Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ sáu, ngày 02 tháng ba năm 2012

Như thể ru đời

Giọt nắng nào
hờn trong mắt em,
Giọt mưa nào trốn vào nỗi nhớ.
Ngọn gió nào làm nên giông tố,
Mối tình nào nâng bước em đi?


Chỉ biết rằng

anh đến với em,
Tình muộn nhưng không là sau cuối.
Vẫn vụng dại ngỡ ngàng bối rối,
Vẫn cuồng si say đắm đến không ngờ.

Có phải chăng
trong đáy những giấc mơ,
Cái vô thức bùng lên trong dồn nén.
Khi con tim biết trào dâng khao khát,
Khi đợi chờ để tự nguyện hiến dâng.

Vẫn biết rằng
mái tóc chẳng còn xanh,
Vẫn biết rằng dây tình là oan trái.
Tình đến muộn nhưng anh xin ở lại,
Như kẻ nô tỳ ngoan ngoãn dưới chân em.

Bùi Giáng trong cõi người ta

Đây là chủ đề của tuần trưng bày sách sẽ diễn ra từ 29/2 - 11/3, tại thư viện cafe Đông Tây, Cầu Giấy, Hà Nội. Bùi Giáng là một thi sỹ kỳ dị trong nền văn học Việt Nam.


Nhà thơ Bùi Giáng
Nhà thơ Bùi Giáng

Ông kỳ dị trong lối sống, trong các tác phẩm, trải rộng từ tiểu luận, khảo cứu triết học, văn học, đến dịch tiểu thuyết, kịch và một cõi mênh mang có tên “thơ Bùi Giáng”. Một trong những bí ẩn lớn nhất trong cuộc đời cũng như văn nghiệp của Bùi Giáng đó là việc người ta không thể hiểu, vì sao một con người rong chơi suốt tháng ngày lại có thể để lại một gia tài chữ nghĩa đồ sộ đến vậy? Chỉ biết rằng trong suốt 73 năm sống trên “cõi tạm”, ông đã để lại hàng ngàn trang viết, với vô số tác phẩm. Thậm chí, người ta còn cho rằng có hẳn một nhà xuất bản (An Tiêm) được thành lập chủ yếu để ưu tiên xuất bản các tác phẩm của Bùi Giáng trước các tác giả khác!

Bộ sưu tập các tác phẩm của Bùi Giáng được trưng bày lần này, là một cố gắng nhằm tập hợp các tác phẩm của Bùi Giáng, được xuất bản cả trước và sau năm 1975, cho thấy một diện mạo của thi sỹ kì dị qua các tác phẩm của ông. Ở đây, có những tác phẩm đánh dấu các cột mốc quan trọng trong cuộc đời Bùi Giáng, như các bản in lần đầu tiên của thi phẩm Mưa nguồn, hay bản dịch tiểu thuyết Hoàng tử bé… Cũng có những tác phẩm cực hiếm chỉ in với số lượng rất ít (200 bản), như tuyển tập thơ Chân trời văn nghệ, hoặc bản dịch một cuốn truyện… chưởng của tác giả Ngọa Long Sinh, mà Bùi Giáng mới chỉ dịch tập 1, là Kim kiếm điêu linh! Với trên 110 cuốn sách (có tác phẩm gồm nhiều bản với nhiều lần xuất bản khác nhau) được trưng bày trong dịp này, có thể nói, đây là bộ sưu tập lớn nhất các tác phẩm của Bùi Giáng được công bố chính thức cho đến nay. Cuộc trưng bày được thực hiện dựa trên bộ sưu tập của nhà báo Yên Ba và một sỗ thành viên khác của Diễn đàn sachxua.net.

Về một chuyện ngắn hiếm hoi của Chế Lan Viên

Bìa cuốn "Chế Lan Viên - Toàn tập"
có in một số truyện ngắn của Chế Lan Viên.

Cách đây ít lâu, trên một số trang web, tôi đọc thấy bài quảng cáo tờ Nghệ thuật mới (phụ trương của Báo Người Hà Nội) sắp ra mắt bạn đọc, trong đó có đoạn: "Một lần nữa, nhà thơ Chế Lan Viên xuất hiện với chùm thơ chưa từng công bố cùng một trong những truyện ngắn hiếm hoi của ông". Tôi nóng lòng chờ đợi được đọc truyện ngắn nói trên, cốt để xem con phượng hoàng của làng thơ Việt trổ tài trong lĩnh vực này ra sao...

Chẳng là trước đây, trong "Tuyển tập Chế Lan Viên" thấy các nhà biên soạn ghi chú: "Ngoài các tác phẩm đã công bố, nhà thơ Chế Lan Viên còn có tập truyện ngắn "Gai lửa" chưa xuất bản". Tập sách này sau đã được in trong "Chế Lan Viên toàn tập" (tập V, NXB Văn học, 2009). Phải chăng cái "truyện ngắn hiếm hoi" được quảng cáo chính là một truyện ngắn rút ra từ tập sách nói trên? Khi Nghệ thuật mới số đầu được ấn hành, quả nhiên như dự đoán của tôi, truyện ngắn "Xoan đỏ" (in hết trang 10 và 1/3 của trang 11) được tòa báo ghi chú là: "Rút trong tập Gai lửa (di cảo) - "Chế Lan Viên toàn tập" - NXB Văn học, 2009". Như vậy bạn đọc đã được tiếp xúc với một "truyện ngắn hiếm hoi", chứ không phải là chưa từng được công bố của Chế Lan Viên.

Thật ra, một số truyện ngắn của Chế Lan Viên trong "Gai lửa" có gì đó gần với tản văn (hẳn vì thế mà ngoài bìa tập sách, tác giả ghi thể loại là truyện ngắn - tùy bút?). Có nhiều đoạn là thơ văn xuôi thì đúng hơn. Tỉ như: "Đứng yên một chỗ như chờ đợi, đằng xa, hoa xoan đã tăng thêm lời thúc giục, với một ít nắng mai vừa đến nở trên cành. Màu đỏ rộn rã kêu vang, dưới một màu xanh nằm dài trong tịch lặng. Bên ánh tươi chói lói, những mái ngói già bỗng sầm mặt lại, cúi đầu nhìn vào tường vôi thảm đạm của mình" (truyện ngắn "Xoan đỏ"). Nói chung, hầu như tác giả không để ý đến cốt truyện, đến các tình huống nảy sinh sự vụ, thậm chí đến cả nhân vật và sự phát triển tâm lý của họ. Truyện ngắn của Chế Lan Viên là một biến thể của thơ thì đúng hơn.

Từ nhận xét trên, bất giác tôi nhớ tới một câu chuyện (đúng hơn là một kỷ niệm văn nghệ) mà nhà văn Bùi Hiển đã ghi lại trong cuốn hồi ký "Bạn bè một thuở" (NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 1999). Cứ theo lời kể của Bùi Hiển thì từng có lần, Chế Lan Viên tâm sự với Bùi Hiển rằng, ông không thấy cái hay của thể loại tiểu thuyết. Lần đầu đọc tiểu thuyết "Đất vỡ hoang" của Solokhov, ông thắc mắc: "Quái, cứ bảo là hay gớm lắm, sao toàn chỉ có chuyện thế này. Chả thấy triết học (kiểu Proust), chả thấy thơ (kiểu Sperkenbroke) nào cả". Mãi sau này, khi được Bùi Hiển "giác ngộ", ông mới thấy cái hay của tác phẩm trên.

Cũng theo Bùi Hiển thì trong kháng chiến chống Pháp, trên tạp chí Sáng tạo của Khu IV, Chế Lan Viên từng cho đăng một bài suy ngẫm bằng văn xuôi có đầu đề là "Con kiến". Lời lẽ có phần khúc mắc, khó hiểu của bài văn khiến tác giả bị nhiều người đọc phê phán. Sau lần ấy, Chế Lan Viên đã xí xóa việc làm trên bằng một câu nhại Kiều "Tấm lòng văn xuổi từ nay xin chừa".

Không chỉ có vậy, vẫn theo nhà văn Bùi Hiển thì cũng trong kháng chiến chống Pháp, Chế Lan Viên từng có lần "thử" viết truyện ngắn. Truyện viết về một lính Bảo vệ quân (lính ngụy). Chế Lan Viên đã đưa cho Bùi Hiển đọc góp ý. Bùi Hiển nhận thấy tên lính ngụy trong truyện của Chế Lan Viên vốn xuất thân là nông dân, vậy mà từ lời ăn tiếng nói đến suy nghĩ hành động lại "thông minh", "học thức" quá. Bùi Hiển nêu nhận xét này với tác giả. Không thấy Chế Lan Viên thể hiện quan điểm gì, chỉ biết là, sau lần đó, không thấy ông "thử" viết truyện ngắn một lần nào nữa.

Không biết truyện ngắn này nay đâu, gia đình cố nhà thơ có còn giữ được không? Nếu có thì đây mới quả thực là "một truyện ngắn hiếm hoi" của Chế Lan Viên


Linh Nguyên

Thứ tư, ngày 29 tháng hai năm 2012

Nhà thơ Trần Đăng Khoa: Lần đầu tiên được "ngắm" thơ mình


Tại Tp HCM đang diễn ra một triển lãm đặc biệt mang tên "Gặp gỡ Trần Đăng Khoa" của nữ họa sĩ người Pháp Dominique de Miscault. 37 bức tranh trưng bày tại triển lãm minh họa cho 37 bài thơ của nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa. Triển lãm mang đến cho người xem một góc nhìn hoàn toàn mới về thơ Trần Đăng Khoa.

Tập thơ "37 bài thơ của Trần Đăng Khoa" xuất bản song ngữ kèm với những bức họa của Dominique de Miscault cũng đã được phát hành. Để hiểu thêm về hành trình từ những con chữ trở thành màu sắc, phóng viên VNCA đã có cuộc trò chuyện cùng nhà thơ Trần Đăng Khoa.

- Thưa nhà thơ Trần Đăng Khoa, anh cảm nhận thế nào về những bức tranh mà họa sĩ Dominique de Miscault đã vẽ thơ mình? Liệu nó có chuyển tải đúng tinh thần của thơ anh hay không?

