Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Hai, ngày 20 tháng 10 năm 2014

Người nhạc sỹ trong thời khắc lịch sử


Giữa tiết trời thu Hà Nội, người dân lại nhớ về những giây phút lịch sử trọng đại của dân tộc, khi mà đoàn quân chiến thắng từ 5 cửa ô tiến vào tiếp quản Thủ đô (ngày 10/10/1954). Một rừng cờ, hoa với hàng vạn, hàng vạn người Hà Nội đổ ra đường vẫy chào đón mừng những chiến sĩ bộ đội Cụ Hồ về tiếp quản Thủ đô sau 9 năm kháng chiến trường kì gian khổ.
Không gì tả nổi sự sung sướng, hân hoan, nhiều người đã bật khóc. Những bó hoa tươi thắm từ bàn tay các thiếu nữ Hà Nội trong trang phục áo dài thướt tha thi nhau tung lên xe ôtô, các anh bộ đội giang tay đón nhận. Hòa cùng dòng người ngày đó có một nhạc sĩ ôm cây đàn guitare dẫn đầu đoàn đồng ca gồm 200 người cùng cất tiếng hát vang, tay đệm đàn: "Hoan hô các anh về đây giải phóng Thủ đô". Bài "Hà Nội giải phóng" ông viết vào tháng 8 năm 1954, cùng một số bài ca do chính nhạc sĩ sáng tác trước mấy ngày bộ đội về tiếp quản. Đó là nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ, người mà đến bây giờ giới âm nhạc Việt Nam đặt cho cái tên: "ông vua của Sonate Việt Nam".
Cũng vào một ngày thu, trong căn phòng ấm cúng số nhà 13- phố Nguyễn Quang Bích, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, tôi được nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ kể lại những giờ phút lịch sử của đất nước. Bước sang tuổi gần 90 nhưng trí óc ông vẫn minh mẫn, giọng nói nhẹ nhàng. Sau vài giây suy ngẫm, ông lục trong đống tài liệu đưa cho tôi xem một mảnh giấy mỏng nhàu nát qua thời gian. Có chữ kí, con dấu đỏ (Ban Chấp hành Thành đoàn Hà Nội). Nội dung ngắn gọn: Đồng chí Lê Văn Thành thay mặt Đoàn Thanh niên cứu quốc Hà Nội giao nhiệm vụ cho ông "Anh Đỗ Quyên" (tên bí danh) phụ trách một ban nhạc và đội đồng ca do Thành đoàn tổ chức, tập trung ở hồ Hoàn Kiếm để đón đoàn quân tiếp quản Thủ đô.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ (người cầm đàn) trong một thước phim tài liệu.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ hồi tưởng:
"Tin chiến thắng từ Điện Biên Phủ liên tiếp được anh Sinh là cán bộ trong thành đến báo cho tôi hàng ngày. Cũng cần nói thêm trong thời gian này tôi tham gia hoạt động học sinh, thanh niên kháng chiến nội thành, tổ chức hội họp tại số nhà 65 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm và tại nhà tôi ở 13 Phạm Phú Thứ (nay là số nhà 13 phố Nguyễn Quang Bích). Để gấp rút chuẩn bị chào đón Đại đoàn về tiếp quản Thủ đô, anh Lê Thành là Thường vụ Thanh niên Cứu quốc nội thành giao cho tôi phổ biến các bài hát cách mạng Việt Nam và những bài hát cách mạng Liên Xô như bài "Thanh niên dân chủ toàn thế giới", và yêu cầu tôi sáng tác gấp một số bài hát để chuẩn bị đón đoàn quân về tiếp quản Thủ đô. Anh Thành căn dặn: "Chia thành từng tốp nhỏ 4-5 người để dạy hát, tránh tập trung đông người (thời kì này chúng tôi vẫn hoạt động trong bí mật). Sau đó số người tôi dạy được nhân rộng gần 100 người. Lúc này tôi cũng mời thêm được nhạc sĩ Tô Mi chơi đàn Violon ở ngay cạnh nhà tôi, phố Nguyễn Văn Tố, cùng anh Nguyễn Đình Thanh chơi đàn Acoocdeon từ Hải Phòng về tham gia ban nhạc cùng dàn đồng ca (nhạc sĩ Tô Mi và Nguyễn Đình Thanh nay đã mất).
Đúng 7h30' sáng, 10/10/1954, tôi dẫn đầu ban đồng ca khoảng 200 người, xếp thành hàng 4 cùng lá cờ đỏ sao vàng xuất phát từ số nhà 13 Phạm Phú Thứ, nhà tôi ở hiện nay, tiến về hồ Hoàn Kiếm. Ban đồng ca được tập trung, xếp hàng thứ tự ở bến tàu điện Bờ Hồ (trước cửa nhà hàng Cá mập hiện nay), hát những ca khúc cách mạng Việt Nam và một số bài do tôi sáng tác. Dân chúng từ các phố Cầu Gỗ, Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang kéo về tập trung mỗi lúc một đông, hòa thành một không khí náo nhiệt, vui tươi, người nào cũng tay cờ, tay hoa cùng nhau vỗ tay hát theo ban đồng ca: "Hoan hô các anh về đây giải phóng Thủ đô" khi đoàn quân cùng xe cơ giới tiến qua.
Nhà quay phim người Nga Rôman Karmen đã dừng ống kính quay phim ở tốp đồng ca và ban nhạc chúng tôi rất lâu để ghi hình. Hơn nửa thế kỉ qua đi, kỉ niệm về những giây phút lịch sử thiêng liêng đó không bao giờ quên trong đời tôi cho đến tận bây giờ"


