Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Chủ Nhật, ngày 01 tháng 2 năm 2015

Câu chuyện "Sai mà hay vẫn được" của nhà thơ Vũ Cao


Năm 1965, tôi vào học Trường Trung cao Cơ điện, sơ tán tại Tam Dương - Vĩnh Yên. Trong một đêm liên hoan văn nghệ cuối năm, một học sinh lên ngâm bài thơ ''Núi Đôi'' của nhà thơ Vũ Cao. Bài thơ ''Núi Đôi'' đã gây xúc động trong lòng lũ học sinh chúng tôi khi đó. Những ngày sau, chúng tôi chuyền tay nhau chép bài thơ đó vào sổ tay của mình một cách trân trọng. Tôi thầm ước một ngày nào đó được về thăm địa danh Núi Đôi, được gặp tác giả của bài thơ bất hủ đó.

Cái mơ ước thầm kín đó của tôi rồi cũng được thực hiện. Sau ngày giải phóng, không ngờ trường tôi lại về đóng ở Núi Đôi, thuộc huyện Sóc Sơn, Hà  Nội. Tôi  trở về thăm trường, con đường trải nhựa như một dải lụa uốn lượn dưới chân hai quả núi rợp bóng thông reo. Lần đầu tiên tôi được chiêm ngưỡng một địa danh trở nên nổi tiếng nhờ bài thơ của nhà thơ Vũ Cao "…núi chồng, núi vợ đứng song đôi". Câu chuyện về cô du kích làng Phù Linh xinh đẹp đã anh dũng hy sinh trên Núi Đôi khi cô mới 17 tuổi cứ ám ảnh tôi mãi.
Những năm tháng sau đó tôi chập chững bước vào nghiệp văn nên được thường xuyên tiếp xúc với nhà thơ Vũ Cao, nhờ ông chỉ bảo, nhưng vẫn chưa có điều kiện hỏi ông về hoàn cảnh ra đời của bài thơ ''Núi Đôi''. Mãi tới năm 1998, khi ông 75 tuổi, tôi đến thăm ông tại tư gia bên hồ Hữu Tiệp, nơi còn giam giữ một xác máy bay B52 của Mỹ bị quân và dân Thủ đô bắn rơi trong trận chiến mười hai ngày đêm của tháng 12/1972. Tuy đã về nghỉ hưu từ nhiều năm nhưng ông vẫn là Chủ tịch Hội đồng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Ở tuổi 75 nhưng xem ra ông vẫn còn rất "tráng kiện". Mọi người vẫn thấy ông túc tắc trên chiếc xe đạp cà tàng, đầu đội cái mũ lá với dáng người cao thô trông như một lão nông tri điền bán chuối. Với giọng nói oang oang, nụ cười thoải mái hồn hậu, đôi mắt tinh anh ánh lên chất hài hước, khiến ai tiếp xúc với ông cũng cảm thấy thoải mái, ấm áp chân tình.
Sau những phút trò chuyện thân mật, tôi mới dám lựa lời hỏi ông về hoàn cảnh ra đời của bài thơ ''Núi Đôi''. Ông lặng đi đôi chút trong ánh mắt tư lự, như để nhớ lại những kỷ niệm của một thời đã xa, rồi chậm rãi kể lại cho tôi nhiều chuyện về bài thơ ở Núi Đôi.
Nhà thơ Vũ cao và vợ.
Mùa đông năm 1955, Vũ Cao là phóng viên Báo Quân đội nhân dân được cơ quan cử đi theo Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 141, Sư 312 về đóng quân ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Vũ Cao ở một xóm nhỏ cách Núi Đôi khoảng 300m. Nhiệm vụ chính của Vũ Cao là viết phóng sự và bút ký về bộ đội. Phù Linh là một mảnh đất trung du nghèo, bị địch tàn phá nhiều nên phong cảnh rất tiêu điều. Người dân ở đây đang lục tục trở về nhận lại ruộng và làm lại nhà cửa. Chính tại nơi đây, Vũ Cao đã được nghe dân làng kể lại câu chuyện về cô du kích xinh đẹp, đánh giặc giỏi, đã bị bọn giặc Pháp đóng bốt trên Núi Đôi giết chết. Năm đó cô du kích trẻ mới 17 tuổi. Câu chuyện đó cứ ám ảnh Vũ Cao trong suốt thời gian đóng quân tại xã. Một buổi tối sau giờ sinh hoạt tập thể, 9 giờ tối đến giờ đi ngủ, Vũ Cao xin phép được thức để viết bài cho báo. Vì không có đèn dầu nên ông phải đổ dầu vào một cái đĩa, lấy giẻ làm bấc, khi hết lại phải nhấc bấc ra đổ thêm dầu để làm việc.
Vũ Cao chợt nhớ đến một câu thơ của Nguyễn Du "đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh", quả thật đến lúc đó Vũ Cao mới thấy hết cái hay, cái thần của Nguyễn Du qua câu thơ trên. Hình ảnh cô du kích trẻ bị giặc giết trên Núi Đôi cứ ẩn hiện trong đầu ông. Vũ Cao đã viết bài thơ ''Núi Đôi'' một lèo đến 11giờ đêm thì xong.
Về Hà Nội, Vũ Cao nộp cho tòa soạn mấy bài ký sự, còn bài thơ ''Núi Đôi'', ông để lẫn trong tập bản thảo và cũng không để ý đến nó nữa.
Năm 1957, anh em trong tòa soạn tìm thấy bài thơ ''Núi Đôi'' trong đống bản thảo của Vũ Cao và tự ý đem in trên báo. Bài thơ ''Núi Đôi'' chính thức ra mắt bạn đọc từ đó. Theo ông "Mọi tác phẩm văn học nghệ thuật là nhứng đứa con tinh thần của tác giả, đã là con mình thì mình đều yêu thương nó. Người đời có câu: "văn mình - vợ người" là thế. Không mấy người tự đánh giá chính xác được giá trị của từng đứa con do mình đẻ ra. Tôi nhớ đến nhạc sỹ Văn Cao, ông có một câu trả lời rất hay: "…tôi có nhiều con, đứa sống có, đứa chết có, đứa con này của tôi đã gần 40 tuổi, nó đã làm nên giá trị của nó, nó đã thành người. Làm sao tôi có thể phủ định nó…". Nhạc sỹ Văn Cao nói câu này trước một nhà lãnh đạo cao cấp trong một trường hợp khi người ta định thay một bài hát nổi tiếng của ông…
Sau khi bài thơ ''Núi Đôi'' ra đời, Vũ Cao nhận được rất nhiều thư khen của độc giả, đặc biệt là những người lính. Hầu như tất cả những người yêu thơ đều có bài thơ này của Vũ Cao trong sổ tay thơ của mình. Đó là phần thưởng cao nhất đối với nhà thơ. Đặc biệt có một lần, Vũ Cao nhận được một bức thư của một giáo viên dạy văn học ở Đà Nẵng dưới thời ngụy quyền Sài Gòn gửi ra cảm ơn tác giả vì "bài thơ ''Núi Đôi'' chứng tỏ cho nhân dân miền Nam thấy văn nghệ miền Bắc có tính nhân văn…".
Nhà thơ Phạm Tiến Duật trong một lần sang đất Mỹ có đem về một tập thơ, tập hợp các bài thơ viết trong sổ tay, trong ba lô của những người lính (bộ đôi Việt Nam) ở chiến trường mà họ nhặt được. Nhiều bài thơ chép tay không có tên, trong đó có bài thơ của Vũ Cao được dịch là: thơ Núi Đôi. Bản dịch tuy có nhều sai sót nhưng nó khiến cho tác giả cảm động đến ngỡ ngàng khi ông nhận được 10 USD tiền nhuận bút do Phạm Tiến Duật cầm về. Ông cười sảng khoái, ánh mắt hóm hỉnh:
- Đây có lẽ là số tiền nhuận bút có ý nghĩa nhất trong đời tôi!
Hơn 20 năm sau Vũ Cao mới có điều kiện trở lại Núi Đôi trong một lần Huyện ủy Sóc Sơn tổ chức hội nghị giáo viên dạy giỏi trong huyện mời ông về dự. Vũ Cao được đón tiếp long trọng trong không khí vui vẻ và đầm ấm. Một giáo viên nữ lên đọc bài thơ ''Núi Đôi'' của Vũ Cao khiến ông bất ngờ. Ông đã từng nghe nhiều người đọc thơ của mình nhưng chưa có ai đọc thơ hay và tình cảm như cô giáo này, mặc dù có nhiều câu sai. Sau này Vũ Cao mới biết cô giáo này chính là giáo viên tiểu học người Phù Linh.
Khi gặp cô gái, Vũ Cao bảo:
- Cô đọc thơ rất hay nhưng có năm chữ sai (mặt cô gái tái đi), tôi nói thế thì nói chứ không có ý phê bình cô đâu.
- Chú ạ! Cho đến hôm nay, cháu cũng chưa hề thấy bài thơ của chú, mặc dù cháu đã được nhiều giải thưởng về đọc thơ. Cháu học truyền khẩu.
Vũ Cao bật cười vui vẻ, nói:
- Cô cứ đọc như thế, đừng sửa. Sai mà hay là được!
Bí thư Huyện ủy Sóc Sơn chỉ cho tôi xem tấm bản đồ của huyện, trên đó có ghi tên Núi Đôi. Trước kia địa danh này không có trên bản đồ.
- Nhân dân Núi Đôi cảm ơn anh. Anh là người đã đóng đinh Núi Đôi lên bản đồ của chúng tôi.
Vũ Cao cười sảng khoái, đôi mắt ông sáng lên lấp lánh:
- Thế đấy!
Kỳ Sơn, tháng 12/2014
  • Nguyễn Tiến Dũng

Thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2015

"Ông già xóm núi" và những vần thơ "thế chấp" cho đời


Đối với tôi, cha là "tài sản" quý giá nhất trên đời; là niềm tự hào, kiêu hãnh của tôi, dù cha không phải là người giàu có, không có chức quyền...