+ Những bức họa của Dominique de Miscault về thơ tôi mang một cái nhìn hoàn toàn Pháp. Bà đã ảo hóa thơ tôi. Như bạn cũng biết, thơ cho dù viết về cái thật đi nữa thì vẫn có cái ảo. Thơ cần ảo, cần cái phi logic. Nhưng tạng của tôi lại là thật. Tôi viết thơ, thường "bài binh bố trận" rất kỹ, khi viết câu đầu tiên đã hình dung câu cuối thế nào rồi. Thơ ca rất cần cái huyền ảo, nhưng thơ tôi lại sáng tỏ. Với những bức tranh của họa sĩ Dominique de Miscault, lần đầu tiên tôi được "ngắm" những bài thơ của mình, không thể ngờ những con chữ giản dị, sáng tỏ của tôi lại được bà màu sắc hóa, huyền ảo hóa đến bí hiểm như vậy. Vì thế, bà minh họa những bài thơ của tôi nhưng tôi lại có cảm giác hình như chính những bài thơ của tôi lại minh họa cho những bức tranh vừa sáng tỏ lại vừa bí ẩn của bà.

- Trước đây, anh đã gặp họa sĩ Dominique de Miscault lần nào chưa và anh ấn tượng thế nào về bà?

+ Dominique de Miscault là một họa sĩ nổi tiếng ở Pháp. Bà là một người có rất nhiều duyên nợ với Việt Nam. Bà đã đến Việt Nam khoảng 20 lần. Bà có một công trình thú vị về cầu Long Biên, là một trong những họa sĩ quốc tế tham gia vào dự án "Con đường gốm sứ". Dominique de Miscault cũng từng làm một phim rất hay về Bác Hồ và đã tặng cho VTV, sẽ được phát sóng vào thời gian sắp tới đây. Tôi vẫn đùa rằng bà giống như một người Pháp gốc Việt vậy. Tôi biết Dominique de Miscault từ nhiều năm về trước, khi bà triển lãm tranh ở Hà Nội và cũng đã từng triển lãm những bức tranh minh họa thơ tôi.

- Người "vẽ" thơ anh là Dominique de Miscault, nhưng người dịch thơ anh sang tiếng Pháp lại là Michèle Sullivan - dịch giả đã từng dịch tiểu thuyết "Tố Tâm" của Hoàng Ngọc Phách sang tiếng Pháp trước đó. Cuộc gặp gỡ của nhà thơ - dịch giả - họa sĩ đã diễn ra như thế nào để có được một sự thống nhất hoàn chỉnh như vậy?

+ Michèle Sullivan từng dịch sang tiếng Pháp những bài thơ trong tập thơ chép tay gồm 20 bài mà tôi kính gửi Bác Hồ năm 1968, đã được Bảo tàng Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Giáo dục phối hợp xuất bản song ngữ Anh - Việt năm 2006. Trong khi đang tìm cách xuất bản tập thơ này thì Sullivan gặp Dominique. Họ cùng đến Việt Nam để nói chuyện với tôi về dự án kết hợp thơ dịch và tranh vẽ của họ. Tôi có đề nghị với Michèle Sullivan là ngoài những bài thơ thuở nhỏ của tôi, hãy dịch thêm những bài thơ tôi viết sau này nữa. Và họ nhất trí. Nhờ thế, thay vì 20 bài như trước đây thì tập thơ được xuất bản với con số 37 bài, trong đó hơn nửa số bài là những sáng tác không phải ở lứa tuổi thiếu nhi.

Thơ Trần Đăng Khoa qua nét vẽ của nữ họa sĩ Pháp Dominique de Miscault.

- Lúc nãy anh nói về tập thơ chép tay anh kính tặng Bác Hồ năm 1968. Rất nhiều độc giả tò mò muốn biết câu chuyện này đã xảy ra như thế nào…

+ Năm 1968 tôi đang là học sinh lớp 3. Cả lớp có phong trào "làm nghìn việc tốt". Mỗi khi làm được một việc tốt gì đó thì mỗi học sinh viết thư gửi lên Bác Hồ. Chưa ai trong lớp học nhìn thấy Bác Hồ nhưng tất cả đều xem Bác như người thân. Các bạn thi nhau kể cho Bác nghe chuyện mình nhặt được của rơi trả người đánh mất, chuyện làm phân xanh, chuyện mang lá ngụy trang ra trận địa pháo cho các chú bộ đội… Thậm chí có đứa bị bố mẹ mắng cũng viết thư mách với Bác Hồ. Tôi thì chẳng có chuyện gì để kể cho Bác nghe. Nhưng cô giáo bảo, làm thơ cũng là một việc tốt, vậy em hãy viết thư kể cho Bác Hồ nghe về chuyện làm thơ và chép thơ tặng Bác. Tôi chép 20 bài thơ của mình rồi đề ngoài phong bì là "Cháu Trần Đăng Khoa lớp 3B trường cấp 1 Quốc Tuấn, học sinh cô giáo Cúc kính gửi Bác Hồ Chí Minh ở Hà Nội" rồi bỏ vào thùng thư của xã. Thời gian trôi đi, tôi cũng quên dần tập thơ này, vì cứ nghĩ với địa chỉ như thế nó khó mà đến được tay Bác Hồ. Sau này, qua một bài báo tôi được biết là bác Vũ Kỳ - thư ký của Bác Hồ đã đọc thơ tôi cho Bác Hồ nghe.

- Hình như sau đó anh đã được gặp Bác Hồ?

+ Dịp quốc tế thiếu nhi năm 1969 tôi có mặt trong đoàn thiếu nhi trường Quốc Tuấn gồm 25 người về Thủ đô Hà Nội dự trại hè. Được tin đó, Bác Hồ cho gọi tôi đến, nhưng Người không gặp riêng tôi mà sẽ gặp cùng với các bạn thiếu nhi khác ở Nhạc viện. Bác nói với thư ký rằng nếu gặp riêng hay viết thư cho tôi sợ rằng tôi sẽ kiêu căng. Đó là cuộc gặp cuối cùng của Bác Hồ với thiếu nhi vì khi đó Người đã bắt đầu ốm mệt rồi. Cuộc gặp thiếu nhi cuối cùng của Bác sau này được làm thành bộ phim "Bác Hồ với chúng em". Tuy nhiên, tôi lại không được có mặt trong đoàn thiếu nhi này, vì nhà trường đề nghị cả đoàn được gặp Bác, chứ không để học sinh Trần Đăng Khoa tới gặp Bác một mình, lẫn trong các em thiếu nhi nhạc viện. Nhưng vì Bác Hồ không thể tiếp được cả đoàn, nên bù vào đó, cả đoàn được đến thăm nhà thơ Tố Hữu. Nhà thơ Tố Hữu có nhắn lại với tôi lời của Bác Hồ là "cháu Khoa phải học giỏi đều các môn, phải trở thành cháu ngoan Bác Hồ trước rồi hẵng làm nhà thơ sau". Tôi rất tiếc là mình đã không được gặp Bác. Năm sau Bác mất. Tôi viết bài thơ, trong đó hai câu thơ mà nhiều người chắc đã biết: "Bác ơi cháu chẳng bao giờ/ Còn mong gặp Bác cháu chờ đã lâu".

- Tập thơ viết tay ấy sau này trở thành một hiện vật trưng bày trong Bảo tàng Hồ Chí Minh, góp phần kể một câu chuyện về tình cảm của Bác Hồ với thiếu nhi. Anh có bất ngờ không?

+ Năm 2006 tôi hoàn toàn bất ngờ khi được Bảo tàng Hồ Chí Minh thông báo là họ sẽ xuất bản song ngữ tập thơ chép tay của tôi kính tặng Bác Hồ năm 1968. Đọc lại những trang bản thảo chép tay của mình, tôi vô cùng xúc động. Bạn tin không, đây là bản thảo viết tay duy nhất của tôi thời kỳ ấy còn lại đến hôm nay.

- Trong tập thơ song ngữ do Nhà xuất bản Giáo dục và Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp phát hành có chụp in lại cả những trang bản thảo viết tay của anh. Phải nói thật là chữ của nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa khi đó rất xấu, và lại còn sai nhiều lỗi chính tả nữa…

+ (Cười). Trong cuộc họp giữa Nhà xuất bản Giáo dục, Bảo tàng Hồ Chí Minh và các dịch giả Nguyễn Bá Chung, Trịnh Ngọc Thái, hai nhà văn Mỹ Fred Marchant và Lady Boston trước khi xuất bản tập thơ ấy của tôi, tôi có được mời tham dự, cùng với thầy Vũ Dương Thụy, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục. Tôi có hỏi thầy Thụy, là khi nhìn vào những trang viết tay của tôi hồi ấy thì thầy chấm cho tôi mấy điểm. Thầy Thụy trả lời nguyên văn: "Với tất cả sự kính trọng nhân tài đất nước, tớ cho cậu điểm 3/10". Thế là đủ biết chữ tôi xấu đến nhường nào. Đã thế tôi lại còn viết sai lỗi chính tả. Trong thư viết gửi tới Bác Hồ, có câu tôi viết thế này: "Cháu kính chúc Bác mạnh khỏe - sống nâu - mãi mãi không già". Con gái tôi năm nay học lớp 5, cứ mỗi lần nhìn thấy chữ của bố ngày xưa trong tập thơ thì cháu lại cười lăn ra. Cho nên, chính tôi rất nghi ngờ cái "chức vụ" Thần đồng mà mọi người vẫn phong cho tôi.

- Cho đến nay anh đã có bao nhiêu tập thơ xuất bản ở nước ngoài rồi.

+ Khoảng hơn 30 tập, ở các nước như Pháp, Mỹ, Cuba, Đức, Tiệp, Hungary... Nhiều người cứ tưởng thơ tôi được dịch sớm nhất ở các nước xã hội chủ nghĩa như Nga hay Trung Quốc, nhưng không phải thế. Những bài thơ đầu tiên của tôi được dịch và in ở Pháp từ năm 1971, sau đó là ở Mỹ. Tôi ngạc nhiên là những bài thơ tôi viết "chửi đế quốc Mỹ" thì người Mỹ lại dịch và in. Có lần tôi sang Trung Quốc, một bác phụ trách văn hóa ở đây nghe giới thiệu tôi là nhà thơ thì bắt tay, gật gù rất nhiệt thành và bảo anh đã đọc nhiều thơ của tôi rồi. Nhưng tôi biết là thơ tôi chưa từng được dịch ở Trung Quốc.

