Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Năm, ngày 15 tháng 9 năm 2016

Lưu Quang Vũ và khát vọng được thành thực

Chúng ta đang sống trong những ngày mùa thu lịch sử, khắp nơi trên cả nước đang nô nức kỉ niệm ngày khởi nghĩa giành chính quyền thành công. Cũng trong những ngày này, nhiều độc giả, khán giả và người làm sân khấu trong cả nước lại rưng rưng hoài niệm về một mất mát to lớn của nền văn học, nền kịch nghệ nước nhà 28 năm trước... 

Thứ Sáu, ngày 26 tháng 8 năm 2016

Huyết án rợn người: Giết vợ, 3 con rồi mổ bụng, moi ruột tự sát (kỳ 1)

Một vùng quê thanh bình yên ả, nhưng khi màn đêm buông xuống, không khí dường như um ám, nặng nề hơn, ở đây buổi tối ít ai dám ra ngoài một mình. Dù sự việc đã qua từ lâu nhưng mỗi khi nhắc lại nhiều người không khỏi rợn người.

Nếu câu chuyện Chí Phèo giết Bá Kiến, rồi tự mổ bụng mình tự tử là hình ảnh của văn chương, do nhà văn sáng tạo ra, thì chuyện một người đàn ông ở làng Đại Hoàng giết một lúc 3 mạng người thân, rồi tự rạch bụng, moi ruột mình, là chuyện có thật.
Câu chuyện đã từ rất lâu, nhưng cứ mỗi lần nhắc đến thảm án 31 năm trước, người dân làng Vũ Đại vẫn vẫn rùng mình sợ hãi. Cách đây 31 năm, một vùng quê nghèo bình yên bỗng dậy sóng gió. Khắp nơi nơi nhưng câu chuyện thi thầm về bi kịch đã hủy hoại một gia đình, người thương sót, kẻ sợ hãi. Trần Văn Sửu từ một người chồng yên vợ thương con bỗng hóa thân thành một con quỷ dữ đột lốt người  vung dao giết chết vợ và 3 con của mình rồi điên lọan mổ bụng moi ruột mình tự vẫn ngay trước mặt lực lượng dân quân xã.
Đến giờ, huyết án vẫn không có lời giải đáp: Tại sao Sửu lại giết vợ? Ghen tuông? Bỗng dưng điên loạn? Hung tính nổi lên?…Những người trong họ của Sửu lại đưa ra một nguyên nhân mà không ai có thể ngờ tới: Sửu giết vợ con vì bị…bỏ bùa!
Hãy cùng chúng tôi tìm về làng Đại Hoàng, lật lại vụ án thảm khốc và bí ẩn năm xưa, để mong tìm được phần nào lời giải cho câu chuyện kinh hãi này.
Kỳ 1: Trắng đêm trong căn nhà hoang
Về đến làng Đại Hoàng (tên gọi cũ của xóm 15, xã Hòa Hậu, quê của nhà văn Nam Cao) trời đã về chiều. Hỏi mấy cụ già ngồi chơi cờ tướng ven đê về vụ huyết án, cụ nào cũng lắc đầu quầy quậy: “Không biết”, “Hỏi làm gì”, “Có chuyện gì à”…
Không phải vì bàn cờ đang đến nước thắng thua tàn cuộc mà bởi những nét hoảng sợ đầy hồi tưởng trên khuôn mặt của những người từng trải.
Những bước chân lạnh toát