Tôi là cô con gái đi lấy chồng không mang theo của hồi môn với đúng nghĩa đen của từ này. Ngày tôi vu quy, cha tôi (tác giả Lê Triển) không có cho tôi mảnh đất, căn nhà hay chiếc xe đời mới... như mọi cô gái thời nay; cũng chẳng lồng chiếc nhẫn nạm kim cương vào ngón tay tôi. Tôi đã bước lên xe hoa với hai bàn tay trắng mà cha mẹ sinh ra: "Hạnh đắc sơ sinh song bạch thủ" (Sơ sinh may được hai bàn tay sạch sẽ). Tôi tự hào là người con gái đi lấy chồng với trái tim mình làm của hồi môn. Và trái tim vô giá ấy - cha tôi đã cho tôi:
Ngọc tàng tâm khảm phi danh lợi
Kim tích hung trung thị nghĩa nhân.
(Cái vẫn cất tận trong tim như ngọc quý mà không phải là danh lợi
Chứa đầy đầu óc hơn vàng chỉ là nghĩa nhân).
(bài "Tứ thời xuân")
Đối với tôi, cha là "tài sản" quý giá nhất trên đời; là niềm tự hào, kiêu hãnh của tôi, dù cha không phải là người giàu có, không có chức quyền... "Dã hoa sơn thảo diệc thần tiên" (Hoa đồng, cỏ nội vẫn thần tiên - "Thụy liên khai"). Cha nói với tôi về nguyện vọng đặt tên cho tập thơ chữ Hán thứ hai của mình (tập "Thụy liên khai", NXB Văn học ấn hành năm 2003): "Thụy Liên khai ý muốn nói cái dân dã của lời thơ và con người bố vậy". Như loài hoa bình dị của ao nhà mà vẫn mang lại cho đời hương sắc, "ông già xóm núi" làm bạn với ông chài ven sông và trẻ mục đồng ấy lại chính là tác giả của hàng trăm bài thơ nguyên tác chữ Hán được dịch bằng một phong cách khoáng đạt, tài hoa chất chứa vẻ đẹp của "lòng trai mang ngọc sáng", làm nên một cảm hứng thẩm mỹ đậm chất Nho gia: cảm hứng về đạo lý - những vần thơ mang trong mình những viên thuốc chữa căn bệnh băng hoại nhân tâm. Và với những người dân xóm núi quê tôi, hình ảnh ông già tóc râu như cước ấy thực sự là hình ảnh của một ông tiên phúc hậu với phép mầu kỳ diệu trong cái "túi khôn" cổ truyền phương Đông "Lý, Số, Nho, Y thông thạo đủ" và nhất là y đức "cứu người làm trọng" đã đem lại nụ cười trên bao khuôn mặt khổ đau, đem lại sự hồi sinh cho những cuộc đời tưởng chừng như đã cạn kiệt...
Càng lớn, tôi càng ít rơi lệ dễ dàng trước cảnh ngộ của những mối tình lâm ly bi đát kiểu Romêo và Juliét hay phim Hàn Quốc, song tôi đã nhiều lần không thể ngăn được những giọt nước mắt ngậm ngùi tự nhiên rơi trên những dòng thơ của cha tôi viết về các loài hoa: sen, súng, cúc, mai, quỳnh, thiết mộc lan...:
Hoa dư bách chủng hà vi quýQuân tử lưu danh bất nhiễm nê
(Hoa hàng trăm loài hỏi hoa nào quý?
Chính là hoa sen được lưu danh muôn thuở vì không hề vấy bùn)
(bài "Liên trì")
Tài bồi lân ngã tâm như thiếtThưởng ngoạn đa nhân ý bất bìnhHốt nhất chiêu lai thiên bất phụ Vãn khai hương sắc mãn lan đình
(Chăm bón nghĩ thương mình bền gan sắt
Ngắm trông họ bảo thật tức mìnhBỗng một sớm mai... trời không nỡ phụ lòngTuy nở có muộn nhưng hương sắc vẫn ngát thơm).
(bài "Vãn thì khai").
Tôi đã khóc một mình trong đêm khuya lặng lẽ, trước những vần thơ cha tôi khóc Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Lý Bạch, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến... mà ở đâu tôi cũng thấy tâm sự và hình bóng cha mình. Âu cũng là một sự "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu"...
Có lẽ là theo những nẻo đường tiền định khác nhau mà cha tôi - một người thông minh, ham học... đã không trở thành nhà khoa học, thành giáo sư nhưng ông không phí hoài cái tài năng, tâm huyết yêu đời, yêu người ấy. Không tự thỏa mãn với kiến thức học đường, ông tự mày mò, nghiên cứu, tự nâng mình lên trong muôn vàn khó khăn của đời thường trói buộc.
Đọc thơ của cha tôi, tôi có cảm giác như bước vào một thế giới linh thiêng, cổ kính, không có thực ở cõi đời này; gặp lại những bóng dáng cổ nhân, những đấng trượng phu, quân tử từ Trung Hoa đến Việt Nam. Lại cũng thấy chính ở đây những con người, cảnh sắc mang hơi thở của thời đại, cuộc sống hôm nay với tất cả những sự kiện lịch sử, chính trị, xã hội lớn lao và những biến động li ti trong cuộc sống sinh hoạt, tâm tư, tình cảm thường ngày. Ở đó, có không khí rộn ràng của "Lục lộ chiến công", "Điện Biên" với "Điệu múa lời ca cô gái Thái" và có cả âm vang của những sự kiện quốc tế chấn động địa cầu, bóp nghẹt trái tim lão trượng - ẩn sĩ và đạo sĩ giữa đời nay: Liên Xô tan rã, tượng Lênin bị phá (Hoa viên đối tượng ngôn); nghe tin Taliban ở Afghanistan phá tượng Phật (Văn đạo hủy sơn thạch tượng cộng chư Phật tượng cảm tác).
Toát lên từ thế giới nghệ thuật thơ của cha tôi là một cái nhìn thi vị, tinh tế từ một trái tim giàu rung động và óc tưởng tượng phong phú đến lạ kỳ. Ở một nơi xa lắc xa lơ mà nghe, mà cảm thấu được:
Tiếng chuông ban mai vọng từ cửa chùa Yên TửNhư tràn vào lòng người cái từ bi tế độ Đến tận khoảng vũ trụ xanh xanh vô cùng tận Và cả chốn trần ai sắc sắc không không này.
(bài "Yên Tử chung" - Bản dịch nghĩa)
Qua hình thức biểu đạt là một ngôn ngữ giản dị chân chất mà biến hóa linh diệu, chọn lọc đến tự nhiên một cách hoàn mỹ, những chi tiết rất đời thường, rất thực bỗng trở thành lãng mạn, nên thơ trong sự đa thanh, đa nghĩa lung linh của hình tượng:
Sơ hiểu phanh trà thì đối ẩmBán tiêu túy chẩm nguyệt đồng miên
(Sớm dậy đun nước pha trà, thơ đã ngồi đối diện
Nửa đêm say gối đầu ngủ, trăng đã cùng nằm).
(bài "Nhất ngâm thuyền" - bản dịch nghĩa)
Những bài tứ tuyệt cuối cùng như kết tinh của hổ phách phục linh, hàm súc, dư ba với những hình ảnh, tứ thơ đẹp đến mức độ cổ điển: Cúc sương; Cúc vịnh, Tùng bồn, Họa trúc, Song mai, Cửu bệnh thoại quỳnh... Chẳng biết có phải là ngẫu nhiên không, mà tất cả đều là sự ký thác, hóa thân vào các loài hoa "tài tử giai nhân" của muôn đời thi sĩ, vào thiên nhiên tinh khiết bao la, mầu nhiệm:
Bạch ngọc huyền chi tạc dạ maiXuân hương phảng phất đáo thư traiĐê đầu dục học cổ nhân bái Cốt cách tương phùng... tiếu ngã khai
(Cành mai treo ngọc trắng đêm qua
Phảng phất hương xuân viện sách nhà Toan học người xưa cúi đầu lạyCười (cùng cốt cách) nở chào ta!)
(bài "Song mai" - bản dịch thơ)
Song thu đêm đã điểm cảnh baTrăng sáng màu sương, quỳnh trắng hoaỐm mãi! Lấy ai người thưởng ngoạnChờ nhau! Đến sáng... héo vì ta!
(bài "Nói với hoa quỳnh khi ốm" - bản dịch thơ)
Cũng như Phan Ngọc, Phan Văn Các, Bùi Văn Nguyên, Lại Cao Nguyện, Lê Xuân Hòa, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Khắc Phi..., cha tôi thuộc lớp người có thể coi là chứng tích về sự giao lưu văn hóa Việt - Hoa của thế kỷ XX này - lớp người có thể không chỉ viết, đọc, nói, mà còn tư duy, cảm thụ bằng chữ Hán và tư tưởng văn hiến nghìn xưa.
Ở nước ta, nền khoa cử học vấn chữ Hán đã suy thoái từ những năm cuối thế kỷ XIX, song dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục được bồi đắp những yếu tố văn hóa ngoại sinh, đặc biệt là văn hóa Trung Hoa cổ truyền ở phần tích cực, tiến bộ của nó, qua thế hệ những học giả là cầu nối giữa hai thế kỷ và hai giai đoạn văn hóa trên.
Và một ngày nào đó, không thể nào khác được, những con người tàng chứa trong mình những trầm tích văn hóa ấy cũng sẽ phôi pha theo thời gian, sẽ rơi vào quên lãng, như những di chỉ văn tự treo trên đá Lũng Cú - Hà Giang, Sapa... của ông cha mà nay không còn ai đọc được.
Sự mất mát về văn hóa là sự mất mát không gì bù đắp nổi.
Góp nhặt những vần thơ được chắt ra từ trái tim nhức nhối của cha mình, tôi biết rõ là mình đang làm đúng bổn phận của người con đối với cha, và hơn thế, là trách nhiệm của thế hệ hôm nay với thế hệ hôm qua và cả mai sau.
Với "Lệ chi thục" (NXB Văn học, 2000) và "Thụy liên khai" (NXB Văn học, 2003), có thể cha tôi sẽ không phải là một cây bút tiếng tăm trong làng văn học Việt Nam đương đại, cũng như lúc sinh thời cha tôi chưa bao giờ dạy tôi một cách cụ thể: phải sống như thế này, ứng xử thế kia... song tôi hiểu được cha tôi đã tâm nguyện điều gì, và tôi phải sống như thế nào... sau những vần thơ ấy.
Tôi hiểu rằng cha tôi đã để lại cho tôi một tài sản quý giá nhất của đời người:
"Sống trong đời sống cần có một tấm lòngĐể gió cuốn đi".
(Để gió cuốn đi - Trịnh Công Sơn)
Rồi gió sẽ cuốn đi tất cả: những âu lo, phiền muộn của đời người, cũng như chính xác thân người cùng nhiều bụi bặm trần gian. Song tôi hiểu rằng cha sẽ không bao giờ rời bỏ tôi, cha luôn ở bên tôi, trong cuộc đời này. Tôi sẽ luôn gặp người trong những vần thơ:
Nguyệt minh tửu mỹ, thi như nguyệtLưu chước trần gian lẫn hóa công"
(Trăng sáng, rượu ngon - lời thơ sáng như ánh trăng rằm
Lưu để lại cho trần gian lẫn hóa công).
Có (bài “Trung thu ngôn hoài”) thể vì trai không vĩnh hằng cùng biển cả nên trai nuôi trong mình hạt minh châu. Có thể vì hoa không nở mãi với đời nên hoa mang trong mình một chút hương.
Tôi tìm cách an ủi cho nỗi đớn đau quá sức chịu đựng con người của mình trong những lời minh triết của Trịnh Công Sơn:
"Tất cả mọi điều sẽ qua đi, sẽ biến mất, nhưng tiếng hát, câu thơ một khi đã được khai sinh với ngày thôi nôi huy hoàng của nó thì sẽ ở lại với đời mãi mãi. Đó là một cuộc rong chơi ngậm ngùi của hữu hạn muốn chộp bắt cái vô hạn làm món quà thế chấp cho đời mình"
Lê Thị Tuyết Hạnh
Bình luận (0)

Thứ Hai, ngày 26 tháng 1 năm 2015

Cây đại thụ của rừng văn


Giáo sư - Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai, một trong những người có công khai mở nền giáo dục Việt Nam hiện đại, người thầy đáng kính của nhiều thế hệ học trò. Ông còn là một nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, tác giả của vở kịch nổi tiếng "Tiếng trống Hà Hồi", tập thơ "Trao cho nhau cuộc đời" và một số công trình văn hoá, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất.