- Xin cảm ơn nhà thơ về những thông tin quý báu mà nhiều người yêu mến anh quan tâm


Vũ Quỳnh Trang (thực hiện

Thứ tư, ngày 22 tháng hai năm 2012

Anh ru em ngủ

Ngược xuôi
những chuyến xe đêm.
Lăn trên đường dài trôi theo đường đời.
Như kẻ lãng du tìm dấu chân người,
Như kẻ cô đơn tìm về tổ ấm.

Trong tình cờ
đời nỡ đưa em đến,
Trong lang thang ai ẩn giấu hẹn hò.
Trong hoang vu để ai đó mong chờ,
Trong cát bụi ai gieo mầm hy vọng?

Lặng lẽ tình đời
nương theo cuộc sống,
Lặng lẽ nụ hôn như gió thoáng qua.
Lặng lẽ gần cũng lặng lẽ qua.
Lặng lẽ tự ru và xin ru em ngủ.

Ru ánh sao đêm
để trốn tìm nỗi nhớ,
Ru mảnh trăng non làm gối giấc mơ hồng.
Ru gió ngàn cây lên cung bậc dây đàn,
Ru hạt mưa sa xóa đi niềm bất hạnh.

Ru hạt sương đêm
để hồn em bớt lạnh,
Ru giấc ngủ vùi để em bớt cô đơn.
Còn lại những gì trong chuyến xe đêm,
Ở đâu đó tình anh và nỗi nhớ…

Thứ ba, ngày 14 tháng hai năm 2012

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương: Sài Gòn rong chơi ký

Trên phương diện học thuật, không ai có thể phủ nhận Vũ Hoàng Chương là một trong những cây đại thụ của thi ca Việt Nam cận đại. Theo nhận định của nhiều nhà phê bình văn học thuộc nhiều thế hệ, so với các nhà thơ đồng thời, thơ Vũ Hoàng Chương có những nét riêng trau chuốt từng câu, từng chữ, giàu nhạc điệu, nhẹ nhàng, sâu lắng, lãng mạn và sang trọng.


Ông sinh ngày 5/5/1916 tại làng Phù Ửng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, Nam Định (nay thuộc về Hưng Yên). Vũ Hoàng Chương đỗ tú tài Pháp năm 1937. Sau đó, theo học Trường Luật rồi cử nhân toán tại Hà Nội, nhưng tất cả cũng chỉ được một vài năm rồi bỏ, để theo nghề dạy học và làm thơ cho đến cuối đời. Năm 1954, ông di cư vào Nam, tiếp tục dạy văn ở một số trường trung học, và Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Vũ Hoàng Chương mất ngày 6/9/1976, khi vừa tròn tuổi 60.

Tôi là một người may mắn, khi có một thời gian được tiếp xúc và gặp gỡ thi sĩ Vũ Hoàng Chương dường như mỗi ngày. Đó là vào khoảng cuối năm 1973, đầu năm 1974, khi vợ chồng ông đang tá túc tại nhà nữ sĩ Mộng Tuyết, trong một căn phòng được ông gọi là “gác mây”, nằm cuối đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển, quận Phú Nhuận).

Lúc bấy giờ, tôi đang giữ trang thơ của nhật báo Sóng Thần. Một buổi sáng, vừa bước vào tòa soạn ở số 133 Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi), đã thấy nhà văn Chu Tử (chủ bút) đang ngồi uống trà với Ngọc Thứ Lang (người dịch cuốn Bố Già) và nhà thơ Hoàng Trúc Ly. Bỗng dưng có ai đó nhắc đến thi sĩ Vũ Hoàng Chương và nói ông đang bệnh nặng. Thế là Ngọc Thứ Lang buột miệng: “Tội nghiệp, Vũ Hoàng Chương nghèo kiết xác, nên thiếu “thóc” (thuốc phiện) là ngã bệnh, nếu được hút đủ đô là khỏe ngay”.

Điều này có lẽ không sai, bởi hơn ai hết, Ngọc Thứ Lang cũng là một con nghiện rất nặng và thỉnh thoảng vẫn ghé lại “gác mây” thù tạc với Vũ Hoàng Chương. Không hỏi thêm một câu nào, ông Chu Tử quay sang ra lệnh cho tôi, xuống ban Trị sự, lấy tiền mua vài lạng thuốc phiện đem biếu cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Nghe thế, tôi rất vui khi biết mình sắp được gặp gỡ nhà thơ lớn mà mình ái mộ từ lâu, nhưng chỉ nghe danh chứ chưa được diện kiến lần nào. Có tiền, tôi nhờ anh Ngọc Thứ Lang đưa qua con hẻm đối diện tòa soạn, nơi có hai động hút dường như bán công khai, mua hai lạng thuốc phiện loại hảo hạng rồi đi ngay. Dọc đường, tôi cứ phân vân không biết phải xưng hô với thi sĩ Vũ Hoàng Chương như thế nào cho phải phép. Cuối cùng, tôi quyết định sẽ gọi ông bằng thầy và xưng em là ổn nhất.

Không có gì khó khăn để tôi tìm ra nhà nữ sĩ Mộng Tuyết. Gọi là “gác mây”, cái tên nghe rất thơ mộng, nhưng thật ra, đó là một căn phòng nhỏ, chỉ hơn 20 thước vuông, không có lấy một thứ đồ đạc nào đáng giá. Trên một chiếc đi văng bằng gỗ, được trải mấy tấm chiếu hoa, Vũ Hoàng Chương ngồi tựa lưng vào vách, gầy gò và mệt mỏi. Trên khuôn mặt xanh xao là một cặp kiếng trắng dày cộm. Trước mặt ông là một tờ báo và một chiếc kính lúp, mỗi khi đọc, ông phải soi từng dòng. Ngồi trên chiếc ghế kê sát cửa ra vào là bà Thục Oanh, vợ của ông, một người đàn bà với vẻ bên ngoài rất bình thường, nhưng lại có đời sống rất phi thường.

Bởi lẽ, bà còn là chị ruột của thi sĩ Đinh Hùng. Suốt đời người đàn bà này là chỗ dựa của hai nhà thơ lớn mà ngoài tánh khí thất thường ra, cả hai còn là những con nghiện á phiện rất nặng từ khi còn rất trẻ, nhưng chẳng bao giờ làm ra được nhiều tiền. Vì thế, mà bà Thục Oanh âm thầm chịu đựng cảnh túng thiếu, cắn răng lo cho hai nhà thơ lớn của Việt Nam mà chẳng hề ta thán. Thấy tôi xuất hiện, bà Thục Oanh đứng dậy chào khách và hỏi tôi muốn tìm ai? Tôi nói ngay: “Ông Chu Tử nhờ em đem biếu cho thầy ít quà”. Tôi trở nên hụt hẫng khi nghe Vũ Hoàng Chương nói, cho dù giọng ông chậm rãi và nhỏ nhẹ: “Chu Tử là ai? Hình như tôi không quen người này, nhưng tại sao lại biếu quà cho tôi, mà quà gì thế?”. Khi nghe tôi nói tới thuốc phiện, nét mặt ông rạng rỡ hẳn lên.

Tôi ngồi xuống mép đi văng, đặt hai lạng thuốc phiện lên tờ báo cũ mà ông đang đọc dở. Như bị ma lực của nó thu hút, ông cầm lên, mở ra, vẻ thích thú của một tay sành điệu: “Thuốc Thượng Lào, sản phẩm hảo hạng đây”. Thế là câu chuyện giữa tôi và thi sĩ Vũ Hoàng Chương trở nên thân mật hơn. Ông nói, mỗi ngày ông vẫn có thú vui đọc báo, nhưng chỉ đọc được một tờ, bởi không có đủ báo. Tôi hứa, mỗi ngày sẽ mang đến cho ông đủ các loại nhật báo phát hành trong ngày. Để cho ông yên lòng, tôi nói, mỗi ngày tôi thường đi ngang qua đây, nên rất thuận đường. Nói thế là vì tôi mong được kết thân với ông, chứ chẳng có viếc gì phải cần đến khu vực này cả. Ông nhận lời một cách vui vẻ, và từ đó, chiều nào tôi cũng mang báo đến cho ông, rồi ngồi chuyện trò với nhau đủ mọi thứ chuyện trên đời, rồi thành thân thiết.

Vài tuần sau, một lần Vũ Hoàng Chương bất chợt nhắc đến sức khỏe nhà văn Chu Tử. Nhân đó, tôi hỏi, dường như ông và Chu Tử cũng quen nhau, nhưng giữa hai người có điều gì đó lấn cấn? Ông thú thật là có quen biết. Nhưng do mâu thuẫn gì đó với Chu Tử, nên thôi. Còn như Chu Tử có xúc phạm Vũ Hoàng Chương hay không, cũng chẳng ai biết hư thực ra sao, bởi đó cũng chỉ là thị phi của người đời.

Có những buổi chiều khi tôi đến thì bà Thục Oanh vắng nhà. Tôi tự pha trà và ngồi đối ẩm với thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Tôi hỏi ông về chuyện tình yêu và những bài thơ đau tình bất hủ của ông. Nét mặt ông trở nên buồn vời vợi, nói như nói với chính mình: “Năm tôi 25 tuổi thì Tố Uyển đi lấy chồng, tôi đã như điên, như cuồng. Người ta biết nhiều đến chuyện tình ly cách và những bài thơ tôi làm cho Tố Uyển giai đoạn này, đặc biệt là hai câu mà nhiều người thuộc:

Tình ta, ta tiếc cùng ta khóc -
Tố của Hoàng, nay Tố của ai…

Ông nói tiếp: Thật ra còn có một người phụ nữ nữa, cũng làm cho tim tôi và thơ tôi rỉ máu, nhưng ít được người ta nhắc tới hơn:

Kiều Thu hề! Tố em ơi
Ta đang lữa đốt tơi bời mái tây…

Tôi hỏi: “Thế còn cô Thục Oanh?”. Ông nói: “Đó là một người bạn đời, người chia ngọt sẻ bùi, tuy không phải là người tình nhưng còn hơn cả người tình”.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương thường nói với tôi là ông không có bạn. Nhưng theo tôi nhìn thấy thì ông sống rất tình nghĩa. Có lần ông hỏi tôi có thường gặp Ngọc Thứ Lang không? Tôi nói rất thường gặp. Sáng nào cũng thấy anh ngồi ở quá cà phê trước tòa soạn báo Sóng Thần. Dạo này trông anh rất yếu và hay đau ốm. Thế là chẳng nói, chẳng rằng, ông lấy trên đầu nằm ra một cục thuốc phiện, cắt làm đôi, gói cẩn thận bằng một mảnh giấy kiếng màu cam, rồi trao cho tôi, dặn dò: “Đưa cho Ngọc Thứ Lang và đừng nói gì cả”.