  Duy Ngọc

Thi ca "an ủi" nhan sắc


Làng showbiz có vài gương mặt từng thỏ thẻ tuyên bố bản thân vẫn bí mật làm thơ, nhưng in thành tập hẳn hoi thì rất hiếm. Sau tập thơ "Thập kỷ yêu" của ca sĩ Trần Thu Hà in năm 2011, thì tập thơ "Bốn mùa là em" của hoa hậu Giáng My giúp những đại gia lắm tiền nhiều bạc tư duy lại rằng mỹ nhân Việt cũng cần... vần điệu như cần hàng hiệu!
Tập thơ "Bốn mùa là em" của Giáng My chỉ mỏng 72 trang, nhưng in bốn màu trên giấy cực xịn. Bảo đảm các nhà thơ chuyên nghiệp trông thấy sẽ phát ganh tị vì vẻ bề ngoài của "Bốn mùa là em". Tuy nhiên, với Giáng My thì số tiền để in "Bốn mùa là em" chẳng có gì đáng kể, vấn đề quan trọng là 81 bài thơ được đặt tên riêng mỗi bài hoặc chỉ đánh số thứ tự, có thể chuyển tải được tâm hồn lúc bay bổng lúc hắt hiu của người đẹp tuổi ngoài bốn mươi chưa một lần mặc áo cưới nhưng từng nhịp đập trái tim vẫn khiến bao kẻ cuồng si chết đứng chết ngồi. Giáng My gọi đó là "năng lượng cô đơn", càng chôn chặt càng bùng nổ, càng đè nén càng thăng hoa: "Tình yêu buồn như sách không người đọc/ Khi đến tay thì mắt đã mù lòa".
Giáng My xuất thân trong một gia đình khá giả, được chơi piano từ nhỏ. Khi tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội thì Giáng My cũng đăng quang Hoa hậu Đền Hùng. Ở tuổi hai mươi rạng ngời, Giáng My đã vào
Sài Gòn gia nhập dòng phim mì ăn liền cùng với các tên tuổi Lý Hùng, Việt Trinh, Diễm Hương, Mộng Vân... và nhanh chóng vụt sáng như một ngôi sao giải trí.
Bất kỳ thầy tướng số giỏi cỡ nào thì ngắm dung mạo của Giáng My bây giờ cũng không thể phán chính xác Giáng My đã trải qua bao nhiêu mùa xuân. Vẻ đẹp không tuổi của Giáng My lay động quý anh cường tráng, quý ông sung mãn lẫn quý ngài quyền uy. Vì vậy, những ngón tay thon dài ngỡ chỉ có thể lướt trên phím đàn piano của Giáng My có thể gõ khẽ khàng mà vẫn làm những cánh cửa lạnh lùng nhất và khắc nghiệt nhất phải mở toang hoan hỉ đón chào. Lợi điểm ấy cộng với việc thông thạo bốn ngoại ngữ giúp Giáng My thành đạt trong nghề truyền thông. Đã nhiều năm Giáng My vẫn giữ vị trí Giám đốc đối ngoại cho Tập đoàn Truyền thông Kantana - Thái Lan kiêm Tổng giám đốc GM Pro.
Điều mà nam giới cũng phải trân trọng Giáng My là sức làm việc. Giáng My đi nước ngoài như đi chợ, nhưng vẫn điều hành hàng chục dự án lớn nhỏ. Với nhan sắc của Giáng My, có thể thong dong làm bình hoa di động cho đại gia cung phụng nhung gấm. Vậy mà, Giáng My đâu an phận phụ nữ nhàn rỗi hưởng đặc ân của Thượng đế. Giáng My vẫn tất bật ở trường quay, ở sân khấu, ở sự kiện lớn nhỏ khác nhau. Để rồi lúc nhan sắc bơ vơ thì có thi ca dỗ dành: "Ngày lễ buồn chỉ có ta và nến/ Cùng những thầm thì của gió và mưa".
Giáng My sở hữu biệt thự ngay trung tâm Sài Gòn, Giáng My di chuyển bằng siêu xe có giá gần 5 tỷ đồng. Và xung quanh Giáng My lúc nào cũng có những lời đường mật lẫn những hành vi tán tỉnh của các đại gia trổ mã ga-lăng. Thế nhưng Giáng My vẫn chấp chới nỗi buồn. Giáng My giấu nỗi buồn không để lộ ra trên khuôn mặt dịu dàng và tươi tắn thường trực của mình. Nỗi buồn của Giáng My chỉ bộc lộ ra trên trang giấy với những dòng thơ lặng lẽ: "Ta sẽ sống như ngày mai phải chết/ Sẽ yêu như chưa được nếm tình đầu/ Sẽ cháy bỏng như chẳng còn hơi thở...". Chắc chắn, khi đọc những câu thơ Giáng My viết, không ít đại gia vốn căm ghét thi ca tột độ sẽ chuyển sang trạng thái... say đắm thi ca vô bờ!