Một năm sau ngày ông mất, ngày 22/11, các trường: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Sài Gòn, Đại học Văn Hiến và Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP HCM đã đồng tổ chức một buổi tưởng niệm ông có tên gọi "Hội thảo Cuộc đời và sự nghiệp Giáo sư -Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai". Nhiều tham luận của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu văn học đã dành những từ ngữ trân trọng nhất để nói về ông. Hầu hết các tác giả tham luận đều từng là học trò của ông qua các thời kỳ. Tất cả đều xem ông như một người thầy lớn của nhiều thế hệ.
Tuổi trẻ dấn thân sôi động
Giáo sư - Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai, một trong những người có công khai mở nền giáo dục Việt Nam hiện đại, người thầy đáng kính của nhiều thế hệ học trò. Ông còn là một nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, tác giả của vở kịch nổi tiếng "Tiếng trống Hà Hồi", tập thơ "Trao cho nhau cuộc đời" và một số công trình văn hoá, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất.
Hoàng Như Mai sinh ngày 26/9/1919, quê quán ở Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, trong một gia đình quan lại. Khi Hoàng Như Mai mới vài tuổi đầu thì cha lâm bệnh mất, cậu bé phải sống trong vòng tay thương yêu của người mẹ góa bụa.
Sau khi đỗ tú tài triết Trường Bưởi, ông vào Đại học Y. Nhưng vì thích làm chính trị nên một năm sau ông bỏ trường y sang học trường luật. Học trường luật ba năm, đến kỳ thi cuối cùng, ông lại bỏ trường cùng bạn bè lên Quảng Ninh đi thực tế tìm hiểu đời sống công nhân mỏ. Bị giới chủ mỏ than nghi ngờ theo dõi, ông trở về Hà Nội xin vàoViễn Đông bác cổ và Thư viện Quốc gia đọc sách, tích luỹ kiến thức.
Quá say mê đọc sách, quên ăn quên uống, ông bị suy kiệt ngã bệnh, được gia đình đưa về đồn điền cao su của người anh ruột ở Hải Dương điều dưỡng. Hết bệnh, ông được bạn bè rủ đi dạy học ở Trường trung học tư thục tỉnh Hải Dương. Tại trường này, ông tham gia Hội Truyền bá quốc ngữ và tổ chức yêu nước Thanh niên Phan Anh. Đầu năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, trường bị giải tán, ông về Hà Nội rồi hoà vào khí thế Cách mạng Tháng Tám. Ông chuyển sang làm báo và hoạt động văn nghệ, viết sách "vỡ lòng" về kinh tế Mác-xít.
Thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, vợ chồng ông tham gia Đoàn kịch Độc Lập do Sĩ Tiến đứng đầu lên đường Nam tiến cùng với nhiều nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo để tuyên truyền chống Pháp. Theo đường tàu hoả, đến Huế đoàn kịch dừng lại biểu diễn. Lúc sắp ra mắt đồng bào cố đô, bỗng có tin "Việt gian" Đào Mộng Long bị bắt. Không có kép chính Đào Mộng Long thì đoàn kịch không thể diễn, trong khi đã quảng cáo rầm rộ, cần thu tiền vé để có kinh phí tự túc hoạt động. Đang chạy đôn chạy đáo lo công việc giao dịch, Hoàng Như Mai buộc phải về vào thử vai diễn của Đào Mộng Long, dù ông chưa một lần lên sân khấu...
Giáo sư Hoàng Như Mai.
Nghệ sĩ Đào Mộng Long bị bắt đưa vào Đà Nẵng thì được minh oan là bắt lầm, liền vội trở ra Huế ngay lúc vở kịch đang diễn. Họ Đào lấy vé lặng lẽ vào rạp ngồi bên dưới xem. Vở diễn kết thúc, Đào Mộng Long đến vỗ vai Hoàng Như Mai: "Ông đóng hơn mình đấy. Ông đô con, giọng ông lớn, sang sảng, đóng hợp hơn mình". Và họ Đào đề nghị họ Hoàng tiếp tục thủ diễn vai đó còn mình nhận vai khác. Vậy là từ một tình thế bất đắc dĩ, Hoàng Như Mai trở thành diễn viên kịch trên đường Nam tiến.
Cũng chính trên hành trình vào Nam, Hoàng Như Mai bắt đầu soạn nhiều vở kịch thấm đẫm tình yêu nước như "Sát thát", "Người tù binh",… và đặc biệt là "Tiếng trống Hà Hồi" vang lừng, mượn đề tài Quang Trung đại phá quân Thanh để kích thích lòng yêu nước của quân, dân ta. Vở kịch này đã được công diễn từ Bắc chí Nam, mà trong công trình "Miền Nam giữ vững thành đồng" của GS. Trần Văn Giàu và giáo trình "Lịch sử văn học" do GS. Huỳnh Lý biên soạn đã ghi nhận sự tác động tích cực của nó trong hai cuộc kháng chiến.
Được mượn làm… hiệu trưởng và trở thành nhà giáo dục hàng đầu
Sau khi Đoàn kịch Độc Lập trải qua Huế, Đà Nẵng, Hội An,… đến biểu diễn ở Phú Yên thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đoàn kịch chia làm hai đội ở đây một thời gian rồi vượt Trường Sơn trở ra Bắc. Hoàng Như Mai về công tác văn nghệ ở quê vợ Hưng Yên. Tại Đại hội thành lập Hội Văn hoá kháng chiến tỉnh Hưng Yên tổ chức ở đình làng Đọ, Hoàng Như Mai được bầu làm tổng thư ký (họa sĩ Lương Xuân Nhị làm hội trưởng, nhà thơ Vũ Đình Liên làm hội phó). Năm 1949, Hưng Yên bị quân Pháp chiếm. Hoàng Như Mai cùng các văn nghệ sĩ chuyển sang Thái Bình tiếp tục hoạt động văn hoá cứu quốc.
Năm 1948, Tỉnh bộ Việt Minh Thái Bình có quyết định thành lập Trường trung học chuyên khoa Phan Thanh (tên của một nhà hoạt động xã hội, giáo dục yêu nước nổi tiếng thời kỳ Mặt trận Bình dân). Trường quy tụ nhiều nhà giáo, học giả, văn nghệ sĩ có uy tín về giảng dạy như: Nguyễn Tường Phượng, Hoàng Công Khanh, Lương Ngọc Khuê, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Lê Đại Thanh, Tạ Tuyên,… Theo hồi ức của GS. Hoàng Như Mai: "Khi mở một trường trung học chuyên khoa mà các giáo sư hầu hết là các nhà văn hoá, văn nghệ có danh tiếng nên ban sáng lập muốn tìm một người làm văn hoá, văn nghệ để có thể hoà hợp được với các giáo sư; đồng thời lại là người đã có quá trình dạy học làm hiệu trưởng. Ban sáng lập đã chọn tôi, vì tôi là người có tạm đủ hai tư cách ấy, và nói với tôi rằng trong lúc đầu chưa tìm được ai thích hợp nên mượn tôi tạm chuyển từ ngành văn hoá sang ngành giáo dục một thời gian. Tôi bằng lòng và không ngờ cái sự "tạm mượn" ấy khiến tôi trở thành cán bộ giáo dục cho đến nay, suốt cả đời người".
Từ thời điểm được "tạm mượn" ấy cho tới khi GS Hoàng Như Mai mãi mãi ra đi vào ngày 27/9/2013 là 65 năm, ông trải qua nhiều môi trường giáo dục khác nhau, từ trung học lên đại học, từ Bắc chí Nam, từ trong nước đến ngoài nước. Ở đâu ông cũng cống hiến hết mình, góp phần đào tạo nên nhiều thế hệ nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo,… Ông còn là trung tâm đoàn kết các thành phần khác nhau, như nhận định của một người học trò thân thiết là GS. TS Huỳnh Như Phương: "Ngay cả khi đã về hưu, thầy vẫn là điểm tựa, là tâm điểm thu hút mọi người, vượt qua những cách biệt về nguồn đào tạo, về quan điểm học thuật, cùng ngồi lại bên nhau vì sự nghiệp ngữ văn. Khi mới vận động thành lập Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học, thầy đích thân đến mời Giáo sư Thanh Lãng tham gia ban chấp hành. Thầy giữ mối thâm tình tri kỷ với Giáo sư Giản Chi, ni sư Huỳnh Liên, nhà văn Võ Hồng, nhà báo Thượng Sỹ… Thầy quan tâm đến gia đình các nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng".
GS-TS Huỳnh Như Phương là một nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học đã từng giữ trọng trách Trưởng khoa Văn Trường Đại học tổng hợp TP Hồ Chí Minh, nơi cây đại thụ Hoàng Như Mai gắn bó với công tác giảng dạy cho đến ngày ra  đi. Trong bài viết "Đưa tiễn thầy Hoàng Như Mai" chia sẻ tại hội thảo, GS Huỳnh Như Phương khẳng định: "Thầy Mai "là người nhập thế", "những ai ở gần thầy đều luôn có cảm giác được xốc dậy về tinh thần". Ngoài công việc giảng dạy, GS Hoàng Như Mai còn sáng tác thơ, nghiên cứu văn học nghệ thuật, cho ra đời nhiều công trình có giá trị như "Trần Hữu Trang - soạn giả cải lương", "Thơ một thời", "Trí thức và nghệ sĩ", "Hồi ức và suy nghĩ về văn hóa - giáo dục", "Chân dung và tác phẩm"… Sinh thời, ông dành gần như trọn vẹn cuộc đời cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn chương. Có một thời gian dài, sau khi đã nghỉ hưu, ông vẫn đảm trách vai trò Chủ tịch Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP HCM. Sau khi Giáo sư -Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai mất, theo tâm nguyện của ông, gia đình ông đã trao tặng tủ sách với 2.200 đầu sách của ông và gói học bổng trị giá 100 triệu đồng cho Trường Đại học Văn Hiến. Còn sống hay đã khuất, tấm lòng người thầy lớn ấy vẫn đau đáu dành cho những thế hệ tương lai.
Không chỉ có nhiều đóng góp cho văn hoá, giáo dục mà GS Hoàng Như Mai còn trở thành một nhân chứng sống quý báu của lịch sử dân tộc đầy thăng trầm gần suốt một thế kỷ qua. Bức tranh chân dung về ông có thể nói cũng là hình ảnh tiêu biểu của cả một thế hệ từ những ngày đầu lập quốc, xuất thân từ nhiều hoàn cảnh khác nhau, đã hoà nhập vào dòng thác cách mạng, đem hết tài năng và tâm huyết của mình phục vụ một cách vô tư và nhiệt thành cho Tổ quốc. Thế hệ ấy đã lần lượt về cõi vĩnh hằng, mà đối với riêng ngành văn học, Hoàng Như Mai là bậc cao niên cuối cùng, như lời thơ da diết ông để lại:
Từ độ nặng mang tình đất nước
miệt mài theo đuổi cuộc trường chinh
đường ngang ngõ tắt người lên trước
tụt lại đằng sau có một mình.
  • Phan Tấn Hùng

Chủ Nhật, ngày 18 tháng 1 năm 2015

Nhà thơ Hữu Loan luận chữ làm câu đối


Ngày giáp Tết Mậu Tý 2008, nhân về quê, tôi quyết định đến thăm nhà thơ Hữu Loan. Tôi đến, ông và bà Nhu - vợ ông - rất mừng, đón tiếp nồng hậu, ân tình. Tôi nói đùa: "Bác khôn thế, toàn lấy được vợ trẻ và con nhà giàu sang". Ông chỉ cười: "Đấy là cái duyên trời định, nào có chủ tâm!".

Quả thật, hai người phụ nữ gắn bó với đời ông đều là hai cô gái trẻ đẹp, con nhà giàu có. Người vợ đầu, bà Lê Đỗ Thị Ninh kém ông 14 tuổi, yêu ông lúc chớm độ trăng tròn. Tuần Lễ Vàng được phát động năm 1945, gia đình bà có nhiều người hưởng ứng. Chính nhờ sự kiện đó mới tạo cơ duyên cho cô gái trẻ khuê các Lê Đỗ Thị Ninh diện kiến ông tú hào hoa Nguyễn Hữu Loan. Bàn tay thanh tú nâng niu chiếc xuyến vàng mấy đồng cân hiến trao cho chính quyền cách mạng buổi ấy đã lọt mắt xanh kẻ sĩ đa tình, giống như sợi tơ hồng buộc họ lại với nhau.
Cái bi tráng trong "Màu tím hoa sim" trên vai áo người chiến sĩ vệ quốc đoàn càng tăng thêm sức hút của ông trước người đời, trước phái đẹp, trở thành đường vân ngõ hạnh cho ông đến với người vợ mới sau đó mấy năm. Khi về làm vợ ông, bà Nhu mới 19 tuổi.
Hai người phụ nữ gắn với đời ông là hai số phận, hai hình ảnh tương phản. Một người  khuê các, kiêu sa, thoắt đến rồi thoắt đi, như nàng tiên trong áng mây chiều, hiện vào thi ca, trở thành chân dung của bức hoành phi nghệ thuật để đời. Nhờ "Màu tím hoa sim", người đọc biết về bà, xót thương mệnh bạc của một kiếp hồng nhan có thật. Một người thì hiện thực, mộc mạc, lâu bền, lam lũ vì chồng con, trọn nghĩa phu thê, mẫu tử. Hai người vợ, một ngoài đời, một trong thơ, tựa nhau tồn tại và giữ ông trụ vững giữa đời nhiều bão táp.
Biết ông đang vui, cũng biết ông thích câu đối, tôi đọc hai câu tặng ông.
Câu I: 
Mây ngắm Hoàn Vân, nghiêng bóng núi dặm đường chiến sĩGió đùa Ô Lỗi, rộn hương đời trang chữ thi nhân.
Cố nhà thơ Hữu Loan và tác giả bài viết.
Câu II:
Đất lạnh nghìn trùng, vẩy ngọn bút tím lòng nhân thếTrời thiêng một với, ôm mây mưa tàn cánh phù dung.
Ông nghe chăm chú và chậm rãi nói: "Về mặt bút pháp, niêm, luật, ý tứ của câu đối như vậy là được. Chỉ có điều anh ca ngợi tôi ghê quá".
Sau một vài phút hỏi thăm gia đình, ông thong thả: "Câu một thì ổn, nhưng câu hai thì chữ "tím" ở vế thứ nhất có thể nhiều người sẽ hiểu khác. Tôi biết anh dùng chữ tím là chỉ màu tím, viollette, liên quan đến màu hoa sim trong bài "Màu tím hoa sim". Nhưng đây là câu đối, nó đứng biệt lập, vì vậy sự liên tưởng đến màu của hoa sim là không nhiều.  Chữ tím ấy sẽ được hiểu là thâm tím, bầm tím, tím tái. Nghĩa nghịch của nó nhiều hơn cái nghĩa thuận xuất phát từ ý thơ: "Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết... / màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt" mà anh đang muốn dùng".
Tôi giật mình, không ngờ ông minh mẫn đến thế, nghe có một lượt mà đã phát hiện ra cái lỗi cần sửa. Tôi ngỏ ý muốn nhờ ông sửa giúp, ông im lặng. Tôi thưa: "Nên chăng thay chữ "tím" bằng chữ "thắm" có được không?". Ông trả lời: "Chữ "thắm" cũng được nhưng nhạt nghĩa, không tương xứng với mệnh đề "đất lạnh nghìn trùng" đứng  trước,  có thể chữ "thấm" hay hơn". Tôi quyết định dùng chữ "thấm" mà ông gợi ý. Bà Nhu, vợ ông ngồi bên cũng tán đồng.
Câu đối II được sửa lại là:
Đất lạnh nghìn trùng, vẩy ngọn bút thấm lòng nhân thếTrời thiêng một với, ôm mây mưa tàn cánh phù dung.
Ông đồng ý để tôi viết tay hai đôi câu đối vào trang đầu của cuốn kỷ yếu dày cộp, dễ tìm khi cần. Dù sao, đây cũng là chút kỷ niệm chữ nghĩa tôi dành tặng ông và được ông chấp nhận.
Cha tôi kể lại, khoảng đầu những năm 40 của thế kỷ trước, nhà thơ Hữu Loan đã đỗ tú tài, đang đi dạy học và hoạt động cách mạng. Một hôm, một số bạn giáo học đến nhà chơi với cha tôi và đàm đạo văn chương. Trong đó có cả cụ giáo Phan Cự Triệt, người thầy được nhiều thế hệ học trò Nga Sơn - Thanh Hóa nể phục về nhân cách và kiến thức. Cụ giáo Phan Cự Triệt chính là thân phụ của giáo sư văn học Phan Cự Đệ sau này.
Nhân bàn về vấn đề Phật giáo đang đứng trước nhiều thách thức và nhạy cảm thời đó, mấy người đàm luận về các nhân vật trong "Tây Du Ký". Trong bốn thầy trò đi Tây Trúc thì Trư Bát Giới được coi là hồn nhiên, bản năng nhất, không thiết kinh kệ, Niết Bàn gì hết, phải đi vì mắc tội hám gái, trêu chọc Hằng Nga. Bát Giới lúc nào cũng chỉ mong "giải tán đội hình" để được về nhà ngủ khì, cơm no, rượu say bên mẹ đĩ, rất đời thường. Nhưng vì thương Sa Tăng vất vả, lại sợ gậy sắt của lão Tôn hết vía nên không dám "đảo ngũ". Trong con mắt của Thiên Bồng Nguyên Soái thì sư phụ Đường Tăng chỉ là lão hòa thượng đầu trần mắt thịt, không phân biệt nổi trắng đen, phải trái, người quỷ lẫn lộn, chỉ sợ đàn bà và đọc thần chú là nhanh. Trư Nhị đệ kính nể Tôn huynh, nhưng cũng ghét lão Bật Mã Ôn bất lực, quá ngoan ngoãn qui thuận  trước các thế lực thần quyền. Thần thông quảng đại là vậy, nhưng xét chung vẫn là kẻ chiến bại.
Lấy Trư Bát Giới làm trung tâm, mỗi người đưa ra một câu đối về các nhân vật trong truyện. Cấu đối đưa ra thì nhiều. Nhưng có hai câu mà cha tôi không quên. Một câu dành cho Đường Tăng, muốn lột tả cái bản chất thụ động và luôn được chở che của Đường Tam Tạng:
Tích trượng chín vòng, lưng ngựa rung rinh nhờ bóng Phật.
Cà sa một mảnh, mắt trần hấp háy đón chân kinh.
Câu thứ hai là câu đối của Hữu Loan dành cho Tôn Ngộ Không:
Kiếp nạn tám mốt tròng, muôn trận hùng thiêng tay thiết bổngThần thông bảy hai phép, nửa đời nghiệt khuất bóng kim cô.
Mọi người ai cũng khen hay nhưng hơi sái, cho rằng câu đối cứ như vận vào cậu tú trẻ tuổi vậy.
Gần đây, tôi lại được anh Nguyễn Tử Tân (bạn học của anh trai cả tôi) đọc cho nghe câu đối của Hữu Loan khóc bà mẹ vợ đầu khi bà qui tiên cách đây hơn 60 năm:
Rể không đền, gái ngắn phận sao đền, ơn cứu ơn mang, ơn đoán giữa một tương lai nhân cách.
Sống khó gặp, chết vì sao không gặp, khóc nguồn khóc núi, khóc ai cùng đương đại loạn thiên lương.
Thống thiết đến thế là cùng. Đôi hàng chữ - hai dòng lệ - vọng âm thanh của tiếng khóc tức tưởi bị dồn nén lâu ngày, đang vật vã trước linh cữu nhạc mẫu vừa quy tiên. Đúng là một phong cách Hữu Loan, không lẫn với ai.
Trong trí nhớ của tôi, đó là một chiều cuối năm rét cắt thịt, thấu xương. Ông ngồi trên chiếc ghế tựa, đôi mắt mở to, sáng quắc tựa pha lê, mái đầu trắng như bông. Trước mặt là Vân Hoàn Sơn bốn mùa mây trắng, đang ngập chìm trong màn sương phủ trước cánh cửa vào xuân. 
Nhìn ông, nhìn núi, tôi liên tưởng đến các bậc hàn sĩ cổ xưa ẩn mình nơi thâm sơn cùng cốc với dáng Long ngoạ - Phượng sồ kỳ thú, truyền tụng bao đời.
Không ngờ đây là lần gặp cuối cùng
  • Trần Cao Sơn