Bút tích của thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

Một buổi chiều khác, tôi gặp Lê Cung Bắc (nay là đạo diễn - NSƯT Lê Cung Bắc) tại tòa soạn, và rủ anh ghé Vũ Hoàng Chương chơi. Lê Cung Bắc nhận lời ngay, bởi anh cũng là người yêu thơ và rất ái mộ thơ Vũ Hoàng Chương. Đó là một buổi gặp gỡ hết sức thú vị.

Trước khi theo tây học, Vũ Hoàng Chương từng học chữ Nho nhiều năm, thuộc loại uyên bác. Còn Lê Cung Bắc lại xuất thân trong một gia đình khoa bảng, mấy đời ông cha liên tục đỗ đầu các đại khoa dưới triều Nguyễn. Do đó, anh cũng rất tinh thông Tứ Thư, Ngũ Kinh,… từ hồi còn rất trẻ. Đặc biệt, Lê Cung Bắc thuộc làu rất nhiều bài Đường thi, và cả những bài từ, bài phú. Thế là một già, một trẻ, hết đọc rồi bình thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, đến Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu… say sưa cho đến sẩm tối. Vũ Hoàng Chương nói, ông tuy đã già nhưng tâm hồn còn rất trẻ, nên rất thích chuyện trò với những người bạn trẻ có được kiến thức như Bắc.

Ông dặn tôi, thỉnh thoảng nhớ rủ Lê Cung Bắc đến thăm ông, để chuyện trò cho đỡ buồn. Khi chia tay, ông rời đi văng bước ra cửa tiễn chúng tôi bằng những bước đi không vững, để bày tỏ lòng mến khách. Ông nói: “Lâu lắm không bước ra đường, chẳng biết phố xá dạo này ra sao?”. Lê Cung Bắc trả lời: “Phố xá thì vẫn thế. Có điều, càng ngày các cuộc xuống đường của những lực lựơng tranh đấu càng nhiều hơn. Ngựa sắt, hàng rào kẽm gai và khẩu hiệu, biểu ngữ xuất hiện khắp nơi”. Ông lại hỏi: “Người ta viết gì trên đó?”. Tôi đáp: “Thì đại loại chế độ của Tổng thống Thiệu muôn năm, hoan hô cái này, đả đảo cái kia”. Lập tức thi sĩ Vũ Hoàng Chương ứng khẩu, đọc liền hai câu:

Thế mà cứ chúc muôn năm mãi
Nó sống lâu thì nước chết non.

Ra đầu đường, Lê Cung Bắc nói với tôi, quả thật, nếu cứ nhìn vào cái thân xác gầy còm, yếu ớt đó, không ai ngờ tiềm ẩn trong tim là ngữ khí ngất trời.

Điều làm tôi cảm động nhất, là vào một buổi chiều cuối năm 1974, khi tôi đến với ông như thường lệ đã thấy trước mặt ông là một tập sách mỏng. Ông cầm lên đưa cho tôi và nói: “Đây là quà của tôi biếu anh, một trong những người rất hiếm hoi mà tôi quý mến”. Tôi lật ra, cứ tưởng như mơ. Đó là một tập thơ của Vũ Hoàng Chương, do chính ông viết bằng đầu tăm, chấm mực tàu viết lên giấy bổi. Tập thơ có cái tựa là Song Kiều, ngoài bìa Vũ Hoàng Chương viết tặng đích danh tôi, có chữ ký và triện son hẳn hoi, nhưng chỉ dày hơn 20 trang, mỗi trang có 4 câu lục bát, vì nét chữ rất to. Dĩ nhiên là tôi vô cùng sung sướng. Cái công mỗi ngày tôi vẫn mang báo đến tặng ông rõ ràng không bỏ.

Đầu năm 1975, khi chuyển nhà đi nơi khác, vì không ổn định chỗ ở, tôi đã mang tập thơ quý giá, với chỉ một ấn bản duy nhất đó, cùng một ít tư liệu riêng, gởi gắm cho nhà thơ Huy Tưởng trên đường Huỳnh Tịnh Của. Về sau tôi hỏi, thì Huy Tưởng nói đã nhiều lần cố lục tìm trong đống sách vở và đồ đạc lỉnh kỉnh trong nhà anh, nhưng chẳng biết thất lạc ở đâu. Thế là mất!

Một thời gian sau, thi sĩ Vũ Hoàng Chương rời khỏi “gác mây”, dọn về Vĩnh Hội. Từ đó, cho đến lúc ông qua đời vào năm 1976, vì bộn bề công việc, tôi không đến với ông được nữa. Ngay cả khi ông nhắm mắt, tôi lại ở thật xa thành phố, nên cũng không thể đến thắp cho ông một nén nhang như lòng tôi mong ước.

Tôi nghĩ, cho dù quá nhiều thăng trầm ở đời này, hạnh phúc thì ít, khổ đau thì nhiều, nhưng có lẽ thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng đã mỉm cười ra đi bởi ông đã thấm đẫm tinh thần Phật giáo như lời thơ ông:

Biển khổ mênh mông sóng ngập trời
Khách trần chèo một mái thuyền chơi
Thuyền ai ngược sóng, ai xuôi sóng
Cũng chỉ trong cùng biển khổ thôi.

Bình Trưng Đông, tháng Chạp - năm Tân Mão

Thứ sáu, ngày 10 tháng hai năm 2012

Kỳ lạ bàn cổ tự xoay ở Hội An

(Dân trí) - Một lần đến Thuận Tình, thuộc xã Cẩm Thanh, TP. Hội An (Quảng Nam), chúng tôi không khỏi cảm thấy tò mò, kỳ lạ với chiếc bàn cổ tự xoay ở đây.

Chiếc bàn cổ này kỳ lạ bở khả năng tự xoay

Chiếc bàn được đặt ngay giữa gian nhà gỗ, xung quanh có khá nhiều những món đồ cổ nhỏ khác của ông Mười, một người chuyên sưu tầm đồ cổ có tiếng ở Hội An. Chủ nhân đi vắng, tiếp khách ghé tham quan là ông Nguyễn Tấn Hòa (đã ngoài 60 tuổi), là người chuyên coi giữ gian nhà.

Chỉ vào chiếc bàn tròn vỏn vẹn một chân, ba trụ, thoạt nhìn khá đơn sơ, không có gì đáng chú ý ngoài vẻ cũ kỹ, ông Hòa giới thiệu: “Chiếc bàn cổ kỳ diệu đây!”. Không nói rõ ngọn ngành chiếc bàn vội, ông Hòa hướng dẫn chúng tôi đặt sấp nhẹ hai bàn tay lên mặt bàn, tập trung ý nghĩ bàn sẽ quay về phía bên trái hay chiều ngược lại. Sau một khoảng không lâu, độ vài giây, chiếc bàn phát một âm thanh như tiếng các khối gỗ xoắn vào nhau và xoay theo chiều đúng với ý nghĩ người đặt tay lên bàn.

Khi đồng loạt lật ngửa cả hai bàn tay, mặt bàn lập tức dừng lại và xoay theo chiều ngược lại. Sự kỳ diệu của chiếc bàn ở chỗ nó tự xoay theo ý nghĩ chứ không theo sự điều khiển của đôi bàn tay chỉ đặt hờ trên mặt bàn, thể hiện ở tốc độ xoay nhanh, dễ đến chóng mặt. Mà nếu điều khiển bằng tay, phải dùng một lực mạnh hơn nhiều

“Chiếc bàn kỳ diệu ở chỗ chưa ai giải thích được nguyên lý hoạt động của nó chứ không phải nó là chiếc bàn thần tiên, thần thánh gì. Nhiều người đến đây, họ không hề tin thần thánh hoặc những chuyện ly kỳ hư ảo nhưng hoạt động tự xoay theo ý nghĩ một cách kỳ lạ của chiếc bàn cuốn hút họ. Họ cứ thử đi thử lại, nó vẫn như vậy”. - ông Hòa quả quyết

Chính lúc chúng tôi đang thử nghiệm lời giới thiệu về chiếc bàn kỳ diệu, có một đôi khách vào tham quan, trong đó có một du khách đến từ Hàn Quốc, tỏ ra rất thích thú, công nhận chiếc bàn quả có sự kỳ lạ và lần đầu tiên được nhìn thấy.

Chiếc bàn cổ tự xoay này theo lời kể của ông Hòa được tìm sưu tầm từ một ngôi làng ở huyện Tiên Phước (Quảng Nam). Tìm hiểu thêm về chiếc bàn cổ có khả năng tự xoay theo ý nghĩ kỳ lạ, chúng tôi được biết chiếc bàn cổ tự xoay ở Hội An là loại bàn làm bằng gỗ mít, đã có gần 200 năm tuổi. Và đó là không phải là chiếc bàn kỳ diệu duy nhất. Chiếc bàn cổ tự xoay ở Hội An còn có nhiều “anh em” lưu lạc khắp nơi. Tất cả đều xuất xưởng cách đây hàng trăm năm từ làng mộc Văn Hà, làng mộc tiếng tăm nay chỉ còn “vang bóng một thời” ở Phú Ninh (Quảng Nam).

