta không bình tĩnh tìm ra hết hoặc cố tình không đối diện hay giấu diếm nó thì nguy hiểm vô cùng.
TS Lê Kiên Thành: Nói ra, tôi biết sẽ có nhiều người không hài lòng. Nói ra tôi biết có thể ảnh hưởng không ít đến những người xung quanh mình. Nhưng là Đảng viên, tôi thấy mình không thể không nói.  
PV: Để gọi tên được cái ghê gớm đó là gì có dễ không thưa ông?
TS Lê Kiên Thành: Tôi có rất nhiều người bạn đang làm chức vụ cao, nói thế này sẽ rất động chạm đến họ. Nhiều người cũng nói tôi sinh ra từ “cái lò” đó, tại sao lại nói ra những điều như thế này, nhưng nếu bình tĩnh mà suy nghĩ thì chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận điều đó thôi, đừng trốn tránh thêm nữa.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: Sự tồn vong của chế độ, sự tồn vong của Đảng đang đứng trước một thách thức cực kỳ lớn, lớn hơn cả thời kỳ Đảng phải trải qua một cuộc tàn sát trắng. Trong lịch sử Đảng đã từng ghi, có những lúc gần như không có một ông Trung ương ủy viên nào là không ở trong tù.
Có những thời điểm, ở nhiều địa phương, gần như không còn đảng viên nào. Nhưng chỉ cần còn một Đảng viên thôi, thì đó sẽ là tinh hoa của sự xả thân, là những người đủ sức mạnh kéo quần chúng đi theo. Chỉ cần một Đảng viên thôi – họ đã biết cách để trở thành đặc biệt trong mắt quần chúng. Còn đến giờ chúng ta có hơn 3 triệu Đảng viên. Nó đi xuống cả xã, cả phường, cả tổ dân phố, vậy mà chúng ta lại đứng trước quá nhiều thách thức. Điều đó quá đau lòng. Chúng ta nhất định phải đặt câu hỏi tại sao!
PV: Nhưng trong một vài năm trở lại đây, Đảng đã thể hiện quyết tâm chiến đấu với tham nhũng, với những bộ phận thoái hóa biến chất để bảo vệ sự tồn vong của Đảng?
TS Lê Kiên Thành: Chúng ta đã quyết tâm, nhưng sự quyết tâm đó chưa tới. Đất nước nào, xã hội nào bao giờ cũng có thiện, có ác, có tốt, có xấu, nhưng nó phải có một lằn ranh nào đó. Và cái xấu, cái ác phải trốn chui trốn lủi trong bóng tối như những tên trộm, tên cướp mới phải chứ?
Nhưng ở đất nước ta hiện nay, cái xấu đang trở thành cái đương nhiên mà cả người tốt và người không tốt đều chấp nhận nó. Khi cái xấu đã ngang nhiên tồn tại ngoài ánh sáng, nhơn nhơn diễu trên đường phố, len sâu cả vào lực lượng lãnh đạo, thì nghĩa là cách tổ chức xã hội của chúng ta đang không đúng! Sự vô cảm, thỏa hiệp của chúng ta trước cái xấu - điều đó theo tôi đáng sợ vô cùng. Nó làm triệt tiêu sự miễn dịch, triệt tiêu khả năng phản kháng của xã hội.
TS Lê Kiên Thành: Có người nói năm 2013 là cái đáy của khủng hoảng và 2014 mọi sự tốt đẹp sẽ đến. Nhưng tôi vẫn cho đó là sự lạc quan quá đà với những gì chúng ta đang có và đang chứng kiến trong thời điểm này, với rất nhiều vấn đề ta đang phải đối mặt.  
PV: Cha ông – cố Tổng Bí thư Lê Duẩn là người giữ cương vị Tổng Bí thư lâu nhất trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Vậy mà ông không ngại nói ra những điều này?
TS Lê Kiên Thành: Nói ra, tôi biết sẽ có nhiều người không hài lòng. Nói ra tôi biết có thể ảnh hưởng không ít đến những người xung quanh mình. Nhưng là Đảng viên, tôi thấy mình không thể không nói. Nếu mà can đảm, nếu mà thông minh, nếu mà thực sự vì dân vì nước thì sẽ phải nghĩ đến tận cùng của sự tồn vong. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói tham nhũng là ghẻ, nhưng nếu ghẻ khắp người mà chúng ta chặt hết đi thì cơ thể của chúng ta sẽ chết. Đó là cách làm vô ích. Mà cái ghẻ của chúng ta là cái ghẻ từ trong nội tạng. Chúng ta không thể vứt nội tạng của chúng ta đi, mà phải làm cái gì đó để thay đổi được gốc rễ của căn bệnh.
PV: Mùa xuân này, đất nước đã giải phóng gần 40 năm. Đảng cũng đã 84 tuổi. Nhưng chúng ta đang đối mặt với những khó khăn thực sự. Người Việt vẫn luôn hy vọng vào năm mới. Hy vọng của ông về đất nước những ngày sắp tới là gì?
TS Lê Kiên Thành: Có những điều kỳ diệu đã từng xảy ra cho dân tộc này: trong quá khứ khi chúng ta đang đói kinh khủng, chúng ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo chỉ trong một sự thay đổi nhỏ. Đó là điều kỳ diệu. Chúng ta thắng Mỹ cũng là kỳ diệu. Nếu chúng ta mạnh dạn thay đổi, điều kỳ diệu có thể sẽ xảy ra như trong quá khứ. Sức sống của một dân tộc là vô cùng thần kỳ, nếu chúng ta có những bước đi đúng.
Có người nói năm 2013 là cái đáy của khủng hoảng và 2014 mọi sự tốt đẹp sẽ đến. Nhưng tôi vẫn cho đó là sự lạc quan quá đà với những gì chúng ta đang có và đang chứng kiến trong thời điểm này, với rất nhiều vấn đề ta đang phải đối mặt. Tôi không sợ những cái đáy tự nhiên. Tôi sợ hơn cả là những cái đáy do chính chúng ta tạo thành. Và sẽ còn những cái đáy sâu hơn cái đáy này gấp nhiều lần nếu chúng ta không dừng lại. Đó mới là cái đáy khủng khiếp nhất.
Khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói đến sự tồn vong, tức là đã nói đến khái niệm sống và chết. Làm thế nào để chọn con đường sống chứ không phải là chết là điều quan trọng nhất Đảng phải làm lúc này. Sợ nhất là viễn cảnh chúng ta sẽ “chết” do sự tác động từ bên ngoài và khiến đất nước biến đổi mọi thứ theo hướng có lợi cho những lực lượng bên ngoài đó. Còn  nếu chúng ta tự thay đổi được để chọn con đường sống thì đó là phúc may cho dân tộc này…
  • Lan Hương (thực hiện) - Ảnh: Minh Trí