  Tuy Hòa

Khái luận chung về bộ máy nhà nước

1. Khái niệm: Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ trung ương đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những chức năng của nhà nước.
Bộ máy nhà nước là một thiết chế phức tạp, gồm nhiều cơ quan, mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ riêng, nhưng việc thực hiện những chức năng nhiệm vụ này đều nhằm đến việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chung của nhà nước. 
2. Các loại cơ quan quan trọng  trong bộ máy nhà nước
Bộ mày nhà nước thường gồm có ba loại cơ quan: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. Thực tế đã chứng minh rằng, cùng với quy luật về sự thay thế của các kiểu nhà nước thì bộ máy nhà nước cũng có sự thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn như:
- Bộ máy nhà nước chủ nô: chưa có sự phân biệt thành hệ thống các cơ quan. Bản thân những người chủ nô nắm quyền lực nhà nước vừa là nhà lãnh đạo lực lượng quân đội, cảnh sát vừa là người trực tiếp quản lý hành chính, đồng thời là quan tòa.
- Bộ máy nhà nước phong kiến: đã được tổ chức thành các cơ quan tương đối hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương. Ở trung ương có Vua và các quan trong triều đình giúp việc cho Vua. Ở địa phương có đội ngũ quan lại do Vua bổ nhiệm. Đã có quân đội, cảnh sát, nhà tù, toà án và các cơ quan khác. Bộ máy nhà nước phong kiến là một bộ máy quan lại từ trung ương đến địa phương mang nặng tính chất quan liêu, hoặc chuyên chế, đặc quyền, đặc lợi.
- Bộ máy nhà nước tư sản: đã đạt tới mức hoàn thiện cao, các cơ quan đã được phân định rõ ràng thành ba loại: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. Ba loại cơ quan này được cấu tạo dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập, cho nên có sự độc lập và chế ước lẫn nhau. Pháp luật đã quy định về chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước.  
- Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa: Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa có đặc điểm là tổ chức theo nguyên tắc tập quyền XHCN. Quyền lực nhà nước đều tập trung thống nhất vào nhân dân, thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua các cơ quan đại diện do mình bầu ra. Tuy tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, nhưng có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng nhằm thực hiện tốt ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
        3. Đặc điểm chung của các cơ quan trong nộ máy nhà nước
Các cơ quan nhà nước là bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước, do đó so với các tổ chức trong xã hội, không phải là nhà nước, thì cơ quan nhà nước có đặc điểm riêng là:
- Việc thành lập, hoạt động hoặc giải thể các cơ quan nhà nước đều phải tuân theo quy định của pháp luật. Các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động của mình dựa trên cơ sở quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền. 
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước thể hiện quyền lực của nhà nước, vì cơ quan nhà nước được giao quyền nhân danh nhà nước để thực hiện quyền lực nhà nước, cho nên trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình, cơ quan nhà nước được phép ban hành những văn bản pháp luật có tính bắt buộc thi hành đối với những tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan và có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện những văn bản do mình ban hành. Nếu tổ chức, đơn vị, cá nhân nào không thực hiện hoặc thực hiện sai đều phải chịu trách nhiệm.


       

Đàn ông mấy ai “cai trị” được đàn bà?