Truyền rằng những nghệ nhân làng Văn Hà ngày ấy làm ra những chiếc bàn gỗ mít này như một mặt hàng gia dụng, bán cho nhà dân trong vùng Quảng Nam và lân cận. Người thợ không cố ý nhưng những chiếc bàn theo một nguyên lý nào đó chưa giải thích được, có khả năng tự xoay kỳ lạ.

Thỏa mãn trí tò mò của chúng tôi, ông Hòa cho phép chúng tôi tháo rời các bộ phận của bàn ra xem. Cấu trúc chiếc bàn khá đơn giản, có một trụ tròn với chân ba trụ gắn với mặt bàn bằng một khối gỗ vuông nhỏ có bốn chân trụ ngắn để đỡ mặt bàn. Phần mặt bàn có đường kính khoảng 60 cm, dược tạo thành bởi hai mảnh gỗ hình bán nguyệt ghép vào nhau. Khe hở giữa hai mảnh gỗ này chạy dọc thành một đường kính tự nhiên. Tất cả chỉ có vậy, mà bên trong cấu trúc đơn giản ấy, quả thật còn ẩn chứa nhiều kỳ thú chưa có lời giải đáp xác đáng nào.


mặt bàn được tạo bởi hai mảnh gỗ đẽo hình bán nguyệt
có một chân bàn duy nhất, phần đế chân có ba trụ đỡ
nối liền mặt bàn với chân là một khối kết cấu hình hộp vuông, xung quanh có bốn trụ, ở giữa có một trụ lõi tròn trơn
bên dưới mặt bàn có một khung vuông vừa khít với kết cấu hình hộp vuông trên
ông Hòa (đứng giữa) hướng dẫn khách thử tìm hiểu sự kỳ lạ của chiếc bàn

Khánh Hiền

Thứ ba, ngày 07 tháng hai năm 2012

Tiếng ru đời tìm dấu lặng thời gian

Ngày, tháng, năm
theo con tạo xoay vần…
Yêu và nhớ như dòng đời vẫn chảy.
Xa và gần tiếng thơ dài vô tận…
Ai bâng khuâng nuối tiếc tuổi thơ hồng?

Xưa và nay
trong cây Thập tự đời,
Phận và danh mấy khi cùng một lối…
Cái vô hạn trong tình yêu đồng loại,
Cái nhỏ nhoi thân phận kiếp con người.

Ta lãng du
theo cây Thập tự đời,
Và hát mãi bản tình ca dang dở.
Ta vẫn nghe trong từng mắt lá,
Tiếng ru đời tìm dấu lặng thời gian.

Thứ bảy, ngày 04 tháng hai năm 2012

Nhà thơ Nguyễn Bính: Hồn tôi giếng ngọt trong veo


Cùng với thời gian, càng ngày tôi càng nhận ra tầm vóc lớn lao của nhà thơ Nguyễn Bính. Không, ở đây tôi không nói theo cách của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi ông nhận xét về thơ của cụ Đồ Chiểu, rằng "Trên trời có những vì sao có ánh sáng phi thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì càng thấy sáng".

Với tôi, thơ Nguyễn Bính là nguồn nước giếng thơi trong mát. Ta chỉ thực sự thấy hết ý nghĩa của nó khi phải đối mặt với mênh mông sa mạc. Vâng, sa mạc của chữ nghĩa và sa mạc của hồn người.

Nếu như các nhà thông thái, thoạt mới tiếp xúc với thơ Nguyễn Bính dễ buông nhận xét: "Thơ như thế này thì có gì" (xem bài của Hoài Thanh về Nguyễn Bính trong "Thi nhân Việt Nam") thì "Với thơ, Nguyễn Bính kỹ lưỡng đắn đo suy nghĩ có khi đến quên ăn quên ngủ vì một từ, viết nháp nhiều lần, sửa chữa kỹ lưỡng từng câu từng chữ" (trích hồi ký của nhà thơ Hoàng Tấn). Có gì mâu thuẫn chăng? Không, tôi thấy đây là chuyện hoàn toàn có thể cắt nghĩa được: Người làm thơ một khi tay nghề đã quá cao cường, nói như thơ Vũ Quần Phương "Gặp thơ rồi thì quên chữ quên câu", hẳn họ sẽ khiến người đọc khó mà tìm ra dấu vết của việc họ uốn câu tỉa chữ. Nguyễn Bính là một trường hợp như thế. Cầm trên tay một cốc nước mát, nhìn vào cái sự… trong suốt của nó, có thể ai đó sẽ nghĩ "không có gì", hay đâu, để có được cái "trong veo", "trong vắt" ấy (thơ Nguyễn Bính: "Hồn tôi giếng ngọt trong veo/ Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh" - bài "Tình tôi"), người làm thơ đã phải thanh lọc, xử lý kỳ công các tạp chất như thế nào?

Nhiều người đã biết đến khả năng chiếm lĩnh bạn đọc của thơ Nguyễn Bính, một tiếng thơ phổ cập vào bậc nhất trên thi đàn Việt Nam thế kỷ XX. Điều này có căn nguyên từ cả nội dung mà tác giả đề cập và thủ pháp mà tác giả sử dụng.

Trước tiên hãy nói về thủ pháp nghệ thuật mà Nguyễn Bính sử dụng để tạo cho bài thơ, khổ thơ có sức ăn sâu bám chắc trong trí nhớ người đọc: Nguyễn Bính hầu như chỉ sử dụng các thể thơ truyền thống như lục bát, thất ngôn (ông viết rất nhiều, tới cả ngàn bài nhưng hầu như rất hiếm khi dùng thể thơ tự do) và cách bắt vần của ông thì hết sức chặt chẽ. Ở mặt này, Nguyễn Bính rất gần với Tố Hữu và sự thật, cùng với thơ Tố Hữu, đó là hai tiếng thơ thuộc loại dễ thuộc dễ nhớ bậc nhất trong thi ca Việt Nam.

Trước đây, nhà thơ Vương Trọng từng có lần đố tôi tìm được trong các nhà thơ nổi tiếng đương đại một bài thơ lục bát có sự bắt vần chỉnh đến "trăm phần trăm" như bài "Đường rừng chiều" của Nguyễn Bính: "Lữ hành bắt gặp quán cơm/ Bầy ong bắt gặp mùi thơm hoa rừng/ Đèo cao cho suối ngập ngừng/ Nắng thoai thoải nắng chiều lưng lửng chiều/ Giăng non như một cánh diều/ Trẻ con phất dối thả liều lên mây/ Chim nào kêu mỏi ngàn cây/ Ngẩn ngơ đôi chiếc ngựa gầy dong xe/ Đồi sim dan díu nương chè/ Trắng phau khói núi, xanh lè áo ai…".

Thoạt đầu, tôi nghĩ việc này… dễ ợt (bởi bài thơ của Nguyễn Bính chỉ vẻn vẹn có 10 câu). Nào ngờ bắt tay vào tìm, mới thấy việc không hề đơn giản. Trong cả rừng thơ lục bát với nhiều bài "chắc nịch", thật hiếm bài có cách bắt vần khít khịt, "chuẩn không cần chỉnh" như bài thơ trên (nhiều bài "chuẩn" được dăm ba câu thì lại rơi vào cảnh vần ơm bắt vần với vần ươm; vần ưng bắt vần với vần ung, hoặc vần ông; vần iêu bắt vần với vần eo…).

Tất nhiên, trong việc làm thơ, không phải cứ bắt vần chuẩn như vậy là thành thơ… hay (và tất nhiên, nếu ai đó chủ ý bắt vần cho thật chuẩn thì chắc rồi họ cũng làm được). Cái tài của Nguyễn Bính, là dù ông rất chú trọng về mặt vần điệu, song hơi thơ đọc lên nghe vẫn thanh thoát, tự nhiên, chữ nghĩa xem ra cũng không bị gò gẫm. Đặc biệt, trong nhiều trường hợp, như một ông thầy cao tay điểm huyệt, Nguyễn Bính đã có cách nhấn nhá, luyến láy chữ nghĩa tài tình, tạo cho bài thơ, khổ thơ một sự thăng hoa, bứt phá rất ấn tượng. Nó như liều thuốc chống buồn ngủ khi người tài xế đang dong xe trên một cung đường êm ả, vắng người…Và cách luyến láy, nhấn nhá này được Nguyễn Bính sử dụng nhiều ngay từ lúc khởi nghiệp thơ cho mãi đến những năm về sau. Như ở bài "Ghen", ông nhấn nhá mấy chữ: "nghĩa là", "quá", "cô là", "tất cả" trong khổ thơ kết bài: "Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi/ Thế nghĩa là yêu quá mất rồi/ Và nghĩa là cô là tất cả/ Cô là tất cả của riêng tôi" - một cách nhấn nhá cốt để thể hiện cái rối rít, cuống quít của lòng yêu; hoặc ở bài "Viếng hồn trinh nữ" là sự nhấn nhá mấy chữ "trắng": "Có một chiếc xe màu trắng đục/ Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi/ Đem đi một chiếc quan tài trắng/ Và những vòng hoa trắng lạnh người/ Theo bước những người khăn áo trắng/ Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi", một cách nhấn nhá nhằm làm nổi bật lên sự ám ảnh, xa xót khôn nguôi của tác giả trước đám tang một trinh nữ mà mình từng có tình ý. Trong một số trường hợp, nhất là ở những bài thơ tình, sự nhấn nhá chữ nghĩa của Nguyễn Bính còn tạo nên một sự… ỡm ờ rất có duyên: "Gió mưa là bệnh của giời/ Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng/ Hai thôn chung lại một làng/ Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?/ Ngày qua ngày lại qua ngày/ Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng…" (bài "Tương tư"); "Cô hái mơ ơi/ Chẳng trả lời nhau lấy một lời/ Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng/ Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi" (bài "Cô hái mơ")…vv và vv …

Về nội dung, điều dễ nhận thấy là Nguyễn Bính đã rất thành công khi đưa độc giả - nhất là những người đang sống (hoặc một thời từng sống) nơi thôn dã - trở về với những gì thơ mộng, thánh thiện nhất của một thời quá vãng. Thật ra, trong những điều Nguyễn Bính viết, đâu phải cảnh nào, tình huống nào cũng xảy ra trong đời thực của ông. Những cảnh thanh bình nơi gian nhà tranh nho nhỏ, dưới ánh trăng mơ, vợ quay tơ, chồng ngâm thơ; rồi cảnh trai làng gái xóm hò hẹn nhau trong đêm hát hội; cảnh hoa xoan rơi kín lối ngày xuân, hoa cải nở vàng cuối đông; cảnh cô gái chèo đò ngồi đợi tình quân; cảnh đêm trăng sáng như ban ngày; cảnh ngày nắng lên trẻ em đùa nô bên nhành lá non như tráng bạc… tất cả hoặc chỉ là những khoảnh khắc hiếm hoi mà tác giả lưu giữ được, hoặc là khát vọng mà ông hướng tới, trong khi thực tế cuộc sống mà ông đối mặt, cụ thể là những gì diễn ra ở làng quê Nguyễn Bính - hãy xem nhà văn Tô Hoài, người bạn một thời cơ khổ của Nguyễn Bính thuật lại, thì đâu có thơ mộng, êm đềm như vậy: "Làng Thiện Vịnh, làng quê chôn nhau cắt rốn của anh, cái làng đồng trũng mà chắc đến mùa nước thì con đường đê liên huyện kia chỉ còn là sợi chỉ mỏng mảnh bên làn nước giữa gò đất, bờ bụi, tre pheo.