Thứ Ba, ngày 13 tháng 1 năm 2015

Bí ẩn về kho báu Vua Hàm Nghi


Đối với những người tò mò hiếu kỳ chuyện giật gân; đối với báo giới, nguồn cung cấp chuyện giật gân vô tận cho những người tò mò, thông tin về cái chết bi thảm của ông Nguyễn Hồng Công được phát hiện hôm 6/10 vừa qua, dường như đã đặt dấu chấm hết cho huyền thoại kho báu Vua Hàm Nghi. Kho báu huy hoàng dường như không hề tồn tại ở bầt kỳ nơi nào. Có chăng, nó chỉ "hóa thạch" trong trí tưởng tượng và sự khao khát.

Nhưng xâu chuỗi tư liệu lịch sử và cứ liệu thực tế từng xảy ra trong hàng chục năm qua, chúng tôi cho rằng sự thật không hẳn đáng phải kết thúc bi thảm và cực đoan như cuộc kiếm tìm của người xấu số. Trong hành trình bôn tẩu của Vua Hàm Nghi và phong trào Cần Vương quả thật đã có một lượng châu báu, tài sản khổng lồ được mang theo.
Nhiều văn bản lịch sử của triều Nguyễn đã nhắc đến và khẳng định điều đó. Thỉnh thoảng một vài dấu tích vật chất liên quan đến kho báu lại có dịp phát lộ ở một số địa phương thuộc 3 tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình và Hà Tĩnh, những nơi Vua Hàm Nghi và đạo quân Cần Vương từng có thời gian lưu lại.
Dấu tích thư tịch…
Sau Hòa ước Giáp Tuất 1874, trước sự uy hiếp liên tục và ngày càng gia tăng của thực dân Pháp, Vua Tự Đức đã chuẩn y cho xây dựng một loạt các căn cứ Sơn phòng ở hầu khắp các tỉnh miền Trung. Mục đích ban đầu là để phòng ngừa sự quấy nhiễu của "người Man" (người dân tộc thiểu số) từ Tây Nguyên tràn xuống.
Nói cách khác, Sơn phòng không gì khác hơn là một loại thành lũy quy mô vừa phải, có quân đồn trú, làm nhiệm vụ như biên phòng ngày nay ở khu vực sơn cước phía tây đất nước. Nhưng mục đích sâu xa, nhà Nguyễn muốn chuẩn bị trước một loạt căn cứ hậu lộ nhằm có nơi rút lui và tổ chức kháng chiến lâu dài, nếu Kinh thành Huế bị Pháp tấn công không thể giữ được. Trong số đó, sách “Đại Nam thực lục chính biên” cho biết, theo chỉ dụ của Tự Đức, vùng Cùa, Cam Lộ, Quảng Trị được chọn làm đất lập Nha Kinh lý Sơn phòng Quảng Trị, tiền thân của thành Tân Sở sau này. Nhân lực xây dựng lấy từ số phạm nhân đã được phân loại.
Tháng 7/1883, Vua Tự Đức băng hà. Một tháng sau, Pháp đã đưa tàu chiến chiếm cứ cửa biển Thuận An, từ đó kéo quân xộc thẳng về Kinh đô và đồn trú ngay trên đất Huế. Tướng lĩnh Pháp ngang nhiên ra vào hoàng thành, ngang nhiên nhúng tay can thiệp vào việc triều chính của đất nước. Quốc gia bên bờ suy vong, triều đình Huế phân hóa nghiêm trọng.
Trong ba "cố mệnh đại thần" được di chiếu của Tự Đức giao trọng trách Phụ chánh đại thần thì Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường là chủ soái của phe chủ chiến, trong khi Trần Tiễn Thành cầm đầu phái chủ hòa. Tôn Thất Thuyết và phe chủ chiến đã thẳng tay loại trừ bất kỳ ai, kể cả vua, nếu dám chống lại hoặc cản trở chủ trương chống Pháp. Trong vòng một năm, 3 tân vương Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc đã lần lượt bị truất ngôi và bị giết chết theo lệnh của Tường, Thuyết.
Việc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến càng trở nên gấp rút. "Quốc triều chính biên toát yếu" chép, cuối năm 1883, dưới triều Vua Kiến Phúc, Cơ mật Viện nhà Nguyễn đã cho "dời Nha Sơn phòng Quảng Trị tới làng Bảng Sơn (nay là xã Cam Nghĩa), lỵ sở phủ Cam Lộ cũng dời về trong Sơn phòng". Tổng chỉ huy xây dựng Sơn phòng Tân Sở được chính cố mệnh đại thần Nguyễn Văn Tường đảm trách, có sự phụ tá đôn đốc của một loạt trọng thần như Phò mã Đặng Huy Cát, Tham biện Tôn Thất Lệ, Phó sứ Sơn phòng Nguyễn Tuy...
Mặt trên và mặt dưới của Ấn Quốc gia tín bảo bằng vàng, đúc năm Gia Long, cao 9,50 cm, cạnh 10,70 x 10,70 cm, dày 1,65 cm - một báu vật triều Nguyễn.
Cả hai cuốn "Đại Nam thực lục chính biên" và "Quốc triều chính biên toát yếu"  đều  có những ghi nhận thống nhất: Đầu năm 1885, về cơ bản, các công trình phòng ngự quân sự đã xem như hoàn tất. Thành Tân Sở dài 548m, rộng 418m, tổng diện tích khoảng 23 hécta bao quanh bởi một vòng hào khá sâu, rộng 10m. Triều đình cho dựng thành, trồng tre, đào hào làm chiến lũy, đồng thời cho chở lương thực từ các tỉnh Hà - Nam - Ninh của đồng bằng Bắc Bộ theo đường biển vào Cửa Việt  rồi đưa lên Tân Sở.
Từ kinh đô, rất nhiều vàng bạc, khí giới cũng được đốc thúc đưa ra chôn giấu tại đây. Riêng vũ khí, số lượng chuyển đi rất lớn, mất ròng rã 3 tháng mới hoàn tất. Theo dự định của Tôn Thất Thuyết, 1 triệu lượng (khoảng 33 tấn) vàng ròng, bạc nén sẽ được chuyển từ kho Phủ Nội vụ trong Kinh thành Huế lên Tân Sở. Nhưng mới chuyển được 1/3, khoảng 11 tấn thì giao tranh với Pháp đã nổ ra tại kinh thành nên phải tạm ngừng.
Đêm mùng 5, rạng sáng ngày 6/7/1885, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đem quân tấn công trại lính Pháp ở đồn Mang Cá. Sau một ngày giao tranh, quân nhà Nguyễn thất bại. Ngày 9/7, Tôn Thất Thuyết đã hộ giá (thực chất là bắt ép) Vua Hàm Nghi - mới lên ngôi chưa đầy 1 năm - rời Hoàng thành vượt lên Tân Sở. Pháp một mặt cho quân bộ đuổi theo, một mặt cho thủy quân kéo tàu ra biển Nhật Lệ (Quảng Bình) chặn đường.
Tôn Thất thuyết tự lượng thành Tân Sở không đủ sức chống đỡ nên vội phò giá Hàm Nghi vượt lên phía thượng ngàn Đắkrông - Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị,  từ đó vượt sang Châu mường Mahasay của Lào. Khi Phan Đình Phùng hưởng ứng chiếu Cần Vương khởi nghĩa, lập xong căn cứ Vụ Quang, Vua Hàm Nghi lại vượt biên giới về đóng tại căn cứ núi Ấu (Hương Khê, Hà Tĩnh). Thực dân Pháp đã xua đám tay sai do Tổng đốc Hoàng Cao Khải chỉ huy đuổi riết. Đoàn tùy tùng lại tiếp tục hộ giá Vua Hàm Nghi vượt đèo Quy Hợp vào đất Tuyên Hóa, Quảng Bình. Có thời gian, đoàn ngự giá hạ trại tại chân núi Mã Cú, nay thuộc địa phận xã Hóa Sơn, Minh Hóa, Quảng Bình - chính là nơi sau này Nguyễn Hồng Công đào tìm kho báu.
Mặt trên và mặt dưới của ấn Hoàng đế chi tỷ, chạm bằng bạch ngọc, đời Minh Mạng.
Rời kinh thành, ngoài châu báu tùy thân, Vua Hàm Nghi còn mang theo kim ấn "Ngự tiền chi bảo" - bảo vật truyền ngôi của nhà Nguyễn. Trước lúc rời Tân Sở, ngày 13/7/1885, Vua Hàm Nghi đã tự tay đóng ấn "Ngự tiền chi bảo" lên những tờ Hịch Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và dân chúng mọi miền đứng lên chống Pháp.--PageBreak--
Thời gian Vua Hàm Nghi và đoàn tùy tùng lưu lại Tân Sở rất ngắn, chỉ chừng 4 hoặc 5 ngày. Ngay sau đó, Pháp đã chiếm Sơn phòng Tân Sở và san phẳng nơi này. Với thời gian gấp gáp như vậy, lại liên tục trong tình trạng bị truy đuổi ráo riết một thời gian dài, gần như chắc chắn Vua Hàm Nghi và đoàn hộ giá không thể mang theo hết số bạc vàng châu báu, tiền bạc đã tập kết về Tân Sở từ đầu năm 1885. Ngoài một phần bị quân Pháp cướp lại, số mang theo được chắc chắn sẽ phải chia nhỏ, chôn giấu lại từng phần ở nhiều nơi dọc đường bôn tẩu.
Ngày 26/9/1888, tại khe Tá Bào, Tuyên Hóa, Quảng Bình, tên phản bội Trương Quang Ngọc đã dẫn binh giết sạch đoàn hộ giá, bắt Vua Hàm Nghi dâng cho giặc. Trương Quang Ngọc, rồi thực dân Pháp đã lục xét đào xới khắp bốn chung quanh nơi vua hạ trại hòng tìm cướp báu vật mang theo, nhưng chỉ uổng công. Không ngọc tỉ, kim ấn, không bạc nén, vàng thoi, trong người đức vua chỉ còn lại một ít bạc lẻ và vài ba tấm bản đồ đánh dấu một số kho báu được chôn lại ở nhiều nơi.  Kẻ ngoài cuộc có cầm bản đồ trên tay cũng không tài nào xác định nổi vị trí của những tấm bản đồ vẽ sơ sài ấy... Trong khi đó, Vua Hàm Nghi thì trước sau không chịu nói thêm lấy nửa câu.
Phải chăng tấm bản đồ mà ông Nguyễn Hồng Công từng tuyên bố sở hữu là một trong số những bản đồ kho báu đã thất lạc từ gần trăm năm trước? Câu trả lời vẫn là một bí ẩn lịch sử.
…và những lát cắt thời gian
Đầu những năm 1980, đồng bào dân tộc Vân Kiều ở gần cầu Đắkrông, Quảng Trị (cạnh Nghĩa trang Trường Sơn hiện nay), trong khi đi bắt cá khe đã tình cờ phát hiện trong một hốc cây lớn chìm dưới suối cả một kho tàng gồm toàn tiền cổ bằng vàng ròng và những thoi vàng nặng 1 lượng.
Một đoàn khảo sát của Bảo tàng Trung ương cũng tình cờ phát hiện được tại bản Sê Bu, xã Hướng Phùng, Hướng Hóa, Quảng Trị một chiếc áo dài màu đen, lót lụa đỏ, thêu kim tuyến và hình rồng 5 móng được cho là áo bào của Vua Hàm Nghi. Thời nhà Nguyễn, chỉ có vua mới được thêu rồng 5 móng. Một số tài liệu trước đó từng ghi nhận, trước khi chia tay để thoát sang Châu mường Mahasay (tỉnh Khăm Muộn, Lào), Vua Hàm Nghi đã cởi áo bào tặng cho một người Vân Kiều tên là Ku Xin, vì đã có công giúp đỡ đoàn hộ giá.
Một phần trong số các báu vật của vua Hàm Nghi được cất giữ tại xã Phú Gia, Hương Khê, Hà Tĩnh.
Tại thôn 5, xã Hải Phúc (huyện Đắkrông), Bảo tàng tỉnh Quảng Trị cũng phát hiện được trong một gia đình Vân Kiều có chiếc mâm đồng cổ rất lớn chạm 2 con rồng 5 móng và 5 chữ Hán: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh.
Ở Quảng Bình, ông Thái Xuân Bạ, nguyên Phó chánh án Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa cho biết, khoảng những năm 50, bố ông tham gia dân quân xã, từng được huy động đi thu gom "vàng Vua Hàm Nghi" do dân xã Trung Hóa phát hiện. Tổng cộng có 3 nong phơi lúa tiền chữ "Đại" bằng vàng ròng, mỗi đồng nặng 12 chỉ được gom về sân nhà ông Bạ trước khi đem giao nộp cho chính quyền. Ông Bạ và một số trẻ con hàng xóm đã "nhón" đi mỗi người khoảng 10 đồng để dành... đánh đáo.
Tại thôn Đặng Hóa, Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, năm 1956, sau trận lụt lớn, người dân trong xã  đã phát hiện và vớt được  vô số tiền vàng từ một hốc đá trôi ra suối, thu được hàng tạ, đem nộp lại toàn bộ cho Nhà nước.
Gần hơn, giữa tháng 4/2003, một đám trẻ chăn trâu đã tình cờ phát hiện được tại hang Lèn, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình một chiếc tráp gỗ, bên ngoài khắc chữ Hán và hoa văn nhũ vàng rất đẹp. Đưa xuống núi, chiếc tráp đã tự động mục rã ra. Bên trong tráp có một quả cau bằng kim loại màu đen, hai lư hương bằng đồng và 2 chìa khóa kiểu cổ. Một thanh niên trong làng đã lừa đám trẻ lấy mất quả cau màu đen (nghi chế tác bằng đồng đen). Hai lư hương và hai chiếc chìa khóa, Sở Văn hóa Thông tin đã kịp thời thu giữ để giám định.
Gần 1 năm sau, ngày 30/12/2003, trong khi đào đất trên ruộng, người dân Văn Hóa đã bất ngờ đào được hàng chục chum vại đựng đầy tiền cổ triều Nguyễn được chôn cách mặt đất chỉ chừng 0,6m. Suốt buổi chiều và đêm hôm đó, toàn bộ số tiền cổ này đã được thương lái đến mua và đem đi mất, trước khi chính quyền địa phương phát hiện và ngăn chặn. Thông tin chi tiết về vụ việc, chúng tôi đã có dịp đề cập đầy đủ trong bài báo "Quảng Bình: Hàng tấn tiền cổ được phát hiện và… biến mất" (tác giả Hồng Lam - Tâm Phùng) đăng trên Chuyên đề ANTG phát hành ngày 3/1/2004.
Đầu năm 2009, UBND huyện Tuyên Hóa,  Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Quảng Bình cũng đã tiếp nhận 3 đồng tiền vàng của bà Nguyễn Thị Liên, trú tại thôn Tân Sơn, xã Sơn Hóa, Tuyên Hóa. Con dâu bà Liên đã phát hiện 3 đồng tiền cổ này tại khe nước Trọt Su trong xã. Những đồng tiền này đều đúc bằng vàng 999,9%, mỗi đồng nặng 5 chỉ vàng. Có 2 đồng đường kính 2,8cm, đồng còn lại đường kính 2,4 cm. Khác kích thước nhưng giống nhau về cách trang trí, một mặt có họa tiết mặt trời, mặt kia có 4 chữ "Hàm Nghi thông bảo". Rất có thể, đây là những đồng tiền được đúc dập sau khi Vua Hàm Nghi đã trên đường bôn tẩu.
Một chứng cứ xác đáng được nhiều người biết nữa xuất hiện vào giáp tết Nguyên đán năm 2007. Nhà báo Văn Cầm Hải và nhóm làm phim thời sự của VTV1 khu vực Thừa Thiên - Huế  đã phát hiện và quay được  tại xã Phú Gia, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh, một loạt những di vật của Vua Hàm Nghi. Kho báu gồm một cặp kiếm, 6 hoàng bào, một cặp voi vàng, cau, trâu vàng... vẫn được gìn giữ nguyên vẹn trong một miếu thờ có 3 chìa khóa, do 3 người cất giữ. Miếu cất giữ những báu vật này nằm cách căn cứ Sơn phòng xưa chỉ chưa đầy 2km.
Rõ ràng, kho báu Vua Hàm Nghi là một hiện thực lịch sử, không chỉ là huyền thoại. Những phần kho báu đó chôn giấu những đâu, chôn giấu như thế nào là một bí ẩn lớn của lịch sử, chưa ai tìm ra lời đáp. Nhưng chắc chắn nó không phải là câu chuyện hoang đường
  • Nguyễn Hồng Lam