Đăng Bởi -

Đàn bà qua tranh Bùi Xuân Phái
Đàn bà qua tranh Bùi Xuân Phái
Hoàng đế Napoleon chinh chiến trên lưng ngựa, làm bá chủ hầu hết lục địa châu Âu và một phần châu Á đã phải xót xa: “Ra đời trăm trận trăm thắng, về nhà không thắng nổi người đàn bà”. 
Sự thật cay đắng của hoàng đế còn là bài học cho thế giới đàn ông. Vì sao không thắng nổi người đàn bà? Vì sao đàn bà luôn được coi là phái yếu lại sở hữu sức mạnh bí ẩn và kỳ lạ có thể lật đổ “ngai vàng quyền lực” đàn ông như thế? 
Nghĩ về thế giới đàn bà, trong tôi luôn luôn có hai con người. Khi con người thứ nhất lên tiếng, tôi cảm nhận được sự bí ẩn kỳ vĩ của thế giới phụ nữ. Nói về sức mạnh đàn bà, đại văn hào nước Pháp nửa đầu thế kỷ 19 Honore De Balzac, bậc thầy của tiểu thuyết hiện thực nói rằng: “Ai có thể “cai trị” được một người đàn bà thì người ấy có thể cai trị được một quốc gia”. Nhưng đàn ông mấy ai “cai trị” được đàn bà? Có khi còn ra nông nỗi ngược lại.
Người ta đã bàn nhiều đến nhà Chu bị mất bởi mỹ nữ Bao Tự, nước Ngô bị xóa sổ bởi Tây Thi “chim sa cá lặn”, nước Đại Việt có thêm châu Ô châu Rí nhờ Huyền Trân Công chúa… Sắc đẹp đàn bà bao phen làm “khuynh quốc nghiêng thành”, tan nát cơ đồ, nhưng xét ra thì phụ nữ cũng chỉ là nạn nhân tội nghiệp nằm trong trận đồ kế mỹ nhân của đàn ông chinh phạt… đàn ông.
Còn bàn đến những người đàn bà thay đổi thế giới thực sự hoàn toàn bằng giá trị đàn bà, trước hết phải kể đến Nữ hoàng Cleopatra. Cha mất, nàng loại người em trai ra khỏi vũ đài chính trị và đoạt luôn quyền cai trị Ai Cập độc lập với tư cách là một nữ hoàng. Julius Caesar - thống soái tối cao của La Mã cũng phải dịu dàng như con mèo ngoan nằm trong vòng tay nàng. Marcus Antonius - thống chế La Mã lừng danh cũng không thoát khỏi vòng ngực ấm nóng, sự thông thái của nàng và cùng nàng cai quản đất nước Ai Cập cổ đại mênh mông. Không thể nói hai người đàn ông xuất sắc nhất lịch sử thế giới La Mã cổ đại “chết ngợp" bởi vẻ đẹp nóng bỏng của Cleopatra mà không đề cập sức mạnh từ trái tim yêu thương và vẻ lịch lãm quyến rũ của nàng.
Ở Phương Đông huyền bí, Võ Tắc Thiên – nữ hoàng đế duy nhất của Trung Hoa phong kiến cũng tung hoành “lấp biển vá trời”. Con đường làm thay đổi thế giới trung đại thời nhà Đường của Võ Tắc Thiên chuyển biến từ vị trí tài nhân nhỏ bé đến hoàng hậu, hoàng thái hậu, và đỉnh cao quyền lực là hoàng đế. Võ Tắc Thiên đẹp, cái đẹp ấy cùng lắm chỉ là “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng”. 
Sắc đẹp làm nên giá trị người đàn bà với ý nghĩa mỹ học chỉ có thể dành cho chim ngắm, thụ hưởng hoặc cùng lắm trở thành quyền lực sai khiến vua chồng, vua cha. Võ Tắc Thiên không chỉ điều khiển vua chồng vua con mà còn chiếm luôn quyền để làm hoàng đế. Các nhà sử học đã phải công nhận bà có tài trị nước, óc quyết đoán, triều chính vì thế không rối loạn, nhân dân yên ổn làm ăn, còn những lộn xộn xung đột trong triều chỉ là việc riêng của họ Lý. Sự việc bà chiếm ngôi hoàng đế chứng tỏ người phụ nữ này đã vượt qua giới hạn lễ giáo phong kiến và tiến tới chế độ bình đẳng giới tiến bộ. 
Cả một hệ thống quan lại học hành đỗ đạt thân dài vai rộng, trí lự đàn ông mà phải chịu dưới quyền nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên trong nhiều năm thì rõ ràng người đàn bà quyền lực ấy cũng đáng để đám mày râu cung phụng.
Lịch sử đã không bỏ sót loại đàn ông ươn hèn Trần Kiện, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống cầu an hàng giặc. Trước đó hơn một thiên niên kỉ, đàn ông cũng đã dưới trướng Bà Trưng, sau đấy là Bà Triệu đánh giặc phương Bắc. Sử thần Lê Văn Hưu nghị luận: “Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi ! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy”.
"Đàn bà chúng tôi chỉ cần làm cái chuyện bé tí là... tìm cách đẻ ra nhiều người đàn ông vĩ đại nhất" - (minh họa tranh Bùi Xuân Phái)
Người ta mặc định đàn bà là phái yếu thực ra là lối ví von mang ý nghĩa sức lực thể xác, đậm màu sắc thương hại. Còn xét sức mạnh tình cảm tinh thần, đàn bà sở hữu một trong những món vũ khí lợi hại, đó chính là nước mắt. Nước mắt bào mòn tính lạnh lùng, gặm nhấm tính hung hãn hận thù, dập tắt ngọn núi lửa nóng giận trong lòng đàn ông. Không thiếu đàn ông liêu xiêu thân bai danh liệt bởi “vua nghe hoàng hậu mất nước, quan theo vợ mất chức”. Vì thế, đàn bà thay đổi thế giới trước hết là thay đổi đàn ông.
Tuy nhiên, đôi lúc tôi nghi ngờ đàn bà có thực sự bị thua thiệt, lép vế trước đàn ông? Đàn bà vừa làm cho đàn ông sung sướng, si mê, run rẩy, xao xuyến, tươi xanh..., vừa làm cho đàn ông mệt mỏi, phấp phỏng, đau khổ, chán nản cuộc sống...Đàn bà vừa hiền thục, dịu dàng khi làm mẹ, làm chị, người yêu, làm vợ, em gái, cháu gái nhân hậu, ấm áp... lại vừa đáo để, nanh nọc... khi làm bà chủ, làm sếp... sai khiến, bó buộc, tước đoạt bầu trời tự do của đàn ông, đẩy đàn ông ra xa. Một người đàn bà thành đạt trong công việc, lịch sự ở phòng khách, đảm đang trong nhà bếp, quyến rũ trên giường ngủ thì đố gã đàn ông nào chạy nổi. Đàn bà thông minh gợi cảm quyến rũ, chinh phục, làm điêu đứng, thay đổi cả thế giới đàn ông cũng chẳng có gì lạ!
Đằng sau sự thành công hay thất bại của người đàn ông bao giờ cũng có bóng dáng người phụ nữ. Khuynh đảo thế giới là đàn bà, và đàn bà càng đẹp càng làm đàn ông điên đảo, đổi thay. Triết gia, tiểu thuyết gia Jean Paul Sartre đoạt Giải thưởng Nobel danh giá đã nói rằng: “Đối với đàn ông, trên đời có ba thứ nguy hiểm nhất: Rượu ngon làm ta mất trí. Tiền nhiều thì làm ta bất chính. Đàn bà đẹp thì làm ta đau khổ nhiều nhất. Vì: Rượu ngon khiến ta thích uống. 
Tiền nhiều thường làm mờ át lương tri. Đàn bà đẹp thường hay phản bội. Do đó tốt nhất là nên mất cả ba”. Mất rượu ngon thì vẫn còn nguồn vui nhấm nháp khác như cà-phê đắng chẳng hạn; mất cái sự tiền nhiều dù có xót xa vẫn còn cái sự tiền ít và vật chất ít để sống tốt thanh bạch; mất đàn bà đẹp chẳng lẽ tìm đàn bà xấu để sống, để yêu? Hay là sống cô đơn? Có ai sống mà không cần đàn bà!
Đứng trước phụ nữ, tôi luôn thuyết phục các nàng rằng chính đàn ông mới là những người khổng lồ và làm ra lịch sử loài người. Ấy vậy mà có nàng lại phẩy tay bảo: "Những chuyện kì vĩ mất thời gian, hao mòn trí lực như đoạt giải Nobel, chế tạo phi thuyền bay lên mặt trăng hay làm bá chủ thế giới, chúng tôi dành cho đàn ông các anh làm. Đàn bà chúng tôi chỉ cần làm cái chuyện bé tí là... tìm cách đẻ ra nhiều người đàn ông vĩ đại nhất". Nghe vậy, tôi chỉ còn biết khép mình, im lặng.
  • SƯƠNG NGUYỆT MINH