Sao mà lắm gió thế, gió trên đồng đêm ngày giật lên, gào lên từng cơn. Làng nước xám ngắt, quang cảnh tiêu điều lam lũ ảm đạm, nheo nhóc. Thế mà: Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy. Tầm vóc, thật tầm vóc, mỗi câu thơ Nguyễn Bính" (Lời giới thiệu "Tuyển tập Nguyễn Bính", NXB Văn học, 1986). Rõ ràng, khát vọng của Nguyễn Bính đã nâng tầm cho những câu thơ của ông, làm cảnh trí đẹp thêm lên, tạo một sức lay động mạnh mẽ con tim người đọc.

Một số nhà nghiên cứu văn học vẫn xếp Nguyễn Bính vào trường thơ đồng quê như Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ. Thật ra, Nguyễn Bính không tả vẻ đẹp của cảnh quê đơn thuần mà mượn nó để nói những ước vọng "tình quê" của những đôi trai hiền gái thảo. Bởi vậy, cảnh trí trong thơ Nguyễn Bính không chỉ là vẻ đẹp của không gian mà đằng sau nó còn là thời gian, là cái đẹp của hồn cốt bao đời tụ lại. Đọc những câu: "Chiếc áo màu xanh tựa nước hồ/ Nàng vừa may với gió đầu thu" (bài "Viếng hồn trinh nữ"), cấp độ liên tưởng ấy ta có thể bắt gặp ở một nhà thơ đồng quê nào đó, nhưng đến hai câu kế tiếp: "Gió thu còn lại bao nhiêu gió/ Chiếc áo giờ đây bạc dưới mồ" thì phải tới cỡ Nguyễn Bính mới có được.

Trước đây, trong một bài viết về Anh Thơ, tôi đã có đôi dòng liên hệ, so sánh sự khác biệt giữa thơ của nữ thi sĩ này và thơ Nguyễn Bính. Trong khi cho rằng, với tập "Bức tranh quê", Anh Thơ đã khiến độc giả khó mà đoán định được giới tính của người viết thì tôi lại xem Nguyễn Bính là một nhà thơ nông thôn giàu… nữ tính. Quả thực, trái ngược với con người mà ngoài đời có lối sống băm bổ, kiêu bạc, thậm chí… chất chưởng ấy, trong thơ, Nguyễn Bính luôn thể hiện là một con người ủy mị, nhiều nước mắt. Không hiếm bài thơ, Nguyễn Bính đã đứng ở ngôi vị người phụ nữ để tâm tình với độc giả (như các bài "Mưa xuân", "Lỡ bước sang ngang", "Lòng mẹ", "Thời trước", "Lòng nào dám tưởng"…). Và ông đã vào giọng nữ một cách hết sức nhuần nhuyễn. Đọc những câu: "Em ơi! Em ở lại nhà/ Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương/ Mẹ già một nắng hai sương/ Chị đi một bước trăm đường xót xa/ Cậy em, em ở lại nhà/ Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương" (bài "Lỡ bước sang ngang"), mấy ai nghĩ rằng những lời ấy được viết ra bởi một nam thi sĩ có nhiều năm tháng vật lộn với cuộc sống nơi thị thành? Đây có thể coi là một lợi thế khiến nhiều bài thơ của Nguyễn Bính đủ sức chinh phục một đối tượng bạn đọc vốn dĩ được xem là "một nửa thế giới". Và, như người đời vẫn nói, khi đã chinh phục được các độc giả nữ thì đó cũng chính là tiền đề để những bài thơ ấy len lỏi đi vào đời sống tình cảm của mọi gia đình.

Đã hơn 70 năm trôi qua kể từ ngày những bài thơ xuất sắc nhất của Nguyễn Bính góp mặt trên thi đàn. Có một phong trào đọc thơ Nguyễn Bính và làm thơ như… Nguyễn Bính, song đến nay, hiện tượng Nguyễn Bính vẫn là "độc nhất vô nhị". Những khát vọng trinh nguyên nhường ấy, được lồng vào những thể thơ dân gian mượt mà, trong sáng là vậy - sự hôn phối ấy chỉ diễn ra có một lần. Văn hào Anh Richard Jefferies đã viết đại ý, phải mất hàng trăm năm ngọn gió nam thổi trên những cánh đồng lúa xanh rờn mới có thể tạo nên một trinh nữ hoàn hảo. Mượn cách nói ấy, tôi muốn khẳng định rằng, phải hàng trăm năm dân tộc ta mới sản sinh ra một nhà thơ đồng quê như Nguyễn Bính.

24/11/2011


Phan Khải.

Thứ hai, ngày 30 tháng một năm 2012

Lửa cháy cung A Phòng và mối hận Tần vương

Lâu nay, người ta đều nói rằng chính Hạng Vũ là người đã ra lệnh đốt rụi cung A Phòng - tòa cung điện quy mô, tráng lệ và xa hoa bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Tuy nhiên, những phát hiện mới nhất lại chứng minh rằng từ hàng ngàn năm nay, người ta đã nghi oan cho vị Tây Sở Bá Vương lừng lẫy này…

Lửa thiêu cung A Phòng

Một trong những tội ác mà hàng ngàn đời nay, người Trung Quốc vẫn lên án Tần Thủy Hoàng - vị Hoàng đế đầu tiên của xứ sở này - chính là việc xây dựng những công trình hao tiền, tốn của và làm kiệt quệ sức dân, dẫu rằng họ vẫn phong tặng cho những công trình này đủ thứ danh hiệu, từ kỳ quan tới thắng cảnh. Cung A Phòng cũng là một công trình gây ra những tranh cãi như vậy.

Theo những gì sử sách còn ghi chép thì cung A Phòng được Tần Thủy Hoàng xây dựng vào năm Tần Thủy Hoàng thứ 35, tức năm 212 trước Công nguyên để nghỉ mát trong những ngày hè. Vị trí của cung A Phòng khu lâm uyển (khu rừng dành riêng cho vua chúa đi săn) ở bờ Nam sông Vị, đối diện với kinh đô Hàm Dương của nước Tần nằm ở bờ phía Bắc.

Tính theo vị trí hiện tại thì cung A Phòng nằm cách trung tâm thành phố Tây An, tỉnh Thiêm Tây khoảng 13km về hướng Tây. Theo sử sách thì cung A Phòng được kiến trúc rất quy mô và rộng lớn, khi Tần Thủy Hoàng còn sống chỉ xây được một phần phía trước của cung điện.

Sách “Sử ký” của Tư Mã Thiên có nói rằng chỉ riêng phần đã hoàn thành này cũng đã rộng lớn tới mức kinh người: “Chiều từ Đông sang Tây của phần điện phía trước cung A Phòng dài 500 bộ (hơn 800m), chiều Nam - Bắc dài 50 trượng (hơn 150m), phía trên có thể ngồi được hàng chục ngàn người, phía dưới có thể dựng được cột cờ 5 trượng”.

Sau khi Tần Thủy Hoàng chết, Tần Nhị Thế Hồ Hợi tiếp tục ra lệnh xây dựng cung A Phòng. Một nhà thơ có tiếng thời Đường là Đỗ Mục đã viết bài “A Phòng cung phú”, trong đó miêu tả về cung A Phòng như một cung điện nguy nga tráng lệ, phòng lâu san sát, tất cả đều được chạm trổ những nét điêu khắc và hoa văn rất độc đáo với diện tích hơn ba trăm dặm.

Tính theo các đơn vị đo lường ngày nay thì diện tích của cung A Phòng vào khoảng 80 ngàn mét vuông, có thể chứa hàng chục ngàn người. Theo truyền thuyết thì cung A Phòng có tới hơn 70 cung thất lớn nhỏ khác nhau. Trong một ngày mà thời tiết ở các cung thất, điện đài không nơi nào giống với nơi nào.

Cung điện huyền thoại này là nơi cất giữ vàng bạc, châu báu cũng như hàng ngàn vạn mỹ nữ mà đội quân nước Tần cướp được trong cuộc chiến tranh chinh phục 6 nước chư hầu. Người ta nói rằng, vàng bạc trong cung điện chất như núi còn mỹ nữ thì có cả vạn người.

Hiện tại, ở thị trấn Tam Kiều, ngoại ô phía Tây thành Tây An vẫn còn lưu giữ di chỉ cung A Phòng với diện tích lên tới 60 ngàn mét vuông. Điều đó đủ chứng minh rằng cung A Phòng được Tần Thủy Hoàng thiết kế và xây dựng có quy mô lớn tới mức nào. Nhiều người thậm chí còn cho rằng các công trình xây dựng hiện đại ngày nay, dù quy mô đến mấy cũng không sao sánh được với cung A Phòng.

Một câu hỏi đặt ra là, vì sao Tần Thủy Hoàng lại xây dựng một khu nghỉ mát mùa hè rộng lớn và hoành tráng đến như vậy. Nhiều người cho rằng câu trả lời thật đơn giản, bởi đó là bản tính của Tần Doanh Chính: bạo liệt và nghênh ngang, không biết trên đầu có ai.