Thứ Hai, ngày 12 tháng 1 năm 2015

Chùa Thiên Mụ đẹp nhất xứ đàng trong

SỰ KIỆN TIÊU ĐIỂM
Là một ngôi chùa gắn liền với những di tích và danh lam thắng cảnh của cố đô Huế, chùa Thiên Mụ nổi tiếng và thu hút du khách bốn phương không chỉ bởi những câu chuyện huyền thoại kỳ bí, mà còn một vẻ đẹp cổ kính thâm nghiêm, cộng với sự bình yên thơ mộng..
chua Thien Mu
Nằm ở tả ngạn sông Hương, trên ngọn đồi Hà Khê thơ mộng, cây xanh phủ dày, gió mát rượi bốn mùa, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về hướng Tây, chùa Thiên Mụ nằm giữa một không gian non nước hữu tình, đã từng là nguồn cảm hứng của bao tác phẩm thi ca nhạc họa.
chua Thien Mu
 Chùa Thiên Mụ nhìn từ sông Hương, thật là một bức tranh thanh bình, thơ mộng.
chua Thien Mu

Từ trên chùa Thiên Mụ, có thể nhìn xuống dòng sông Hương đang lặng lờ trôi. 
Được chính thức khởi lập vào năm Tân Sửu, tức 1601, vào thời Chúa Tiên (Chúa Nguyễn Hoàng), vị chúa đầu tiên của xứ Đàng Trong, chùa Thiên Mụ trải qua nhiều lần trùng tu, nhiều biến cố, chịu thiên tai đổ nát rồi lại được xây dựng lại, mở rộng thêm, cho đến nay vẫn sừng sững nét oai nghiêm, và mang nét đẹp bền vững với thời gian.
Từ bến sông Hương nhìn lên chùa, sẽ thấy ngay Tháp Phước Duyên đứng ngay giữa sân, trước cổng chùa, oai nghiêm cao vút vươn lên trời. Tháp được vua Thiệu Trị cho xây dựng vào năm 1844, hình bát giác cao 21 mét bao gồm 7 tầng, mỗi tầng đều có những tượng Phật đặt bên trong.
chua Thien Mu
Tháp Phước Duyên nhìn từ bên ngoài giữa trời xanh nắng vàng. 
Qua khỏi Tháp Phước Duyên là Điện Đại Hùng, ngôi điện chính trong chùa, một công trình kiến trúc được bảo tồn khá nguyên vẹn dù trải qua nhiều biến cố của thời cuộc. Vẻ đẹp của điện Đại Hùng vừa cổ kính thâm nghiêm, vừa nguy nga đồ sộ. Xung quanh chùa là khuôn viên với vườn hoa cỏ tươi tốt, xanh xanh, được chăm sóc hàng ngày.
chua Thien Mu
Điện Đại Hùng cổ kính, thâm nghiêm và nguy nga, đồ sộ. 
Từ sân chùa nhìn xuống là dòng sông Hương lững lờ trôi nhẹ nhàng giữa vùng trời nước mênh mông thăm thẳm. Những chiếc thuyền neo đậu hiền hòa dưới bến, chờ đợi những người khách đang viếng thăm chùa. Những hàng thông ba lá của xứ ôn đới kỳ lạ lại luôn tỏa một màu xanh tươi mát ở đây, xõa bóng xuống che các khoảng sân chùa mát rượi. Đến viếng chùa là quên hết mệt nhọc, nóng bức hay đường xa.. Đến đây, chỉ còn sự thanh bình, thư thái, mát dịu trong tâm hồn.
chua Thien Mu
 
Xung quanh chùa là phong cảnh nên thơ
chua Thien Mu
Nhiều bức tượng, hình ảnh chạm trổ, tạc trên những bức tường khéo léo
chua Thien Mu

Trên những mái chùa là những chi tiết chạm trổ rất nghệ thuật, điêu luyện.
Ngoài vẻ đẹp về kiến trúc, lịch sử hiếm có, chùa Thiên Mụ còn là nơi lưu giữ nhiều cổ vật quý giá, những bức hoành phi, những câu đối cổ, những bức tượng cổ quý hiếm, nhiều bia đá chuông đồng, vừa quý giá về lịch sử, vừa giá trị về nghệ thuật.
chua Thien Mu

Một chiếc thuyền neo đậu trên bến sông, đưa khách vào viếng cảnh chùa.

Tất cả đã tăng thêm sự cuốn hút của ngôi chùa cổ nhất, đẹp nhất xứ Huế. Nơi đây đã được xếp vào bảng danh sách 20 thắng cảnh tuyệt vời nhất đất Thần Kinh, nơi bạn nhất định phải ghé qua thì về thăm cố đô Huế một ngày nào đó

Kinh nghiệm du lịch Huế và thăm chùa Thiên Mụ:  
- Thời tiết dễ chịu nhất để đến Huế là vào tháng 1 đến tháng 2. Tuy vậy, có rất nhiều người chọn tháng 5, tháng 6 để đến Huế dù trời mưa nhiều và thời tiết nóng, nhưng là mùa hoa phượng nở đỏ rực, rất hợp với phong cảnh ở Huế. Đặc biệt là khi đến thăm chùa Thiên Mụ vào mùa Hè, bạn sẽ thấy những tán phượng nở đỏ rực buông xuống trước cổng chùa, một cảnh sắc rất đẹp.
- Từ Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đều có nhiều chuyến bay đến Huế khởi hành hàng ngày. Nếu đã có kế hoạch du lịch Huế thì nên đặt vé sớm để có vé giá rẻ. Ngoài ra bạn cũng có thể đến Huế bằng xe khách giường nằm hoặc bằng tàu Thống Nhất. Giá vé tàu từ 400.000đ đến hơn 1 triệu tùy vào ghế ngồi cứng hay giường nằm và có máy lạnh.
- Từ Huế muốn đi chùa Thiên Mụ bạn có thể đi bằng thuyền, mua vé tại bến sông Hương ngay trung tâm thành phố, hoặc đi xe ôm, hoặc thuê xe máy tự đi. Giá thuê xe máy từ 120.000 – 200.000 tùy theo thỏa thuận và tùy loại xe. Bạn hỏi thuê xe tại khách sạn.
- Gần chùa Thiên Mụ là Điện Hòn Chén và Lăng Minh Mạng, bạn có thể mua vé đi luôn các điểm trên kết hợp với chùa Thiên Mụ để tiết kiệm thời gian.
  • Bài và ảnh: Huỳnh Thu Dung