Chủ Nhật, ngày 19 tháng 10 năm 2014

Phản ứng đáng yêu của cậu bé khi lần đầu tiên câu được cá

Phản ứng đáng yêu của cậu bé khi lần đầu tiên câu được cá
Đoạn video quay lại phản ứng của một cậu bé khi câu được con cá đầu tiên trong đời mình được đăng tải gần đây đã khiến nhiều người xem thích thú.
Khi đang câu cá, cậu bé chợt nhận ra mình câu được một vật và hốt hoảng đưa nó xuống nước. Tuy nhiên được bố cho biết đó có thể là con cá, cậu bé đã lấy lại bình tĩnh và kéo cần câu lên.
Vui mừng vì câu được con cá, rất muốn chạm vào nó, nhưng cậu bé lại sợ bị cắn và liên tục hỏi bố những câu hỏi: "Bố có thể cầm con cá không? Con đã bắt được nó. Nó là một con cá thật đẹp. Tên của nó là gì? Nó có thích con không?".
Khi được bố hỏi muốn đặt tên gì cho con cá, cậu bé nhanh chóng trả lời là "Free". Vẻ đáng yêu của cậu bé khiến nhiều người xem thích thú.

Xem Video:
video
  • Một thế giới

Hình thức của nhà nước

         Hình thức nhà nước là cách tổ chức quyền lực nhà nước cùng với các phương pháp thực hiện quyền lực đó. Hình thức nhà nước được hình thành từ ba yếu tố (phương diện): hình thức chính thể, hình thức cấu trúc lãnh thổ và chế độ chính trị. 
1. Hình thức chính thể 
- Chính thể quân chủ:  là hình thức trong đó quyền lực nhà nước tập trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầu nhà nước và chế độ chuyển giao theo nguyên tắc thừa kế. Hình thức chính thể quân chủ lại có những biến dạng nên thường được chia thành hai loại: chính thể quân chủ tuyệt đối và chính thể quân chủ tương đối.
+ Chính thể quân chủ tuyệt đối: quyền lực nhà nước tập trung toàn bộ trong tay người đứng đầu nhà nước. Hình thức chính thể này thường tồn tại ở các nhà nước phong kiến trước đây. Trong nhà nước này không có Hiến pháp, người đứng đầu nhà nước là vua, hoàng đế, lãnh chúa.có quyền lực vô hạn.  
+ Chính thể quân chủ tương đối: (còn gọi là quân chủ đại nghị hay quân chủ lập hiến). Ở Nhà nước này đã có Hiến pháp. Chính Hiến pháp đã làm hạn chế quyền lực tối cao của người đứng đầu Nhà nước, vì thế người đứng đầu Nhà nước chỉ nắm một phần quyền lực tối cao của Nhà nước, phần còn lại sẽ thuộc về một cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất do nhân dân bầu ra. 
- Chính thể cộng hòa: là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một cơ quan cấp cao của nhà nước do nhân dân bầu ra theo nhiệm kỳ. 
+ Cộng hòa qúy tộc: Trong các nước cộng hòa quý tộc chỉ những người thuộc tầng lớp quý tộc mới có quyền tham gia bầu cử để thành lập ra cơ quan đại diện của nhà nước.
+ Cộng hòa dân chủ: là nhà nước trong đó luật pháp quy định cho nhân dân có quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện của mình. Hình thức cộng hòa dân chủ lại có nhiều loại như:
+ Cộng hòa tổng thống: Tổng thống do nhân dân bầu trực tiếp và có quyền lực rất lớn. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia và đứng đầu chính phủ. Chính phủ là cơ quan tư vấn cho tổng thống.
+ Cộng hòa đại nghị: Cử tri bầu ra nghị viện, nghị viện bầu ra Tổng thống vì vậy vai trò Tổng thống không lớn bằng ở nhà nước có hình thức chính thể cộng hoà tổng thống. Chính phủ do Tổng thống lập ra nhưng phải trên cơ sở đảng phái nào chiếm đa số ghế trong nghị viện.  
      Ngoài ra còn có chính thể cộng hòa lưỡng tính: là có sự pha trộn giữa Cộng hòa tổng thống và Cộng hòa đại nghị (như nhà nước Pháp). Ở nhà nước này, Tổng thống do nhân dân bầu ra. Chính phủ có Thủ tướng và do Tổng thống lập ra nhưng phải chịu trách nhiệm trước nghị viện. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa tác động trực tiếp đến bộ máy hành pháp. Nhìn chung ở nhà nước này có xu hướng tăng quyền cho Tổng thống (so với Cộng hòa đại nghị) và giảm quyền của Quốc hội.  
2. Hình thức cấu trúc lãnh thổ
Là sự cấu tạo của nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với cơ quan nhà nước ở địa phương. Có hai dạng cấu trúc lãnh thổ cơ bản là: nhà nước đơn nhất vaø nhaø nöôùc lieân bang.
- Hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất là nhà nước trong đó có chủ quyền quốc gia chung và có một hệ thống cơ quan thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Hình thức cấu trúc liên bang: là nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại. Trong nhà nước có hai hệ thống cơ quan, một hệ thống cơ quan cho toàn liên bang và mỗi nước thành viên lại có một hệ thống cơ quan riêng. Trong nhà nước liên bang có chủ quyền quốc gia chung cho toàn liên bang, đồng thời lại có chủ quyền riêng cho mỗi nước thành viên. Về hệ thống pháp luật thì có hệ thống pháp luật chung cho toàn liên bang và mỗi nước thành viên lại có hệ thống pháp luật riêng. Ngoài ra còn có hình thức cấu trúc nhà nước liên minh và hình thức cấu trúc nhà nước tự trị. 
3. Chế độ chính trị 
Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, thủ đoạn mà nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước.  Khi nghiên cứu về hình thức nhà nước, phải xem xét đến chế độ chính trị của nhà nước đó vì nó có quan hệ với bản chất nhà nước, đến đời sống chính trị - xã hội nói chung. Chế độ chính trị là hiện tượng dễ biến động, vì nếu hình thức chính thể hoặc cấu trúc lãnh thổ có thay đổi thì chế độ chính trị cũng thay đổi theo. Có hai dang chế độ chính trị cơ bản là chế độ dân chủ và chế độ phản dân chủ.
- Chế độ dân chủ: gồm các loại: dân chủ quý tộc, dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhà nước thể hiện sự toàn quyền của nhân dân, nhân dân được hưởng các quyền tự do dân chủ mà pháp luật đã quy định. Quyền lực nhà nước được thực hiện bởi một cơ quan nhà nước do nhân dân bầu ra. Cơ quan nhà nước phải chịu sự giám sát của nhân dân, báo cáo công tác trước nhân dân.
- Chế độ phản dân chủ: là nhà nước vi phạm đến các quyền tư do, dân chủ của nhân dân. Khi chế độ phản dân chủ phát triển cực đoan thì trở thành chế độ độc tài, phát xít.