“Muốn biết rõ chuyện anh Sửu (Trần Văn Sửu - PV) thì đi tìm cụ Toản, cách đây dăm nhà. Người chứng kiến tất cả. Cứ thẳng đường bê tông mà đi” – một cụ ái ngại chỉ đường và cũng chỉ cho biết thế.
Tìm gặp được cụ Toản thì cũng đã đến lúc lên đèn. Hơn 80 tuổi, cụ Toản lúc lẫn, lúc tỉnh theo kiểu “bệnh người già”. Cụ Toản có hai người con trai nhưng ở một mình cách nhà Trần Văn Sửu không xa.
Có gì cứ hỏi, biết gì tôi nói đấy. Người khác thì sợ nhắc chuyện anh Sửu nhưng tôi không sợ. Thật tội. Nó hiền như cục đất ấy mà”- cụ Toản nói nhưng đôi mắt như đang nghĩ ngợi lại chuyện gì.
Chuyện thì sẽ hỏi nhưng muốn đến ngôi nhà của Trần Văn Sửu để xem trước thì cụ Toản lắc đầu: “Nói nhỏ thôi. Mấy đứa con tôi mà biết thì không cho dẫn đi đâu”. Theo lời cụ Toản, ngôi nhà của Sửu đã bỏ hoang hơn 30 năm nay. Không ai dám ở, không ai dám đến. Ngày giỗ 5 người họ hàng cũng làm chỗ khác chứ không về ngôi nhà ấy. Họ sợ oan hồn mấy người không siêu thoát đến ám ảnh
Cụ Toản vấn lại tóc, với tay lấy cây đèn pin, vịn cây gậy chống khập khểnh dẫn đường. Anh bạn đồng nghiệp đi cùng nghe chuyện, tính thế bàn lùi: “Hay thôi, để mai trời sáng…”. Nhưng người thì đã nhờ, nhà thì cũng sắp đến. Không đi cũng khó lại mang tiếng hèn. Thế là bấm bụng đi! Đi mà bước chân lạnh toát.
Con đường đất ngoằn nghèo (ở Hà Nam, hầu như tất cả các con đường đều được bê tông hóa) dẫn lối vào nhà Trần Văn Sửu. Các con đường khác đều sạch sẽ, có lẽ chỉ có con đường này là rậm rạp cỏ ven đường che kín lối đi. Cứ khoảng 50m, cụ Toản lại rọi đèn pin gạt nhẹ những ngọn rào tre dấp ngang đường.
“Chắc lâu lắm không có ai qua đây”- cụ Toản nói. Đi hơn 300m nữa, cuối con đường là một chiếc cổng nửa gỗ, nửa tre đã mục nát sụp hơn nữa. Sau chiếc cổng, ngôi nhà Trần Văn Sửu bỏ hoang 30 năm nay thấp thoáng hiện ra…
Rùng mình trong đêm vắng
Đó là ngôi nhà 3 gian, hai trái theo đúng kiểu truyền thống của đồng quê Bắc Bộ những năm trước. Xung quanh cỏ dại ngập bụng người. Trong ánh đèn pin lấp lóe, rất dễ nhận ra ngay sát trái nhà là cây mít  đã cỗi.
Cây mít là nơi đứa con đầu tiên Sửu giết. Lúc bố nó cầm dao vung lên thì nó đang ăn mía trên chiếc võng này”- bà Toản nói giọng ớn lạnh. Cơn gió đêm hè thổi ngang qua cộng với tiếng mọt kêu trong nhà nghe như tiếng kẽo kẹt võng đưa. Chẳng phải một mình, anh bạn đi kế bên cũng rùng mình, sởn gai ốc.