Hơn nữa, khi đó, Tần Doanh Chính đã thống nhất cả thiên hạ, sự bạo liệt và kiêu ngạo của ông ta càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Mặt khác, trong quá trình thôn tính 6 nước, Tần Doanh Chính đã thu được không ít của cải và mỹ nữ từ 6 nước vừa bình định đem về Hàm Dương. Quyền lực, tiền bạc đã đủ, vị “con giời” này đương nhiên thiết lập nốt “ngôi“ chúa cuối cùng đó là ái tình, cho thỏa tính ngông và thỏa mãn dục vọng kiểu đế vương.

Nhiều người lại tin vào truyền thuyết về một câu chuyện tình lãng mạn giữa Tần Doanh Chính và cô con gái của một thầy thuốc nước Triệu. Chính tên của người con gái đó đã được Tần Thủy Hoàng lấy để đặt tên cho cung điện vĩ đại nhất trong lịch sử này.

Chuyện kể rằng, hai người quen biết nhau từ khi Tần Doanh Chính còn ở Hàm Đan - kinh đô nước Triệu. Khi Tần Doanh Chính trở về Hàm Dương - kinh đô nước Tần - thì A Phòng cũng theo cha đến Hàm Dương tìm hoa kim cúc để chế thuốc trường sinh và hai người gặp lại nhau tại đây. Tần Doanh Chính dưới danh nghĩa một anh thợ mộc đã ngỏ lời muốn kết hôn cùng A Phòng và đã được A Phòng nhận lời.

Tuy nhiên, tình yêu của họ đã gặp muôn vàn trắc trở. Thái hậu Trịnh Cơ - mẹ của Tần Thủy Hoàng và Lã Bất Vi - tướng quốc nước Tần muốn Tần Thủy Hoàng lấy công chúa một nước khác với mục tiêu tạo thành một liên minh chính trị. Bởi vậy, Triệu Cơ và Lã Bất Vi đã tìm mọi cách ngăn cản tình yêu của họ, thậm chí đã nhiều lần định giết cả A Phòng.

Trong khi đó, các nước khác như Triệu, Sở, Hàn, Ngụy, Vệ… thì tìm mọi cách để ám sát Tần Doanh Chính. Lợi dụng việc Trường Lạc - công chúa nước Triệu - có dung mạo giống hệt như A Phòng, họ đưa cô đến để đóng giả làm A Phòng, hòng ám sát Tần Doanh Chính. Nhưng không may, công chúa lại bị tay chân của Đồng Thái thú giết chết vì chúng tưởng cô là A Phòng.

Tần Doanh Chính vô cùng đau khổ trước cái chết của Trường Lạc công chúa mà ông ta tưởng là A Phòng nên đã cho thi hài công chúa vào một quan tài pha lê chờ người mang thuốc đến cứu chữa. Trong khi đó, các nước chư hầu khống chế và lợi dụng A Phòng, tìm cách làm cô quên mất quá khứ, khống chế cô, hòng dùng cô để ám sát Tần Doanh Chính. Tuy nhiên, nhờ Hoa Dương Thái hậu - bà của Tần Doanh Chính - hát lại một bài hát cũ mà họ đã từng hát với nhau khi xưa, A Phòng mới bừng tỉnh, hai người nhận ra nhau.

Tình yêu tưởng như đã đến với họ, song, đúng lúc đó, khi Tần Doanh Chính quyết định đi đánh chiếm các nước khác nhằm thống nhất Trung nguyên, A Phòng vì khuyên ngăn không được nên quyết định tự vẫn. Cái chết của A Phòng khiến Tần Thủy Hoàng vô cùng đau khổ. Vì vậy, sau này, khi đã thống nhất Trung Quốc, lên ngôi Hoàng đế và quyết định xây dựng một cung điện quy mô hoành tránh nhất trong lịch sử, Tần Thủy Hoàng mới dùng tên A Phòng để đặt tên cho tòa cung điện này như một cách tưởng nhớ người mà mình thương yêu.

Tuy nhiên, công trình được xây dựng với quy mô chưa từng thấy nhằm tưởng nhớ người tình và cũng để tỏ rõ uy quyền của Tần Thủy Hoàng đã không đứng vững được bao lâu. Chỉ vài năm sau đó, tòa cung điện nguy nga tráng lệ đã bị thiêu rụi một cách không thương tiếc.

Lâu nay, từ chính sử cho tới dã sử, người ta đều nói rằng người đã ra lệnh đốt tòa cung điện nguy nga bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc này không ai khác chính là Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ. Chuyện kể rằng, trong khi Hạng Vũ kịch chiến với Chương Hàm - tướng của nhà Tần - thì Lưu Bang theo đường thẳng tiến về phía Tây, không đụng độ với cánh quân nào đáng kể của Tần, vì thế đã tiến vào Quan Trung trước.

Vua Tần là Tử Anh ra hàng. Lưu Bang vào được Quan Trung, chiếm Hàm Dương trước nhưng chưa dám làm gì. Khi đó, Hạng Vũ có 40 vạn quân, từ Tân An đi, muốn đánh chiếm đất Quan Trung nhưng cửa Hàm Dương có binh giữ cửa ải nên không vào đuợc. Nghe tin Lưu Bang đã vào Hàm Dương trước, Hạng Vũ nổi giận, sai Anh Bố đánh cửa ải. Quân Lưu Bang không chống nổi, phải rút lui. Hạng Vũ bèn vào đến phía Tây sông Hí Thủy.

Hôm sau, Hạng Vũ bày yến mời Lưu Bang ở Hồng Môn, theo mưu kế của mưu sĩ Phạm Tăng, định lợi dụng để giết Lưu Bang, trừ hậu hoạ về sau. Trên bữa tiệc, Phạm Tăng đã mấy lần định giết Lưu Bang nhưng do Hạng Vũ thấy thái độ của Lưu Bang quá khép nép, tin rằng Lưu Bang không có ý tranh giành với mình nên không quyết. Cuối cùng, Hàng Vũ đã tha cho quân của Lưu Bang rút khỏi Hàm Dương về Bái Thượng. Người ta thường nói đây là một trong những sai lầm lớn nhất của Hạng Vũ dẫn tới thất bại thê thảm của ông sau này. Tuy nhiên, đó là một câu chuyện khác.

Sau khi quân của Lưu Bang rút lui, Hạng Vũ dẫn 40 vạn quân ồ ạt tiến vào Hàm Dương, làm cỏ toàn bộ kinh đô của nước Tần. Không hề ôn hòa như Lưu Bang, Hạng Vũ dường như muốn chứng minh sự bạo liệt của mình không hề kém gì Tần Thủy Hoàng khi xưa. Ông ra lệnh xử tử vua Tử Anh của Tần vốn đã đầu hàng, ra lệnh cho quân lính vơ vét toàn bộ vàng bạc, châu báu cũng như mỹ nữ trong cung nhà Tần, đóng xe chuẩn bị chở về Giang Đông. Tiếp đó, Hạng Vũ ra lệnh châm lửa đốt toàn bộ cung điện, lăng tẩm của nhà Tần, bao gồm cả cung A Phòng.

Sử chép, lửa cháy suốt ba tháng ròng rã mà vẫn chưa thôi. Ngoài ra, cũng có người nói rằng sở dĩ Hạng Vũ ra lệnh đốt sạch cung điện nhà Tần là vì khi đó, ông nghe tin người thiếp yêu của mình là nàng Ngu Cơ bị bắt. Trong lúc đang ở nơi chiến tuyến xa xôi lại nhận được tin dữ, Hạng Vũ đã vô cùng tức giận nên mới ra lệnh đốt sạch cung điện nhà Tần để “hạ hỏa”.

“Sử ký” của Tư Mã Thiên chép về sự kiện này như sau: “Hạng Vũ dẫn quân về phía Tây, thảm sát thành Hàm Dương, giết chết Tử Anh đã đầu hàng, đốt toàn bộ cung thất nhà Tần, lửa cháy ba tháng không tắt”. Bài “A Phòng cung phú” của Đỗ Mục cũng có đoạn chỉ đích danh người đốt cung A Phòng chính là Hạng Vũ: “Sở nhân nhất chúc, khả liên tiêu thổ” (Một mồi lửa của người nước Sở (chỉ Hạng Vũ), Cung A Phòng một thuở thành tro).

Tuy nhiên, những ghi chép từ sử sách cũng như những phát hiện mới được công bố lại chứng minh rằng, từ trước tới sau, Sở Bá Vương Hạng Vũ không hề động tới cung A Phòng chứ đừng nói là thiêu rụi tòa cung điện nguy nga, tráng lệ này.

Và nỗi oan ngàn năm của Tây Sở Bá vương

Từ trước tới nay, người Trung Quốc luôn tin tưởng một cách tuyệt đối rằng chính Hạng Vũ là thủ phạm đã thiêu rụi cung A Phòng, biến tòa cung điện này trở thành một truyền thuyết thực sự. Vì vậy, vào năm 2002, một nhóm các nhà khảo cổ Trung Quốc đã tới bờ sông Vị để tìm kiếm những dấu vết còn lại của cung A Phòng, những mong được chiêm ngưỡng một phần sự nguy nga, tráng lệ của tòa cung điện huyền thoại này. Tuy nhiên, kết quả khai quật được lại khiến các nhà khoa học té ngửa. Những dấu vết còn lại của cung A Phòng xưa không hề có dấu hiệu chứng tỏ cung A Phòng đã bị từng bị đốt cháy.

Có thể nào do thời gian đã trôi qua quá lâu, những vết tích còn lại của cung A Phòng phải chịu sự bào mòn của nắng mưa nên mới không còn những dấu vết của một trận hỏa hoạn kéo dài ba tháng hay không? Câu trả lời của các nhà khảo cổ là không. Bởi vì có một tòa cung điện cũng bị lửa đốt rụi như cung A Phòng nhưng những dấu vết mà nó để lại hoàn toàn không giống như những gì người ta nhìn thấy ở di chỉ cung A Phòng. Tòa cung điện đó chính là Trường Lạc cung.