Chức năng của nhà nước

     Chức năng của nhà nước là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra của nhaø nöôùc. Chức năng của nhà nước thể hiện vai trò và bản chât1 của nhà nước.
Chức năng của nhà nước được xác định dựa trên bản chất của nhà nước đó, do cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyết định. Chức năng của nhà nước cũng có sự thay đổi tuỳ thuộc vào bản chất và những nhiệm vụ đặt ra trong từng giai đoạn phát triển của xã hội.  
1. Chức năng của nhà nước
- Chức năng đối nội
là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước, diễn ra trong phạm vi nội bộ đất nước như: tổ chức quản lý nền kinh tế và các mặt văn hoá, xã hội, giáo dục; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; trấn áp những phần tử chống đối chính quyền, đi ngược lại lợi ích chung của xã hội… Chức năng này còn gọi là chức năng quản lí mọi măt đời sống xã hội.
- Chức năng đối ngoại. 
Chức năng đối ngoại là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước diễn ra trong mối quan hệ với các quốc gia khác, các dân tộc khác như: thiết lập mối quan hệ bang giao với các quoác gia khaùc; gia nhaäp vaøo caùc toå chöùc quoác teá vaø khu vöïc; phoøng thuû ñaát nöôùc, choáng giaëc ngoaïi xaâm…
Giữa chức năng đối nội và chức năng đối ngoại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó chức năng đối nội giữ vai trò quan trọng, làm cơ sở cho việc thực hiện chức năng đối ngoại. Ngược lại, chức năng đối ngoại cũng có tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện chức năng đối nội. 
2. Hình thức thực hiện và phương pháp thực hiện chức năng của nhà nước
- Để thực hiện được chức năng, Nhà nước thường sử dụng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, trong đó có ba hình thức cơ bản: xây dựng pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật.  Tương ứng với ba hình thức đó thì có ba loại cơ quan: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. 

- Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nhà nước, mà các phương pháp để thực hiện chức năng của nhà nước cũng rất đa dạng. Nhưng nhìn chung các nhà nước thường sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế. Tuỳ thuộc vào bản chất của nhà nước mà sử dụng phương pháp nào làm phương pháp cơ bản. Nhà nước XHCN chủ yếu là giáo dục, thuyết phục, động viên, khuyến khích mọi người tham gia vào quản lý xã hội, quản lý nhà nước. Biện pháp cưỡng chế chỉ áp dụng khi cần thiết và cũng là dựa trên cơ sở thuyết phục.

Đặc trưng của nhà nước

 Trong các giáo trình pháp luật đại cương hiện nay, thuật ngữ đặc trưng của nhà nước còn được sử dụng là thuộc tính của nhà nước. Nhưng về cơ bản, việc sử dụng "đặc trưng" cơ bản của nhà nước là phổ biến. 
Trong xã hội có rất nhiều tổ chức khác nhau, nhưng trong đó nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, giữ vai trò làm trung tâm vì nó tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của toàn xã hội. Ngược lai, xã hội cũng là cơ sở tồn tại, phát triển của nhà nước. So với các tổ chức khác thì nhà nước có những đặc điểm riêng nên nhà nước có thể tác động mạnh mẽ, toàn diện đến mọi mặt đời sống xã hội và chi phối đến các tổ chức khác trong xã hội. 
Những thuộc tính (đặc trưng) cơ bản của nhà nước thể hiện:
-    Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng
Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt. Chính quyền là biểu tượng căn bản của sức mạnh quyền lực. Để thực hiện quyền lực, nhà nước có một lớp người chuyên làm nhiệm vụ quản lý. Lớp người này được tổ chức thành các cơ quan nhà nước, cùng với quân đội, cảnh sát, nhà tù… nhằm bảo đảm cho ý chí giai cấp thống trị trở thành ý chí thống trị toàn xã hội (còn gọi là ý chí nhà nước).
-    Nhà nước có chủ quyền quốc gia
Nhà nước có lãnh thổ và thực hiện việc phân chia dân cư thành các đơn vị hành chính lãnh thổ, từ đó hình thành các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương. Việc phân chia này là để nhà nước thực hiện sự quản lý đối với xã hội, đồng thời thiết lập mối quan hệ giữa nhà nước với công dân.
Đặc trưng này làm xuất hiện mối quan hệ giữa từng cá nhân trong cộng đồng với nhà nước. Mối quan hệ này thể hiện dưới dạng các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân do luật định qui định. Chủ quyền quốc gia thể hiện quyền độc lập, tự chủ của nhà nước trên một lãnh thổ xác định; quyền độc lập hành xử
Chủ quyền quốc gia của nhà nước và mang tính chính trị, pháp lý. Chủ quyền quốc gia được thể hiện ở quyền độc lập, tự quyết của nhà nước trong các vấn đề đối nội, đối ngoại của nhà nước mà không hề bị chi phối bởi yếu tố nào ở bên ngoài. Mọi quốc gia dù lớn hay nhỏ, khi đã có chủ quyền quốc gia thì đều độc lập, bình đẳng với nhau và không thể bị chia cắt. các vấn đề đối nội, đối ngoại
-    Nhà nước ban hành pháp luật
Trong xã hội có giai cấp, chỉ có nhà nước mới có quyền ban hành pháp luật. Pháp luật được coi là công cụ hữu hiệu nhất để nhà nước tổ chức và thực hiện quyền lực của mình. Tất cả các quy định của nhà nước đều phải được thể hiện trong những quy định của pháp luật và được bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp cưỡng chế nhà nước.
-    Nhà nước thu thuế và phát hành tiền
Nhà nước có quyền quy định các loại thuế và thu thuế dưới những hình thức nhất định nhằm có nguồn tài chính để nuôi dưỡng lớp người làm việc trong bộ máy nhà nước và để chi phí cho những công việc chung của xã hội. Trong quốc gia, nhà nước là một tổ chức xã hội duy nhất có quyền phát hành tiền.