Cụ Toản bảo xem thế thôi, mai trời sáng đến tiếp. “Đừng dại mà ở đây cả đêm. Không được đâu…”- cụ bà khuyên thành thật. “Đêm đêm, người ta vẫn nghe thấy tiếng rên rỉ khóc than của người vợ, tiếng trẻ khóc thét thất thanh và cả tiếng khóc rưng rức, ân hận của anh Sửu. Chẳng ai đến ngôi nhà ban ngày chứ đừng nói ban đêm”- cụ Toản nói.
Bỏ đi thì không thỏa mãn cái trí tò mò lại càng muốn chứng thực cái điều cụ bà đã nói. Đành mượn đèn pin của bà cụ rồi hai anh em ở lại. Ở lại nhưng cứ nghĩ đến lời cụ Toản mà gai gai sống lưng dù chân vẫn bước.
Ngôi nhà được dựng bằng gỗ nên vẫn còn nguyên. Trải qua mưa gió nhưng kèo cột vẫn còn vững chắc. Duy chỉ có chiếc cửa đã mất một nửa nên rã xuống chắn ngang lối đi. Xộc vào mũi khi bước vào là một mùi ẩm mốc nồng nặc bốc lên. Bỗng:Xoảng! Một cái bóng loang loáng vút đi và một vật nhẹ rơi xuống ngay dưới chân. Hai anh em nhìn nhau rụng rời: “Hay là chuyện cụ Toản nói là có thật?”.
Hoảng hồn bấm đèn pin xoi xuống thì cái bóng biến mất .Thì ra chiếc gương nhỏ đặt trước cửa rơi xuống hắt lên ánh đèn pin loang loáng như có bóng ai. Hú hồn, chân của hai anh em cứ díu lại, mở mãi cũng không ra. 
Chính diện trong nhà là một chiếc bàn thờ nhỏ phủ đầy mạng nhện. Phía trên là những bát hương lạnh khói tàn. Cửa mở nên đom đóm lập lòe bay vào như những đôi mắt vô hình dõi theo nhìn ớn lạnh. Bên dưới, một chiếc bàn gỗ đã mục chân với mấy chiếc chén sứt tai phủ dày một lớp bụi.
Nhìn chiếc bàn, lại nhớ lời kể của cụ bà khi nãy: “Đứa con thứ hai bị Sửu đâm chết gục ngay tại bàn lênh láng máu”. Chiếc bàn gỗ mục và thẫm lại. Vì lâu ngày hay vì máu đứa bé vẫn ngấm vào đây?
Trái phải căn nhà là hai chiếc giường kiểu cũ bằng gỗ đã mất thang, không có chăn chiếu gì. Nếu theo lời cụ Toản thì người vợ nằm ôm đứa con đã bị Sửu đâm, chém, chết gục trên vũng máu chính là chiếc giường bên phải.
Phía dưới gầm là mấy mảnh quần áo cũ chuột rúc vào làm tổ. Đang mải bấm đèn soi xét thì tự nhiên thấy chân mình đập mạnh:“Ng..aoooooooo!”. Cùng lúc ấy, cơn gió đêm hè đập cánh cửa sổ mở tung.
Bật ngửa người để tránh mà đầu gối run lên, mồ hôi chạy dọc sống lưng. Thì ra, mấy con mèo hoang vào săn mồi ở dưới gầm giường thấy động phá lối xông ra. Anh bạn đi cùng đôi mắt trợn tròn mãi mới khép lại được. “Đi. Đi về!”- anh bạn tỏ rõ quyết tâm. Thuyết phục thế nào anh cũng không chịu ở lại thêm một phút giây nào nữa…
Vụ huyết án diễn ra như thế nào? Có điều gì khiến người dân nơi đây lại sợ hãi trong một khoảng thời gian dài như vậy?
Thu Hà'( T/h) / suckhoe.com.vn