Thứ Năm, ngày 08 tháng 1 năm 2015

22 bài học cuộc đời đáng suy ngẫm từ ông cụ 99 tuổi

Cuộc đời của cụ ông Andy Anderson ly kỳ như trên phim. Cụ gặp người vợ của mình vào thứ 7 rồi cả hai đi đến quyết định cưới nhau đúng 1 tuần sau đó.
Họ gắn bó với nhau hạnh phúc cho tới khi người con gái trút hơi thở cuối cùng 67 năm sau. Trong khoảng thời gian 67 năm ấy, hai cụ kịp có với nhau 2 người con, nhận nuôi thêm một người con trai và từng đoạt nhiều giải thưởng về thể thao ở hạt.
cuộc đời, bài học
Tình yêu không bao giờ dễ dàng. Bạn cần phấn đấu để có được và duy trì nó.
Không học đại học nhưng cụ ông Andy vẫn rất thành đạt trong sự nghiệp. Cụ là giám đốc điều hành mảng bơ sữa của Safeway phân phối đi toàn quốc. Biệt danh của cụ là Ngài Pho mát, còn trong gia đình, cụ được cả nhà yêu quý gọi là "ông nội Pho-mát".
Một con người như vậy hiển nhiên có nhiều bài học quý giá để chia sẻ với bạn sau 99 năm sống trên cuộc đời này.
1. Luôn hài hước.
2. Sẵn sàng khởi sự từ đáy cùng
3. Tập thể dục mỗi ngày, kể cả khi không thích chút nào.
4. Đừng chi nhiều hơn thu.
5. Uống nước cam vắt mỗi ngày
6. Tình yêu sét đánh không phải là truyền thuyết vô căn cứ
7. Có công việc tồi vẫn còn tốt chán so với việc chẳng có gì mà làm.
8. Ăn hết sạch những gì có trên đĩa, không bỏ thừa thức ăn.
9. Gia đình là điều quý giá nhất trong đời.
10. Cuộc đời rất mong manh. Nếu bạn thờ ơ với chính mình, bạn sẽ hỏng bét. Đó chính là những gì mà pho mát đã dạy cho ta.
11. Đừng sợ khi là chính mình.
12. Mọi người mua quá nhiều quần áo. Chỉ mặc những gì bạn có và đừng mua sắm nữa.
13. Phải biết tha thứ, dù cho việc đó rất khó.
14. Tiết kiệm tiền để khi cần thì có cái mà dùng.
15. Tình yêu không bao giờ dễ dàng, đôi khi bạn cũng phải lao lực để duy trì và có được nó.
16. Hãy tìm ra khía cạnh khôi hài trong mọi tình huống.
17. Nếu đang phải đối mặt với rắc rối, đừng trì hoãn. Hãy cố tìm cách giải quyết nó. Nhưng nếu vô phương cứu chữa, bạn sẽ phải học cách quên rắc rối đó đi.
18. Hãy đảm bảo rằng bạn đang làm những gì mà mình yêu thích. Đừng sợ đi theo giấc mơ của chính mình.
19. Giáo dục là quan trọng, nhưng không nhất thiết phải theo đuổi. Bản thân trường đời cũng đủ để dạy bạn rồi.
20. Khám phá thế giới riêng của mình và hãy luôn sống tò mò.
21. Hãy nghĩ đến những câu trả lời hợp lý nhất trong mọi tình huống. Nếu như không biết đặt mình vào vị trí người khác, bạn sẽ là một kẻ tồi tệ.
22. Cuộc sống là món quà mà bạn bắt buộc phải tự tháo vỏ để tìm hiểu. Cũng không ai khác ngoài bạn có thể quyết định được thứ bên trong sẽ mang đến hạnh phúc hay xui xẻo.
  • Theo VietnamNet

Thứ Ba, ngày 06 tháng 1 năm 2015

Độc nhất vô nhị: Những bức tranh được vẽ từ... khói bếp


Chỉ với viên đá mài, kim khâu, dao cạo, "người nông dân" ấy đã tạo nên những bức tranh khói vô cùng lạ và khiến nhiều người thán phục

Tranh vẽ từ khói bếp của họa sĩ Vũ Quốc Sự (SN 1959, ngụ tại phường Xuân An, thị xã Long Khánh, Đồng Nai) không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn có tiếng cả ở nước ngoài.
Báo giới trong nước gọi ông sự là họa sĩ nông dân bởi ông không hề được học qua trường lớp mỹ thuật nào.
Ông chia sẻ trên tờ Người Đưa Tin: "Trong một lần tháo dỡ mái nhà bếp làm bằng tre nứa, tôi thấy những cây tre ở mái bếp bị khói bếp bám đen kịt.
Khi bị va chạm, cọ sát trên thân những cây tre này xuất hiện nhiều hình thù độc đáo. Nhìn những hình thù ấy, tôi lại nhớ ngày còn nhỏ vẫn thấy các cụ ông hút thuốc lào bằng ống điếu làm từ cây tre gác mái bếp.
Những ống điếu đó thường có khắc hình con rồng, có mây, có lửa..., bất chợt tôi nghĩ đến việc vẽ tranh trên tre đã được hun khói".
Sau đó, ông chọn những cây tre già, thẳng đem chẻ và kết thành từng tấm rồi đem đi hun khói ở gác bếp.
Khoảng 2 cho đến 3 tháng thì số tre đã đủ lượng khói để vẽ tranh.
"Ông Sự đã dùng một cây kim nhọn, một lưỡi đá nhỏ, một viên đá mài để tạo nên những bức tranh khói bếp độc đáo"- tờ Lao Động viết.
Theo tờ Dân Việt, tranh khói bếp của ông Sự được giới chơi tranh nghệ thuật trong và ngoài nước ưa chuộng, có giá từ 20 đến gần 80 triệu đồng cho mỗi bức.
Dưới đây là một số bức tranh khói của người họa sĩ nông dân này:
Vị họa sĩ này đang vẽ bức chân dung bằng chất liệu khói bếp trên khung tre. (Ảnh: Dân Việt)
Vị họa sĩ này đang vẽ bức chân dung bằng chất liệu khói bếp trên khung tre. (Ảnh: Dân Việt)
Tháp Eiffel của Pháp. (Ảnh: Tri Thức)
Tháp Eiffel của Pháp. (Ảnh: Tri Thức)
(Ảnh: Baodulich.net.vn)
(Ảnh: Baodulich.net.vn)
(Ảnh: Báo Đồng Nai)
(Ảnh: Báo Đồng Nai)
Nông dân Vũ Quốc Sự bên bức họa chân dung minh tinh màn bạc Marilyn Monroe (ảnh trái) bằng khói trên chất liệu mica. (Ảnh: Dòng Đời)
Nông dân Vũ Quốc Sự bên bức họa chân dung minh tinh màn bạc Marilyn Monroe bằng khói trên chất liệu mica hun khói. (Ảnh: Dòng Đời)
Ông Sự phải đặt khuôn tranh bằng tre, nứa lên bếp và hun khói liên tục. (Ảnh: Lao Động)
Ông Sự phải đặt khuôn tranh bằng tre, nứa lên bếp và hun khói liên tục. (Ảnh: Lao Động)
Căn bếp hun khói tre trước khi vẽ tranh. (Ảnh: Tri Thức)
Căn bếp hun khói tre trước khi vẽ tranh. (Ảnh: Tri Thức)
(Ảnh: Người Đưa Tin)
Bức tranh “Nụ cười bí hiểm của nàng Mona Lisa” từng được ông Sự bán cho một khách với giá 80 triệu đồng. (Ảnh: Dòng Đời)
(Tổng hợp)

Thứ Hai, ngày 05 tháng 1 năm 2015

Người đi ra từ thung lũng cô đơn của văn học


Nhắc đến tên tuổi Lại Văn Long, giới cầm bút và người yêu văn chương nhớ đến truyện ngắn "Kẻ sát nhân lương thiện" đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn 1990-1991 của tuần báo Văn nghệ.  Sau đó, anh đi làm báo và lặng lẽ viết văn rồi ra mắt tập truyện ngắn và tiểu thuyết "Thạch Đế". Trong hơn 20 năm làm báo, nhà báo Lại Văn Long đã đoạt nhiều giải thưởng danh giá.

Một thế giới ẩn dụ ám ảnh
Nhà báo, nhà văn Lại Văn Long sinh năm 1964, công tác tại Báo Công an TP HCM. Tôi biết anh khi mới chập chững bước vào nghề báo và rụt rè đến gửi bài cộng tác với anh. Lúc đó, tôi chưa biết anh có những thành công đáng nể trong nghề báo lẫn nghề văn như thế. Chỉ thấy anh hiền, nhiệt thành với một cộng tác viên non trẻ vụng về như tôi mà lòng cảm phục. Sau này, khi có thời gian quen anh lâu hơn, tôi mới tìm đọc về anh và biết về anh nhiều hơn. Tiếp cận với tập truyện "Thủy cơ", tiểu thuyết "Thạch đế" và một số truyện ngắn của anh được đăng trên mạng, tôi hình dung ra anh là một người đi ra từ thung lũng cô đơn của văn học. Sáng tác của anh luôn hàm chứa tính ẩn dụ, tư tưởng triết luận nhân sinh có tính biểu trưng và khái quát cao, gây ám ảnh cho người đọc.
Trong truyện của anh, những nhân vật luận đề đều mang một thân phận cô đơn đến trơ trọi và lạc lõng, bơ vơ giữa đồng loại. Phải chăng, ảnh hưởng từ nền học thuật triết học và những trải nghiệm, suy tưởng của bản thân mà anh đã sáng tạo ra những hình tượng đó? Đọc văn anh, tôi thích thú với những câu văn ẩn dụ, những tình tiết ẩn dụ đầy sự liên tưởng và sự khái quát đã đạt đến sự tiên liệu, dự báo cho cả tương lai. Tôi nghĩ, phải yêu dân tộc này, yêu đất nước và cuộc sống này, mới có thể viết ra những điều ám ảnh như thế.
Xuất thân từ một người học Triết học ở Trường Đại học Tổng hợp TP HCM và chưa qua một ngày được đào tạo về văn chương báo chí, nhưng với tố chất và sự rèn luyện phấn đấu của mình, Lại Văn Long đã để lại những ấn tượng không nhỏ trong làng báo, làng văn. Trong những dịp hiếm hoi gặp anh, tôi được nghe anh tâm sự về hành trình đi vào làng báo, làng văn của mình. Câu chuyện của anh giản dị, hồn nhiên nhưng vẫn khiến những người trẻ theo nghiệp cầm bút như tôi thấy thán phục.
Nhà văn, nhà báo Lại Văn Long.
Anh kể: "Khi đang còn là sinh viên năm cuối đại học, một hôm thầy giáo dạy môn Mỹ học bước vào lớp và hỏi: "Ai đã có bài đăng báo?". Khi thấy cả lớp không có ai viết báo cả, thầy khuyên cả lớp: "Các bạn nên tập viết báo…". "Sau buổi học, tôi ngồi viết bài báo "Cơ sở để đổi mới niềm tin" và gửi Báo Sài Gòn giải phóng. Mấy ngày sau, bài được đăng ở trang nhất làm tôi rất vui mừng. Nhuận bút khi ấy được 1.000 đồng, có thể ăn sáng bình dân trong một tuần. Tiếp theo đó, trên Báo Tuổi trẻ chủ nhật đăng truyện ngắn "Màu mận chín" và tôi được trả 10.000 đồng nhuận bút. Đây là số tiền đủ để tôi mua phiếu ăn ở ký túc xá Ngô Gia Tự hơn nửa tháng. Nhưng cái lớn hơn là tôi tự tin mình có thể kiếm sống được nhờ viết văn, viết báo".
Tháng 6/1988, sau khi tốt nghiệp đại học, anh về Đà Lạt nơi gia đình anh đang sinh sống để xin làm nghề tuyên huấn chứ không viết báo, viết văn. Được hơn hai năm, duyên nợ chữ nghĩa đã kéo anh trở lại với nghiệp cầm bút, anh quay lại Sài Gòn làm cộng tác viên cho nhiều tờ báo và thỉnh giảng triết học.
"Bệ phóng" từ văn học
Đầu năm 1992, tác phẩm "Kẻ sát nhân lương thiện" được giải nhất cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ. Tâm sự với chúng tôi, nhà văn Lại Văn Long kể lại quá trình anh trăn trở để viết nên truyện ngắn đặc sắc làm nên tên tuổi và định hình phong cách của anh: "Khi tôi về công tác ở Lâm Đồng, mỗi tháng lương được 38kg gạo, nuôi bản thân chưa đủ nói gì giúp gia đình. Cả nhà vẫn nghèo túng, cực khổ như xưa, mấy đứa em có nguy cơ bỏ học vì nghèo. Đã vậy các dự án xóa bao cấp, người nghèo sẽ phải trả học phí, viện phí như đổ thêm dầu vào lửa làm tâm trạng của tôi càng bức bối. Tôi có quen một số người là sĩ quan cấp tá trong quân đội cũng nghèo như mình. Hằng ngày họ phải trồng rau rồi lủi thủi chở xe đạp ra chợ bán. Trong khi đó lứa Việt kiều đầu tiên trở về nước làm ăn, đi đến đâu cũng được đón rước long trọng… Một biệt thự ở cạnh cơ quan tôi cấp cho một nhà cách mạng lão thành bị đòi lại trả cho chủ cũ trước 1975. Tôi đã tự hỏi: "Sao người chiến thắng lại phải chịu khổ triền miên trong lúc kẻ bại trận trước sau cũng là ông chủ, bà chủ?". Trong lúc chán chường, bế tắc như vậy, tôi lại nhớ đến "đấu tranh giai cấp" của K.Marx và tư tưởng vượt lên số phận để làm người hùng của F.Nietzsche nên chỉ trong một đêm cay đắng và tuyệt vọng, tôi đã viết xong truyện này với khoảng 20 trang giấy viết tay…
Sau khi truyện ngắn này được đăng trên Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam vào cuối năm 1990, có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Có người quy truyện này đã "phủ nhận sạch trơn" thành quả của cuộc cách mạng mấy mươi năm hao tốn xương máu. Nhưng nhiều ý kiến lại cho rằng truyện là lời cảnh báo cần thiết về tiến trình đổi mới, nếu không có những chính sách thích hợp có thể dẫn đến những hệ lụy khó lường (thực tế 20 năm sau những ý kiến này được chứng minh là đúng qua các vụ đổ máu vì tranh chấp nhà, đất). Sau này một vị thứ trưởng khi gặp tôi đã kể: "Lúc tớ còn làm tổng biên tập một tờ báo tỉnh ở miền Trung, đã cho đăng lại truyện này. Nhiều người đã phản ứng…". Một vị lãnh đạo ngành tư tưởng văn hóa cho biết, khi ông cùng nhà thơ Hữu Thỉnh (Tổng Biên tập Báo Văn nghệ và Chủ tịch hội đồng chấm giải cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ 1990 - 1991) sang Mỹ, một số nhà báo đã hỏi: "Các ngài tuyên bố đổi mới, kêu gọi Việt kiều về nước đầu tư, sao lại trao giải nhất cho một truyện "bắn vào Việt kiều" như thế?". Câu trả lời rất hay, đại ý: "Chúng tôi đã trao giải cho tác phẩm bắn vào áp bức bất công. Cả nhân loại xưa nay vẫn ghét áp bức bất công…". Như vậy không chỉ trong nước, mà cả ở hải ngoại cũng có những ý kiến trái chiều về truyện này. Tôi rất biết ơn và khâm phục Ban Biên tập Báo Văn nghệ và Ban giám khảo cuộc thi truyện ngắn năm đó. Nếu họ không dũng cảm, cuộc đời tôi đã khác, không có "cú hích" và cảm hứng để theo nghiệp văn như bây giờ".
Trăn trở với văn chương
Là một người sáng tác văn chương, Lại Văn Long có nhiều suy tư với nền văn học nước nhà hiện nay. "Dưới con mắt của người đọc, tôi thấy văn học chúng ta trong những năm gần đây như một vườn hoa yên ả, nhìn thì phong phú về màu sắc, nhưng chẳng thấy bông hoa lạ lùng, đột phá để người thưởng ngoạn được reo lên thích thú hay phải lặng người suy tư... Bây giờ hội thơ có ở khắp nơi, ngày thơ ở đâu cũng tưng bừng long trọng. Thế mà sao không có những bài thơ hay như những thời kỳ thơ chưa được "chăm sóc" và… "xã hội hóa"? Các giải thưởng văn học hằng năm cũng ít tạo được không khí sôi động hay sự quan tâm của xã hội. Nói theo cách của Nam Cao, văn học chúng ta đang… "sống mòn"!
Theo Lại Văn Long, sinh hoạt văn học rất cần đến giới phê bình và sự giúp sức của truyền thông. "Nếu các nhà phê bình văn học tích cực với chức phận của mình, văn đàn sẽ nhộn nhịp, thu hút được sự quan tâm của độc giả và giúp độc giả chọn được các tác phẩm có giá trị. Còn nếu các vị cứ "lười" hoặc thờ ơ như những năm gần đây thì văn học vẫn cứ phải "sống mòn". Đó cũng là cơ hội cho những tác phẩm xoàng xĩnh, thậm chí tệ hại lên ngôi nhờ những chiêu trò quái đản…" - nhà văn Lại Văn Long chia sẻ.
Với nghề báo, Lại Văn Long là một người cần mẫn và tài hoa. Anh viết nhiều đề tài, thấy cái gì xã hội cần thì mình tập trung khai thác. Sự cống hiến của anh với nghề báo đã được ghi nhận và vinh danh khi anh đoạt nhiều giải thưởng về báo chí. Giải thưởng đầu tiên của anh do Hội Nhà báo TP. Hồ Chí Minh trao là loạt bài điều tra về một "trung tâm" chuyên mua bán bằng lái ôtô các loại. Giải nhất báo chí toàn quốc mà báo Công an TP Hồ Chí Minh được trao là loạt bài điều tra về tiêu cực, tham nhũng ở một doanh nghiệp nhà nước do anh cùng các đồng nghiệp Lan Anh, Thiên Hà, Thu Hiền thực hiện. Ngoài ra, anh cũng đoạt nhiều giải thưởng báo chí danh giá khác…
Tuy nhiên, tấm huân chương nào cũng có mặt trái của nó. Anh có nhiều giải thưởng báo chí nhưng cũng từng bị kỷ luật treo bút sáu tháng khi viết loạt bài "Người có khả năng chữa bệnh đặc biệt" nhuốm màu sắc mê tín dị đoan ở tỉnh Quảng Nam.
"Hơn 20 năm làm báo, tôi đã nếm trải đủ thành công và thất bại, vui buồn của nghề này và đã đúc rút ra nhiều điều cần thiết cho nghề nghiệp. Khi được mời thỉnh giảng các lớp báo chí ở TP Hồ Chí Minh cũng như một số tỉnh, tôi tự viết giáo trình các môn: "Phóng sự điều tra", "Nghiệp vụ phóng viên" nên đã đưa cả những thành công lẫn thất bại trong quá trình xâm nhập thực tế, thu thập tài liệu, hình ảnh cho các phóng sự điều tra của mình vào các bài giảng. Qua đó, các bạn sinh viên báo chí cũng có thể nhặt nhạnh được vài điều bổ ích từ nghề báo và cho nghề báo" - nhà báo Lại Văn Long nói.
Hiện anh đã hoàn thành xong tiểu thuyết "Người khổng lồ đội mồ kể chuyện". Đây là câu chuyện dài về một dân tộc nhỏ bé, hiền hòa bị hai đế quốc thay nhau xâm lược và cưỡng chiếm biển đảo. Dân tộc đó đã sản sinh ra một người khổng lồ lãnh đạo toàn dân chống xâm lược. Họ đã đánh tan cả hai đạo quân xâm lược hùng mạnh và giương cao ngọn cờ hòa bình, chính nghĩa trên biển Đông. Ngoài ra anh đang hoàn thiện một tiểu thuyết dày gấp 3 như thế và một tập truyện ngắn…
  • Nguyễn Thịnh