Nguồn gốc và bản chất của nhà nước

1. Nguồn gốc của nhà nước
a. Những quan điểm cơ bản về nguồn gốc của nhà nước trước chủ nghĩa Mác - Lênin
-  Thuyết thần học: cho rằng mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới đều do thượng đế tạo ra và sắp xếp theo một trật tự nhất định, vì vậy Nhà nước cũng do thượng đế tạo ra nhằm bảo vệ trật tự chung trong xã hội loài người. Do đó, Nhà nước là hiện trượng siêu nhiên, vĩnh cửu, bất biến.
- Thuyết gia trưởng lại chứng minh rằng Nhà nước là kết quả từ sự phát triển của gia đình, coi đó là hình thức phát triển tự nhiên của cuộc sống, gia tộc được mở rộng dần ra thành Nhà nước. Do đó, cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước cũng giống như ở gia đình, nghĩa là trong gia đình thì gia trưởng (quyền của con trai trưởng) có quyền chi phối tối cao đối với gia tộc. Từ một gia tộc phát triển thành nhiều gia tộc gọi là họ tộc, trong họ tộc có trưởng họ. Nhiều gia tộc hợp lại thành thị tộc, nhiều thị tộc kết hợp lại thành chủng tộc. Nhiều chủng tộc kết hợp thành quốc gia. Từ đó xuất hiện nhà nước.
- Thuyết kế ước cho rằng Nhà nước ra đời từ một khế ước (hợp đồng). Khế ước này được ký kết giữa các thành viên trong xã hội để tổ chức ra Nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích cho các thành viên trong xã hội. Khi nào Nhà nước không thực hiện được vai trò của mình, không bảo vệ được các quyền lợi cho nhân dân hoặc Nhà nước sử dụng quyền lực không công minh thì nhân dân có quyền lật đổ Nhà nước để thay thế bằng một Nhà nước khác. Mặc dù thuyết này chưa đưa ra cơ sở khoa học giải thích về nguồn gốc Nhà nước nhưng nó cũng có ý nghĩa tạo tiền đề cho cuộc cách mạng tư sản sau này lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến và lập nên Nhà nước tư sản.
-    Thuyết bạo lực cho rằng Nhà nước là kết quả của việc sử dụng bạo lực của thị tộc này với thị tộc khác trong quá trình xảy ra chiến tranh giữa các thị tộc. Kết quả là thị tộc giành chiến thắng đã nghĩ ra một hệ thống cơ quan đặc biệt gọi là Nhà nước.
Các quan điểm nêu trên chưa đưa ra cơ sở khoa học để giải thích đúng đắn về nguồn gốc Nhà nước, cho nên các quan điểm này đều không giải quyết được vấn đề về bản chất Nhà nước.  
b. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin 
Nhà nước là một phạm trù lịch sử, ra đời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định; nhà nước cũng mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa. Bởi trong lịch sử phát triển của xã hội đã có những giai đoạn không có nhà nước như giai đoạn nguyên thủy và khi chủ nghĩa cộng sản được xây dựng thì cũng không còn nhà nước. Sự xuất hiện nhà nước gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự ra đời của chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sự phân chia xã hội thành giai cấp
Xã hội nguyên thủy là xã hội không có Nhà nước. Ở thời kỳ này, quyền lực của xã hội là quyền lực của thị tộc và bộ lạc – một tổ chức quyền lực công cộng xã hội sơ khai.
Trong xã hội đã hình thành những quy tắc xử sự chung đó là tập quán, phong tục, đạo đức, các tín điều tôn giáo... Việc tuân theo những quy tắc xử sự này là hoàn toàn do ý thức tự giác và trở thành thói quen, nếp sống của các thành viên trong xã hội, nhưng nếu ai vi phạm cũng có thể bị đưa ra hội đồng thị tộc xử phạt.
-    Sự xuất hiện nhà nước do sự phát triển lực lượng sản xuất làm xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Đó là sự phát triển phân công lao động xã hội.
Mác và Ăng-ghen khi nghiên cứu về quá trình tồn tại, phát triển, thay đổi của xã hội loài người, đã khái quát sự thay đổi đó qua 3 lần phân công lao động như sau:
+ Ngành chăn nuôi ra đời tạo thành một ngành chính trong xã hội. Do con người ngày càng biết cải tiến công cụ lao động để phục vụ cho việc săn bắt thú rừng, trồng trọt để đảm bảo duy trì cuộc sống. Năng suất lao động ngày càng tăng lên, trong xã hội đã bắt đầu có sản phẩm dư thừa… nghề chăn nuôi đã ra đời, trở thành một ngành kinh tế độc lập, tách ra khỏi ngành trồng trọt. Mầm mống của sự tư hữu đã xuất hiện, xã hội bắt đầu phân chia thành người giàu, người nghèo.
+ Ngành tiểu thủ công nghiệp ra đời. Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi thì ngành trồng trọt cũng phát triển mạnh, tạo ra năng suất lao động ngày càng cao, càng làm cho sự tư hữu có điều kiện phát triển. Đặc biệt từ khi con người tìm ra kim loại đã biết chế tạo ra những công cụ lao động làm cho năng suất lao động cao hơn. Cũng chính từ đó có một số người chuyên làm nghề chế tạo kim loại, đồng thời nghề dệt, nghề làm đồ gốm cũng ra đời và phát triển.