Huyết án rợn người: Giết vợ, 3 con rồi mổ bụng, moi ruột tự sát (kỳ 2)

Giữa buổi trưa hè vắng lặng bỗng vang lên tiếng thét kinh hoàng “Giết người! Thằng Sửu giết hết người nhà nó rồi!”. Tiếng thét vang vọng từ làng dội ra bờ Châu Giang khiến cả làng Vũ Đại dậy sóng.

Kỳ 2: Sóng dậy bờ Châu Giang
Dù không phải là người chứng kiến tận mắt sự việc, nhưng chúng tôi không khỏi lạnh sống lưng khi bước vào căn nhà hãi hùng này. Giờ chúng tôi đã hiểu nét hoảng sợ trên khuôn mặt của những người đã tận mắt chứng kiến sự việc.
Xung quanh câu chuyện thảm án có rất nhiều lời đồn kỳ quái, ma rợn, bùa ngải liên quan đến mảnh đất u ám, đau thương đó. Thậm chí, người dân còn đồn rằng, nó là hiện thân từ nhân vật Chí Phèo thời xưa.
Rời khỏi căn nhà mà bước chân của chúng tôi vẫn lạnh toát. Những máu nghề nghiệp, trí to mò đã thôi thúc chúng tôi phải vén bức màn bí ẩn về vụ huyết án đẫm máu này. Tạm quên đi những sợ hãi chúng tôi vác máy ảnh lên vai với quyết tâm đi tìm sự thật đến cùng.
Buổi trưa kinh hoàng
Làng Đại Hoàng chia làm hai nửa: Nửa trong xóm và nửa ven sông. Nơi đây có một điều lạ: nhà nào nhà nấy đều trồng chuối Ngự (một loại chúa quả nhỏ, đẹp mã, ruột đỏ dùng để tiến vua xưa kia và hiện tại cũng rất được giá).
Một dải ven sông xanh mướt những cây chuối gù lưng cõng buồng nghiêng nghiêng trong nắng trưa. Phía dưới gốc cây, đàn gà con mới nở “lích tích” rũ lông trong đất mát. Một cảm giác yên bình hiếm có ở vùng đồng quê Bắc Bộ bây giờ.Nhưng không ai ngờ, buổi trưa cũng nắng như thế này, 30 năm trước…
“Anh chị Sửu lấy nhau được 6 năm, có với nhau 3 mặt con, 2 gái, một trai. Ngày ngày anh Sửu đi làm hợp tác xã, chị Sửu đi dệt vải thuê. Đứa con trai nhỏ mới ra đời thì chị Sửu nghỉ ở nhà chăm con để chồng đi làm (thời điểm này, ở Đại Hoàng có tới 15 hợp tác xã nông nghiệp và 1 hợp tác xã dệt - PV).
Vốn là bộ đội xuất ngũ, anh Sửu hiền như cục đất, chăm chỉ làm ăn, thương vợ chăm con hiếm ai bằng”- ông Trần Văn Giang, người bạn từ thuở nhỏ với Sửu kể lại.
Cụ Toản cũng nói chị Sửu nết na, chịu khó lại hết mực chiều chồng, thương con. “Có ai thấy vợ chồng nó cãi nhau bao giờ đâu.Vợ Sửu (cách gọi thân thiện của người dân Đại Hoàng - NV) lúc nào cũng có thói quen dóc mía cho đứa con gái đầu lòng ăn trước khi đứa bé ngủ trưa.
Cũng như mọi ngày, chị Sửu mua đâu được mấy cây mía tím của một người Hòa Bình đem về bán, mải miết dóc cho con ăn trước khi ẵm đứa bé nhất đi ngủ. Nào ngờ”… - giọng cụ Toản ngập ngừng… “Đó là bữa mía trưa cuối cùng”.
Theo lời kể của ông Trần Văn Giang, trưa hôm ấy, ông ra nhà người chị gái chơi sát nhà Sửu. Sửu đi đâu về, “đôi mắt trợn trừng trông gớm chết”.
Tay Sửu lăm lăm con dao dài 16 phân (16cm) đâm đứa con nhỏ vừa vịn cây tự đưa võng, vừa đưa mía vào miệng hít hà. Thật là dứt ruột thương tâm” – ông Giang hồi tưởng.
Sau khi đâm đứa con nhỏ, đứa con thứ hai đang bi bô chơi ở bàn gỗ giữa nhà cũng chung số phận. Thấy con khóc nấc ngằn ngặt rồi im bặt. Chị Sửu vùng dậy la thất thanh, đứa con nhỏ mấy tháng tuổi trong lòng bỗng dưng khóc thét.