Thứ Ba, ngày 30 tháng 12 năm 2014

Hoa hồng và phong bì


Không biết chính xác tự bao giờ, hoa hồng được coi là biểu tượng của cái đẹp của tình yêu. Chỉ biết rằng từ hàng nghìn năm trước, đi suốt từ đế chế Hy Lạp, La Mã, Ba Tư cho đến một thế giới phẳng ngày nay, mặc cho sự khác biệt về chính trị, chủng tộc, tôn giáo, vị thế của loài hoa này về cơ bản chưa bao giờ bị thay đổi. Thậm chí ở nhiều xã hội, hoa hồng là hình ảnh ẩn dụ cho người con gái đẹp…

Khác với hoa hồng, phải đến giữa thế kỉ 19, phong bì mới được sản xuất đại trà ở châu Âu. Dù khá đa dạng về hình thức, màu sắc, kích cỡ, chúng nhanh chóng được sử dụng với mục đích truyền tải thông tin trên phạm vi toàn cầu. Trong thời chiến hình ảnh những lá thư được truyền đi giữa bao làn bom đạn từng là nguồn động viên, niềm tin và sức mạnh cho hàng triệu con người. Nó trở thành cảm hứng cho biết bao vần thơ, truyện tình bất hủ cùng năm tháng…
Sự "sáng tạo" của người Việt
Cũng khó lòng mà biết đích xác được bắt đầu từ khi nào, người dân xứ mình dần dần quen với ý nghĩa mới được khoác lên cho hoa hồng cũng như những chiếc phong bì? Chỉ biết rằng ngày hôm nay, ý nghĩa mới của chúng có khi còn "phổ biến" hơn cái người ta từng biết đến, chức năng mới của chúng có khi còn quan trọng, phổ biến hơn chức năng lúc được sinh ra.
"Hoa hồng" giờ đây được dùng để ám chỉ một thứ quyền lợi vật chất cụ thể, được đem ra mặc cả trong những giao dịch, thỏa thuận, quyết định với mục đích "đôi bên cùng có lợi". Và như thế, từ đường đường được vinh danh là biểu tượng cho tình yêu đôi lứa, cho sự trong sáng, vẻ đẹp thuần khiết, nồng nàn hương sắc của phái đẹp, nhân thế bỗng nhiên nhẫn tâm "vùi dập" một loài hoa để rồi trần tục với những giá trị vật chất tầm thường. Mà khổ, thiếu gì các loại cây, rễ, lá, quả mà cứ nhằm vào hoa hồng mà mặc cả, mà kì kèo, mà đi đêm, trục lợi thế nhỉ?
Cũng cùng cảnh ngộ, những chiếc "phong bì" giờ đây chả mấy khi được dùng theo cách được sinh ra mà thay vào đó, nó "vận chuyển" những "thông điệp" sặc mùi kim tiền, trong đủ mọi hoàn cảnh, ở đủ mọi cấp độ. Đường đường được sinh ra để thực hiện nghĩa cử cao đẹp là truyền tải những thông điệp, lời nhắn gửi, khúc tâm tình cho bao chàng trai, cô gái đang say đắm ái tình hay bao người thân vì chuyện đời mà phải sống xa nhau, bỗng dưng sao người ta lạnh lùng nhét vào đó những tờ giấy bạc, những thỏa thuận ngầm?
Và thế là "hoa hồng" bỗng dưng được người ta lẳng lặng đút vào những chiếc "phong bì". Người ra dần dần quen với việc hỏi nhau nên "phong bì bao nhiêu" cho không chỉ những dịp hiếu, hỉ mà cả cho những toan tính chạy chức, mua quyền…
Đằng sau "hoa hồng" và "phong bì"
Khi hoa hồng và những chiếc phong bì bị "huyền ảo hóa", nội dung cũng như thông điệp mà nó truyền tải vì thế dường như trở nên "kì bí" hơn. Chúng không còn gần gũi, có thể dễ dàng cảm nhận, hưởng thụ bởi số đông mà chỉ còn là đặc lợi của đâu đó một số ít người.
Và như thế, dường như hình thành hai "nhóm lợi ích" bền chặt với nhau. Nhóm đưa "hoa hồng" trong những  chiếc "phong bì" và nhóm có đặc quyền nhận chúng. Người ta đưa "phong bì" kèm theo "hoa hồng" một cách thầm lặng, tế nhị và kín đáo vô cùng, ngõ hầu đạt được một đặc ân nào đó. Người nhận thì cũng hồn nhiên "hưởng" như thể họ cho đó là "thành quả" cho bao năm tháng từng mang thân phận không hơn gì những chiếc phong bì thuở nào.
"Hoa hồng" và "phong bì" trở thành biểu tượng cho quyền lực, cho lợi ích, cho một dạng thứ bậc mà kẻ ở trên luôn là người nhận và kẻ ở dưới luôn phải là người đưa. Nó trở thành một thứ "luật bất thành văn", dẫn đến thực trạng "nhộn nhịp" cổng nhà quan những ngày lễ tết như báo chí từng phản ánh để rồi chính phủ phải ra quy định nghiêm cấm nhận quà dưới mọi hình thức.
Ở một phương diện khác, chúng cũng trở thành "phương tiện" hữu hiệu để người ta "móc ngoặc", thỏa thuận "mua bán" một dự án, một hợp đồng, một biên chế hay thậm chí một cái ghế nào đó. Dư luận từng râm ran, báo chí từng hoài nghi, chính phủ từng điều tra không ít lùm xùm liên quan đến nghi án chạy chức, mua quyền, hay giao bán dự án.
Chúng cũng trở thành công cụ cho những toan tính "đi tắt, đón đầu" của không ít người ngõ hầu khỏa lấp những yếu kém về năng lực chuyên môn. Thay vì làm việc nghiêm túc, sáng tạo, cống hiến cho tập thể, không ít người giờ đây chỉ chăm chăm đóng góp "hoa hồng" rồi "phong bì" cho một vài cá nhân nào đó để được lên lương, lên chức trước thời hạn, mặc cho bản thân có xứng đáng hay không. Người ta vì thế dùng cả phong bì để bắn thủng những địa hạt vốn từng rất đỗi linh thiêng như đạo đức của thầy thuốc, nhà giáo hay giá trị cao cả của những tấm bằng…
Giá mà thống kê được một năm ở xứ mình, bao nhiêu phần trăm số phong bì sản xuất ra bị "sử dụng sai mục đích" thì hay biết mấy? Giá mà tổng giá trị các loại "hoa hồng" người ta đưa, nhận với nhau được lượng hóa để so sánh với doanh thu của những người trồng hoa Đà Lạt, hẳn các nhà kinh tế sẽ phải giật mình.
Không biết rồi đây, loài hoa nào rồi sẽ lại chịu nỗi oan ức như hoa hồng hay bao giờ gánh nặng của những chiếc phong bì mới được cởi bỏ? 
  • Gia Trí

Những câu châm ngôn đặc sắc


Bạn đừng giết chết tình yêu cho dù đã không ít lần bạn là nạn nhân của nó.