+ Sự xuất hiện sản xuất hàng hóa giản đơn. Qua hai lần phân công lao động nêu trên đã làm cho những hoạt động lao động sản xuất trong xã hội có sự chuyên môn hoá, tách thành những ngành sản xuất riêng. Từ đó làm xuất hiện nhu cầu trao đổi hàng hoá trong xã hội – sản xuất hàng hóa giản đơn. Sự ra đời và phát triển của ngành thương nghiệp đã làm xuất hiện đồng tiền là vật trung gian để trao đổi hàng hoá.
- Sự phân hóa xã hội làm xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp
Trước những biến cố của xã hội thì tổ chức thị tộc, bộ lạc đã trở nên bất lực, không thể phù hợp được nữa. Xã hội đòi hỏi phải có một tổ chức mới có đủ khả năng điều hòa được những mâu thuẫn trong xã hội.  
Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước chiếm hữu nô lệ, xuất hiện khi cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp chủ nô xây dựng nhà nước, một bộ máy trấn áp để bảo vệ lợi ích của mình và đàn áp sự phản kháng của giai cấp nô lệ. V.I.Lênin viết: “Nhà nước là một sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”[1].
Từ việc nghiên cứu về nguồn gốc của Nhà nước, chúng ta thấy Nhà nước là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, nó chỉ ra đời và tồn tại khi trong xã hội có những điều kiện nhất định, đó là xã hội có sự xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp. Khi nào trong xã hội không còn những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước thì khi đó Nhà nước sẽ không còn nữa. Khi đó chúng ta nói rằng Nhà nước đã tiêu vong.
2. Bản chất của Nhà nước
- Khái niệm
Nhà nước là một bộ máy quyền lực đặc biệt do giai cấp thống trị lập ra nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội và thực hiện chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị xã hội.
-    Bản chất của Nhà nước
 Theo chủ nghĩa Mác-Lênin Nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp, do đó Nhà nước vừa là sản phẩm, vừa là biểu hiện của xã hội có giai cấp. Vì vậy Nhà nước luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc, tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất Nhà nước. Lênin đã viết: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được”. Bản chất này được thể hiện:
Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay giai cấp cầm quyền, là  giai cấp đã tổ chức ra và sử dụng bộ máy Nhà nước đó để nắm quyền thống trị xã hội, bảo vệ địa vị, quyền lợi của giai cấp mình. Nhà nước là công cụ sắc bén nhất để giai cấp thống trị sử dụng nó duy trì sự thống trị của giai cấp mình đối với toàn xã hội. 
Bản chất giai cấp của Nhà nước thể hiện rất rõ trong định nghĩa của Lênin về Nhà nước: “Nhà nước là một bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác”. Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác thể hiện ở ba loại quyền lực: quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế và quyền lực tư tưởng. Trong đó quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định, là cơ sở để bảo đảm cho sự thống trị giai cấp. Nhưng bản thân quyền lực kinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột, vì vậy cần phải có một bộ máy Nhà nước để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị về mặt kinh tế nhằm đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị bóc lột. Nhờ có Nhà nước nên giai cấp thống trị thoạt đầu chỉ giữ quyền thống trị về mặt kinh tế, nhưng sau đó đã trở thành giai cấp thống trị cả về mặt chính trị và tư tưởng.
Từ định nghĩa về Nhà nước của Lênin, chúng ta thấy, nếu trong xã hội có giai cấp đối kháng thì Nhà nước luôn thể hiện theo đúng nghĩa của nó: là bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này (giai cấp thống trị) đối với giai cấp khác (giai cấp bị thống trị). Nếu trong một xã hội có giai cấp nhưng các giai cấp này không mâu thuẫn đối kháng thì khi đó Nhà nước không còn thể hiện theo đúng nguyên nghĩa của nó nữa, vì Nhà nước này không phải chỉ nhằm vào mục đích duy trì sự thống trị giai cấp, mà nó còn là công cụ của đại đa số nhân dân lao động sử dụng để tổ chức quản lý mọi mặt đời sống xã hội, nhằm thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội. Như nhà nước xã hội chủ nghĩa với bản chất là chuyên chính vô sản, nó không còn là nhà nước theo đúng nghĩa nữa mà chỉ là “một nửa Nhaø nöôùc”.
Muốn hiểu được bản chất giai cấp của Nhà nước, chúng ta cần xem xét quyền lực Nhà nước đó thuộc về giai cấp nào, Nhà nước đó vì lợi ích giai cấp nào trong xã hội, giai cấp này chiếm thiểu số hay đa số trong xã hội. Tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất Nhà nước, nhưng đồng thời Nhà nước còn thể hiện bản chất xã hội.


[1] V.I.Lê-nin: Toàn tập, t.23, Nxb Tiến Bộ, M.1976, tr.09.