Đó cũng là lần cuối người ta thấy tiếng kêu của chị. Khi công an, dân quân xã đến bắn chỉ thiên để uy hiếp cũng không ngăn được Sửu ra giữa sân mổ bụng tự sát .
Người dân Đại Hoàng vẫn nhớ như in. Ấy là 12 tháng 4 năm Ất Sửu (1985)!
Đêm đêm, vẫn thấy người khóc than
Nghe tiếng la hét, thất thanh của những người chứng kiến, hàng xóm đổ đến nhà Sửu rất đông. Người trong xóm đổ ra, người ngoài ven sông đổ lại. Họ không xì xào bàn tán mà bất ngờ. Tất cả đều lặng im và không tin vào mắt mình.
Người mà không ai ngờ bỗng dưng giết vợ và con lại là Trần Văn Sửu.
“Hắn rất lành. Có đứa trẻ nào đùa hay nói láo, hắn chỉ xoa đầu mà cười bảo: Bố thằng cu!”
“Mấy chủ lò gạch không bán được hết số trong lò, trả thiếu công, Sửu mỉm cười bảo: Thôi, để dịp khác anh trả em nhé! Rồi cứ thế bước về”.
“Người mà vợ bận chăm con, không nấu được cơm chiều lại lao vào bếp khi chiếc áo bạc màu quân ngũ, đã 3 lần vắt kiệt mồ hôi sau những giờ làm mệt nhoài nói: Để anh nấu cho mẹ con em!”.
Những câu kể lại của người chứng kiến vụ thảm sát tuyệt không hề tin việc Sửu làm cũng là vì thế. Nhiều người thân rồi bạn cũ của Sửu ở xa khi nghe tin dữ còn bảo rằng: “Đại Hoàng là đất nói đồn/ Người ta chưa chết cứ dồn xuống âm” và dứt khoát bảo đó là kẻ ác mồm, ác miệng.Ngay sau khi huyết án xảy ra (lúc 14g30 chiều) thì 15g40, công an huyện Lý Nhân (lúc ấy thuộc tỉnh Hà Nam Ninh) về khám nghiệm hiện trường nhưng chẳng tìm được rõ nguyên nhân vụ án. Hung thủ - anh nông dân hiền lành Trần Văn Sửu cũng đã chết. Vụ án đành khép lại.
Chiều hôm ấy, hàng ngàn người dân quanh vùng đến để viếng thăm chứ không phải vì tò mò. Chiếc hè yên ấm cạnh sân, vốn kê chiếc chõng tre cho mấy đứa nhỏ chơi đùa hôm trước giờ đã là năm chiếc quan tài lớn nhỏ nằm cạnh nhau. Hơn chục người họ hàng nội ngoại của Sửu đến đám tang đã ngất lịm đi phải tìm đường cấp cứu.
Đám ma của Sửu và vợ con cũng khiến nhiều người bỏ công việc để đi đưa tiễn. “Đến cả tuần, cả tháng sau, những người có mặt ở đám ma cũng khó nuốt được miếng cơm khi nghĩ về chuyện này.
Người già trong làng cũng ám ảnh, trẻ con không biết gì cũng sợ hãi một thời gian dài. Không ai dám ra đường vào buổi tối, nhất là những người hàng xóm của Sửu. Thỉnh thoảng những đêm trăng suông, người ta còn nghe tiếng gió vẳng tiếng khóc than từ ngôi nhà vẳng lại”- cụ Toản nhớ lại.
Người ta còn đồn đoán về nguyên nhân cơn điên loạn của Sửu. Sửu không bao giờ ghen với vợ càng không có chuyện uống rượu say trước khi gây án.Tài liệu của Công an huyện Lý Nhân chỉ có vài dòng vẻn vẹn:“Trong người Sửu không có chất men, chất kích thích. Nguyên nhân vụ án: ngộ sát”. Chính vì vậy, bi kịch vụ huyết án gia đình Trần Văn Sửu vẫn là một ẩn số.
Nhưng sau 3 ngày làm lễ cúng cơm cho 5 mạng người, họ hàng tìm được một miếng vải nhỏ trong túi áo của Sửu có điểm những ký tự rất lạ. Hỏi ra, đó là một dạng bùa của người dân tộc vùng cao. Chiếc áo đó được nhét dưới đáy chiếc ba lô của Sửu từ ngày xuất ngũ…
Thu Hà ( T/h) / suckhoe.com