1. Nghệ thuật đích thực có thể không đề địa chỉ người gửi, nhưng nhất thiết phải có địa chỉ người nhận.
2. Khi bạn đạt tới chiều sâu cần tới, bạn đừng cắt đứt liên hệ với mặt đất, nếu không bạn sẽ bị chết chìm.
3. Đôi khi người ta đặt một bên là sức mạnh của pháp luật và một bên là sự bất lực trước những hành động bất chấp pháp luật.
4. Ở nơi mọi cái được giữ bí mật, sự giam hãm trí tuệ là cái được đưa ra ánh sáng đầu tiên.
5. Thần công lý cần có dải băng bịt mắt chứ không phải là đoạn băng dính bịt miệng.
6. Kẻ làm những việc bẩn thỉu thì không bao giờ có bàn tay sạch sẽ.
7. Đừng nhường đường cho tất cả mọi người vì người ta sẽ từ mọi phía dồn bạn vào giữa.
8. Hỡi các người, đừng giẫm đạp lên kẻ đang nằm! Đặc biệt là người đã nằm dưới mộ!
9. Ngày nay tất cả những gì thuộc về con người đều không xa lạ với chúng ta. Chỉ trừ chính con người.
10. Rất đáng tiếc là chúng ta nhận ra những người đàn bà đẹp từ phía xấu nhất của họ.
11. Từ tình dục đến tình yêu - gần biết bao mà cũng xa biết bao!
12. Vết thương do lời nói gây ra không thể liền lại được.
13. Những người mù chữ là kẻ thù tự nhiên của các nhà văn.
14. Lên tới được đỉnh cao của tinh thần là những người không biết nằm trên sự bằng phẳng trải sẵn cho cơ thể.
15. Đáng tiếc, viết lách thường là công việc của những kẻ không còn gì để nói.
16. Nhà tiên tri giỏi nhất là người không tin nhất vào sự tốt đẹp của ngày mai.
17.  Những lời nói dù bay bổng nhất cũng không thay thế được đôi cánh.
18. Nọc độc của sự châm biếm gây ngộ độc cho cuộc đời. Trước hết là cho nhà văn châm biếm.
19. Người không có sức mạnh vượt trội lại chính là kẻ suốt đời muốn nổi trội hơn người.
20. Đôi khi đàn cừu lại nguy hiểm hơn cả đàn sói.
21. Người phụ nữ chỉ được tự do thật sự khi bản thân cô ta thuộc về anh chàng biết đặt ách nô lệ lên cổ cô ta.
22. Lời tán tỉnh chắp cánh cho bạn, tình yêu cho bạn thêm đôi cánh, hôn nhân chặt bớt cánh của bạn đi, còn sau khi ly hôn thì bạn bị rã cánh.
23. Những phụ nữ yêu đương mãnh liệt là những phụ nữ không được yêu mãnh liệt.
24. Người con gái thông minh, tự chủ thì không hy vọng có được tình yêu cuồng nhiệt đến mất cả lý trí.
25. Ngọn lửa bùng cháy ở trái tim bắt đầu từ những tia lửa nhỏ nơi ánh mắt.
26. Kẻ được phụ nữ để ý nhất là kẻ không hay để ý đến phụ nữ nhất.
     27. Tôi quên khuấy mất là cần phải chết vào thời điểm thích hợp để có thể sống mãi trong trí nhớ của các thế hệ con cháu sau này.
28. Sống bằng bàn tay của chính mình tốt hơn là ăn nhờ vào bàn tay của người khác.
29. Kẻ ăn mày thực sự là người giàu có nếu đặt anh ta cạnh các nhà doanh nghiệp đang nợ nần chồng chất.
30. Những bộ óc bệnh hoạn thường ghét cay ghét đắng lý trí lành mạnh.
 31. Kẻ không có tài năng thì coi mọi cái đều tốt đẹp cả.
32. Nhà thông thái, khi ở giữa đám hề, bị coi là anh chàng ngốc nghếch.
33. Cắn vào tay người muốn nâng mình dậy sau khi ngã còn bi kịch hơn cả bị ngã.
34. Chịu đựng nỗi bất hạnh của người khác dễ hơn rất nhiều so với chấp nhận hạnh phúc của người ấy.
35. Những người biết giá trị bản thân sẽ không bán rẻ mình bằng mọi giá.
36. Vì lợi ích của tình yêu - tình yêu phải không vụ lợi.
37. Phụ nữ là bài toán thường có nhiều cách giải.
38.  Người ta chết vì tình yêu nhiều lần trước khi tình yêu chết.
39. Nếu phụ nữ muốn cánh đàn ông ngắm nghía họ như một tác phẩm nghệ thuật, họ phải trang điểm mình một cách thật nghệ thuật.
40. Cái chết của tình yêu khiến người ta thấy yêu cái chết.
41. Chúng ta thường bảo vệ một cách hăng hái nhất sự trong trắng mà chúng ta không có.
42. Ai đã nếm mùi tình yêu một lần, người đó phải trả giá cho nó suốt cả cuộc đời.
43. Nếu bạn không biết yêu thì bạn không nên trông chờ ở một tình yêu lớn lao.
  • Nguyễn Chí Thuật (dịch)

Thứ Ba, ngày 23 tháng 12 năm 2014

Cuộc tình dưới mưa và 'Bài thánh ca buồn' khắc khoải 40 năm

Đăng Bởi -

Bai thanh ca buon

Gần nửa thế kỷ trôi qua, giai điệu  Bài Thánh ca buồn của nhạc sĩ Nguyễn Vũ vẫn không ngừng ngân vang, len lỏi vào tâm thức từ người dân đô thị đến những vùng quê.

Kỷ niệm cuộc tình dưới mưa
Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1944 tại Hà Nội nhưng suốt thời thơ ấu ông sống ở Đà Lạt. Những năm tháng tuổi thơ sống ở thành phố sương mù đã tác động nhiều đến bước đường nghệ thuật của ông trong đó có “Bài thánh ca buồn”.
Không chỉ sáng tác nhạc, Nguyễn Vũ còn hát rất hay. Từ nhỏ, ông đã chơi được nhiều nhạc cụ như guitar, harmonica, piano…và hát cho Ban thiếu nhi của Đài Phát thanh Đà Lạt. Năm 12 tuổi (1956), cậu bé Tuấn Khanh đã đoạt giải Nhất đơn ca thiếu nhi do Đài Phát thanh Đà Lạt tổ chức. Nhạc sĩ Nguyễn Vũ và nhạc sĩ Đức Huy là anh em con cô, con cậu. Khi còn nhỏ Nguyễn Vũ và Đức Huy cùng sinh hoạt “sói con” (hướng đạo sinh) với nhau. Nguyễn Vũ thường qua nhà Đức Huy hướng dẫn cho Đức Huy chơi đàn thuở Đức Huy 14-15 tuổi.
Năm 1965, Nguyễn Vũ có tác phẩm đầu tay là ca khúc “Loài chim biển”. Hai năm sau, tên tuổi nhạc sĩ mới được giới yêu nhạc biết đến nhiều qua loạt ca khúc có chữ “cuối”: “Lời cuối cho nhau”, “Nhìn nhau lần cuối”“Bài cuối cho người tình”. Rồi sau đó, ấn tượng nhất là “Bài thánh ca buồn”.

Bai thanh ca buon
“Bài thánh ca buồn” là một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh. (Trong ảnh: nhạc sĩ Nguyễn Vũ trình bày ca khúc Bài Thánh ca buồn).
Nhạc sĩ Nguyễn Vũ cho biết: “Tôi không nghĩ ca khúc này lại được nhiều khán giả yêu mến đến thế. Khi viết ca khúc ấy, đơn giản tôi đang hoài niệm quãng thời gian trai trẻ của mình. Cái thời mà tôi chỉ dám ngắm nhìn người tôi mến, không dám mở lời làm quen…"
“Thuở tôi là một cậu bé 14 tuổi ngày đi lễ ở nhà thờ Con gà (TP.Đà Lạt), sở dĩ tôi “chịu khó” đi lễ bởi vì phát hiện ra một cô gái rất xinh và ngoan đạo mỗi ngày vẫn đi ngang qua ngõ nhà tôi để đến nhà thờ. Trái tim vụng dại của thằng con trai mới lớn đập loạn nhịp trước bóng hình thiếu nữ tóc bồng bềnh trong gió cao nguyên. Ngày qua ngày, suốt hơn ba tháng trời, tôi âm thầm, lầm lũi làm “cái đuôi” của cô ấy. Kẻ trước người sau, mỗi bận đi lễ về phải đi bộ hơn 3km đường đèo nhưng một lời bẻ đôi tôi không dám thốt. Lòng thành của tôi chỉ được hưởng một ân huệ cỏn con: Tôi được biết cô ấy tên Th., lớn hơn tôi 2 tuổi…”.

“Bài thánh ca đó còn nhớ không em/ Noel năm nào chúng mình có nhau/ Long lanh sao trời đẹp thêm môi mắt/ Áo trắng em bay như cánh thiên thiền/ Giọt môi hôn dưới tháp chuông ngân”
Thế rồi một buổi chiều gần lễ Giáng sinh, tan lễ thì trời đổ mưa to, cô ấy nép vào một mái hiên trú mưa, tôi cũng…trú tạm bên cạnh, hai người đứng cách nhau độ một gang tay.. Lẫn trong tiếng mưa vang lên giai điệu quen thuộc của bản thánh ca “Đêm thánh vô cùng” (Silent Night) vẳng ra từ ngôi nhà gần đấy:
“Đêm Thánh vô cùng/ Giây phút tưng bừng/ Đất với trời, se chữ đồng…”. Cô ấy đưa tay hứng những giọt nước mưa và khe khẽ hát theo. Tôi lặng người. Giọng hát cô ấy buồn da diết. Tự dưng tôi cảm thấy run, khẽ đưa tay vuốt nhẹ những hạt mưa bụi li ti bám bên ngoài chiếc áo của cô ấy. Cô ấy bất chợt quay sang tôi nhoẻn miệng cười: “Cảm ơn nghen!”.
Mưa tạnh, “người trong mộng” đã khuất dạng tự bao giờ mà thằng con trai 14 tuổi vẫn còn đứng ngẩn ngơ vì “Người đi một nửa hồn tôi mất/ Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”.
Ba ngày sau, gia đình tôi chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Tâm trạng tôi lúc đó y như người vừa đánh mất một vật quý giá. Từ đó, mỗi khi chợt nghe bài “Đêm thánh vô cùng” lòng tôi lại tái tê với ánh mắt, nụ cười hồn nhiên, thánh thiện tựa thiên thần của “người ấy”.
Ôm hình bóng ấy cho đến mãi 14 năm sau, tình cờ nghe lại “Đêm thánh vô cùng” từ chiếc máy đĩa, bỗng dưng cảm xúc từ một mối tình thánh thiện, hồn nhiên như trẻ thơ – tưởng như đã vùi sâu dưới lớp bụi trần thời gian – chợt ùa về trong ký ức, thôi thúc tôi và “Bài thánh ca buồn” ra đời.
Chuyện tình buồn nhưng không bi lụy
Nhạc phẩm “Bài thánh ca buồn” được nhạc sĩ Nguyễn Vũ sáng tác trong hai tiếng vào một ngày tháng 10.1972 và được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền, nam ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên thể hiện và ngay sau đó, nó trở thành ca khúc “hot” nhất trong mùa Giáng sinh năm đó.
Cho đến nay có rất nhiều ca sĩ hát bài này nhưng ca sĩ Elvis Phương đã là người mặc định cho ca khúc một vị trí hoàn hảo, thổi vào đó dạt dào những cảm xúc từ khung trời kỷ niệm một chút gì tiếc nuối. Xa vắng, kết hợp xử lý giọng hát ở không gian cao, rộng, khoan thai, phát âm ca từ rõ ràng, lắng đọng, để rồi đẩy ca khúc lên. Biết bao nhiêu thế hệ người nghe, ca khúc vẫn không nhàm chán: “Cùng nhau quỳ dưới tượng Chúa cao sang/ Xin cho đôi mình suốt đời có nhau/ Vang trong đêm lành bài ca Thiên Chúa/ Khẽ hát theo câu: “Đêm thánh vô cùng”/ Ôi giọng hát em mênh mang buồn”.
Bai thanh ca buon
Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng tinh tế và chân thật của một mùa Noel kỷ niệm, hơi phảng phất buồn nhưng không bị lụy.
“Bài thánh ca buồn” là một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh. Nó là ca khúc đã vượt qua sự thử thách của thời gian để trở thành hiện tượng văn hóa, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, nhân văn, thẩm mỹ, lịch sử khiến cho tác phẩm vì thế được cả những người Thiên Chúa giáo, lẫn những người ngoại đạo đều yêu thích.
Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng tinh tế và chân thật của một mùa Noel kỷ niệm, hơi phảng phất buồn nhưng không bị lụy. Hơn 40 năm kể từ khi ca khúc “Bài thánh ca buồn” ra đời, đến nay nó vẫn được nhiều người nghe, thích và tiếp tục hát, thậm chí đang có xu hướng trẻ hóa dần.
Sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Vũ không lớn lao như nhiều nhạc sĩ khác nhưng “Bài thánh ca buồn” đã trở thành một trong những bản nhạc được yêu thích, nhất là trong các album nhạc giáng sinh.
“Bài thánh ca đó còn nhớ không em/ Noel năm nào chúng mình có nhau/ Long lanh sao trời đẹp thêm môi mắt/ Áo trắng em bay như cánh thiên thần/ Giọt môi hôn dưới tháp chuông ngân”. Gần nửa thế kỷ trôi qua, cứ vào dịp lễ Giáng sinh, giai điệu bản tình ca “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, vẫn không ngừng ngân vang trong những đêm lành, len lỏi vào tâm thức từ người dân đô thị đến những vùng quê… Hơn 40 năm, “Bài thánh ca buồn” vẫn luôn được người nghe yêu thích. Thế là quá đủ đối với một nhạc sĩ.
Hạnh Lam
(Pháp Luật & thời đại)