Cung Trường Lạc được xây dựng ở thành Trường An - thủ đô nhà Tây Hán - là một trong những tòa cung điện nguy nga, hoành tráng nhất dưới thời kỳ nhà Hán, là nơi ở của mẹ Hán Vũ Đế, cháu đời thứ 7 của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Tương truyền, đây là nơi bắt đầu mối tình đầy lãng mạn và huyền thoại giữa Hán Vũ Đế Lưu Triệt và Trần Hoàng hậu – A Kiều.

Trần A Kiều là con gái của cô ruột Hán Vũ đế. Khi Vũ Đế còn nhỏ, một hôm, người cô hỏi có thích A Kiều không, cậu bé trả lời rằng nếu được lấy A Kiều thì sẽ xây nhà vàng cho nàng ở. Về sau, Vũ Đế lên ngôi, cưới A Kiều làm hoàng hậu và xây nhà vàng cho nàng ở như lời đã hứa.

Nhưng Trần Hoàng hậu hơn 10 năm không có con. Bình Dương công chúa - chị của Vũ Đế - tiến cử người con gái nhà họ Vệ sinh hoàng tử. Trần Hoàng hậu bị thất sủng, rất oán hờn nên đem 100 cân vàng nhờ Tư Mã Tương Như làm bài “Trường Môn phú” dâng Vũ Đế. Vũ Đế đọc bài phú, cảm động nên lại đưa nàng về ngôi vị hoàng hậu.

Đến cuối thời Đông Hán, cũng giống như cung A Phòng, cung Trường Lạc bị đốt trụi. Tuy nhiên, những dấu tích của trận hỏa hoạn còn để lại tới nay vẫn rất rõ. Xét về niên đại, cung A Phòng và cung Trường Lạc cách nhau không xa, vì thế nếu như cùng bị đốt cháy thì vì sao ở di chỉ cung A Phòng, người ta lại không thấy bất cứ dấu vết nào của trận hỏa hoạn. Trả lời cho sự khác biệt này chỉ có một khả năng duy nhất đủ thuyết phục: Cung A Phòng chưa từng bị đốt!

Khi các nhà khảo cổ đưa ra kết luận này đã gây ra một cuộc tranh luận rất dữ dội trong giới sử học Trung Quốc. Có người nghi ngờ rằng có thể nhóm các nhà khảo cổ nói trên đã khai quật sai địa điểm. Các nhà khảo cổ thì cho rằng họ không sai. Bởi lẽ, theo ghi chép của sử sách thì trước khi xây dựng tòa cung điện tráng lệ này, Tần Thủy Hoàng đã mời rất nhiều đạo sỹ để tìm kiếm một nơi có phong thủy đắc địa, gần thành Lạc Dương để xây dựng cung A Phòng.

Cuối cùng, các đạo sỹ đều khuyên rằng, Tần Thủy Hoàng nên xây dựng cung điện tại vị trí nằm ở giữa hai kinh thành của nhà Chu là thích hợp nhất. Vị trí mà các nhà khảo cổ khai quật nằm ở trong phạm vi này, hơn nữa cũng là địa điểm mà từ trước tới nay, các chuyên gia hàng đầu về cổ sử đều tin rằng đó chính là vị trí xây dựng cung A Phòng.

Tuy nhiên, nếu như thừa nhận rằng cung A Phòng chưa bao giờ bị cháy thì lẽ nào “Sử ký” - cuốn sử kinh điển từ hàng ngàn năm nay của Tư Mã Thiên - đã viết sai? Khả năng này là rất có thể. Bởi lẽ, trước đó, cũng có trường hợp tương tự về lịch sử giai đoạn nhà Thương. Theo ghi chép của “Sử ký” thì nhà Thương thống trị Trung Quốc cả ngàn năm, và đây là vương triều có thời gian thống trị dài nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Tuy nhiên, theo những phát hiện khảo cổ thì thời điểm nhà Thương bị diệt vong sớm hơn rất nhiều so với thời điểm mà Tư Mã Thiên ghi chép trong sử ký. Theo tính toán, khoảng thời gian chênh lệch này ít nhất là 500 năm. Vì vậy, không có gì đảm bảo rằng “Sử ký” không sai khi ghi chép về việc Hạng Vũ đốt cung A Phòng.

Thực tế, nếu như đọc kỹ “Sử ký” sẽ thấy rằng Tư Mã Thiên không hề nói rằng Hạng Vũ đã đốt cung A Phòng. Trong tác phẩm kinh điển của mình, Tư Mã Thiên chỉ nói, Hạng Vũ sau khi vào thành Hàm Dương giết chết Tử Anh, đã “đốt cung điện nhà Tần, lửa cháy ba tháng mới tắt”. Như vậy, chính những ghi chép trong “Sử ký” lại trở thành một chứng cứ minh chứng cho kết luận của các nhà khảo cổ. Bởi vì, “Sử ký” chỉ nói, Hạng Vũ vào Hàm Dương và đốt cung thất, kiến trúc của triều Tần, nghĩa là đốt các cung điện ở Hàm Dương.

Trong khi đó, cung A Phòng như đã nói được xây dựng ở bờ phía Bắc sông Vị, nằm bên ngoài thành Hàm Dương. Nói cách khác, nếu như Hạng Vũ có đốt thì chính là đốt cung điện, kiến trúc của nhà Tần ở Hàm Dương chứ không phải đốt cung A Phòng. Sau này, khi cung A Phòng đã mất, người đời sau căn cứ vào ghi chép của “Sử ký” nói rằng Hạng Vũ đốt cung điện nhà Tần nên cho rằng, cung A Phòng cũng là do Hạng Vũ đốt.

Lần giở sử sách thì người đầu tiên nói rằng cung A Phòng bị đốt cháy chính là thi nhân Đỗ Mục thời nhà Đường. Ngày nay, nhiều người tin rằng những phát hiện khảo cổ tại di chỉ cung A Phòng là không chính xác cũng bởi bài phú “A Phòng cung phú” của nhà thơ họ Đỗ. Trong bài thơ này, Đỗ Mục miêu tả rất kỹ lưỡng cung A Phòng, đồng thời kết luận, chính Hạng Vũ là người thiêu rụi tòa cung điện nguy nga này.

Tuy nhiên, Đỗ Mục là một nhà thơ, vì vậy, rất có thể ông đã hư cấu nên sự kiện cung A Phòng bị đốt để thực hiện mục đích “lấy cổ nói kim”. Việc lấy một tác phẩm văn học để làm chứng cớ lịch sử, e rằng không hợp lý.

Dù vẫn còn những tranh luận, tuy nhiên, tới năm 2004 thì giới sử học đều nhất trí cho rằng “cung A Phòng chưa từng bị đốt” và điều này cũng có nghĩa, Hạng Vũ không đốt cung A Phòng. Tuy nhiên, tới đây, có một vấn đề đặt ra là, Hạng Vũ đốt sạch cung điện ở Hàm Dương, cướp đi toàn bộ vàng bạc, châu báu của triều Tần, vậy vì sao Hạng Vũ lại bỏ qua cung A Phòng, tòa cung điện to lớn và quy mô nhất trong lịch sử nằm cách đó không xa? Kết luận của các nhà khảo cổ lại một lần nữa khiến người ta phải té ngửa khi họ cho rằng, căn bản, cung A Phòng thực tế chưa bao giờ được xây dựng!

Lý do khiến các nhà khảo cổ đưa ra kết luận nói trên là ba điểm rất “đáng nghi” khi họ khai quật di chỉ cung A Phòng. Thứ nhất là vào cuối năm 2003, người ta tìm thấy ở tường phía Bắc của cung A Phòng một lượng lớn các mảnh ngói từ thời nhà Hán. Vì sao ngói thời nhà Hán lại xuất hiện trong kiến trúc thời nhà Tần? Vậy, có phải cung A Phòng tồn tại tới thời nhà Hán, và người Hán dùng ngói này để tu sửa cung điện?

Thứ hai là, di chỉ điện trước của cung A Phòng là di chỉ cung điện lớn nhất ở Trung Quốc từ trước tới nay. Chỉ riêng diện tích phần móng của cung điện cũng đã rộng tới gần 60 ngàn mét vuông. Một tòa kiến trúc quy mô như vậy, với trình độ lao động, sản xuất thời bấy giờ, về căn bản là không có cách nào thực hiện được. Hơn nữa, từ thời Tần Thủy Hoàng cho tới Tần Nhị Thế và Tần Vương Tử Anh, toàn bộ các hoạt động của triều Tần đều diễn ra tại cung Hàm Dương hoặc Vọng Di cung. Sử sách chưa bao giờ có ghi chép bất cứ hoạt động nào của triều Tần diễn ra ở cung A Phòng. Điều này đương nhiên không thể không có lý do.

Thứ ba, căn cứ duy nhất cho sự tồn tại của cung A Phòng cho tới nay vẫn chỉ là những ghi chép bằng văn tự chứ chưa phát hiện được những chứng cớ chắc chắn. Nếu như cung điện đã được xây dựng, thì dù có bị thiêu rụi chăng nữa, cũng phải để lại một tầng dày khoảng 1m gạch và ngói vụn. Trường hợp này thấy rất rõ ở cung Hàm Dương. Tuy nhiên, ở di chỉ cung A Phòng, người ta lại không hề thấy điều đó.

Vì vậy, các nhà khảo cổ cho rằng bài phú của Đỗ Mục có thể là do nhà thơ họ Đỗ căn cứ vào những cung điện thời mình sống rồi tưởng tượng, hư cấu và miêu tả nên chứ không phải dựa trên một căn cứ xác thực nào cả. Như vậy, có thể khẳng định rằng, thực tế, cung A Phòng chưa bao giờ được xây dựng, hoặc có thể đã được bắt tay vào xây dựng nhưng chưa bao giờ hoàn thành với quy mô và sự hoành tráng như sử sách ghi chép. Và đương nhiên, cũng vì thế, cung A Phòng chưa bao giờ bị đốt như những gì người ta thường nói. Người đời sau đều gán cho Hạng Vũ tội danh “đốt cung A Phòng” có lẽ đã hàm oan cho vị Tây Sở Bá Vương lừng lẫy một thời này.

Nguồn: http://www.xaluan.com/