Huyết án rợn người: Giết vợ, 3 con rồi mổ bụng, moi ruột tự sát (kỳ cuối)

Cô gái gạt nước mắt, bắt 5 con vịt, đập chết tươi. Cô làm thịt cả 5 con vịt theo cách không bình thường. Cô dùng dao đâm nhiều nhát vào thân những con vịt tội nghiệp, rồi chặt ngang đầu, khiến óc vịt bắn tung tóe.

Theo lời ông Bình, kẻ thủ ác Trần Văn Sửu sinh năm 1949, tuổi con Trâu, kém chị Hoàn 3 tuổi. Ngày đó, chị Hoàn tuy đã 30 tuổi, gái quá lứa, nhưng nhan sắc không đến nỗi nào. Chị làm nghề buôn gạo, buôn cám.Khi được chúng tôi hỏi về nguyên nhân xảy ra thảm án kinh hãi này, ông Trần Văn Bình, anh họ nạn nhân Trần Thị Hoàn (làng Đại Hoàng, tên cũ là làng Vũ Đại, Hòa Hậu, Lý Nhân, Hà Nam) trầm tư suy nghĩ. Dường như đó cũng chính là câu hỏi mà mấy chục năm nay ông vẫn đang bế tắc trong việc đi tìm lời giải.
Thời kỳ đó, lái buôn là nghề mạt hạng, nên chẳng mấy người thèm nhòm ngó. Trong quá trình buôn bán, thì gặp Trần Văn Sửu, rồi lên duyên. Gia cảnh Trần Văn Sửu cũng phức tạp. Bản thân Sửu không nghiện ngập, không rượu chè, nhưng nóng tính. Nhiều người nói rằng, bản tính của Sửu là hiện thân của Chí Phèo. Sửu từng có thời gian đi bộ đội, đóng quân ở Vị Xuyên, Hà Giang.
Theo lời ông Trần Văn Giang, người có mặt trong lễ cúng cơm thì miếng vải nhỏ có bề rộng chừng 3 cm, chiều dài 6 cm, gấp làm tư để trong túi áo của Sửu. “Đó là chiếc áo bộ đội mà Sửu mặc trong hồi quân ngũ. Sau khi xuất ngũ, Sửu không mặc nữa và nhét nó dưới đáy ba lô" - ông Giang kể.
5 con vịt – 5 mạng người?
Năm 1979, Trần Văn Sửu vốn là một lực điền, 25 tuổi tròn. Lấy vợ được hai con thì Sửu được lệnh tổng động viên lên biên giới phía Bắc, đóng quân tại Vị Xuyên, Hà Giang (đứa con thứ 3 của Sửu sinh sau khi anh xuất ngũ - PV).
Đẹp trai, ăn nói dễ nghe, lại học hết cấp hai nên Sửu được chuyển sang đơn vị tuyên huấn và dân vận. Sau những đêm bám chốt, Sửu được phép xuống các bản làng để vận động lương thực và vận động bà con góp sức dân công.
Trong những lần xuống bản, Sửu gặp một cô gái Thái tròn đôi mươi đẹp như đóa hoa rừng. Dù có vợ con nhưng vẫn còn trẻ nên Sửu không thể thờ ơ với vẻ đẹp của cô gái. Gia đình cô gái cũng quý Sửu nên hay giữ lại ăn cơm.
Chuyện gì đến cũng đến, Sửu và cô gái Thái đến với nhau một cách tự nhiên. Không ăn hỏi, không cưới xin, gia đình cô gái vẫn để cho Sửu qua lại nhà mình như con rể.
Có ân hận, ăn năn với vợ con quê nhà nhưng Sửu cũng chẹp miệng cho qua: Hết chiến tranh sẽ dứt hẳn cô gái Thái để về với vợ con cho tròn nghĩa vợ chồng.
Tình ấm được hơn năm. Trong một trận đánh giữ chốt, Sửu bị thương  được chuyển hẳn về làm công tác hậu cần và cho giải ngũ. Khi hành trang đã chuẩn bị sẵn tất cả, Sửu xuống từ biệt gia đình và cô gái Thái để về với quê.
Đêm cuối cùng Sửu mới nói thật với người “già nhân ngãi, non vợ chồng” rằng đã có vợ, hai con. “Có thể mình sẽ không gặp nhau nữa”- Sửu nói. Cô gái khóc òa lên lao vào lòng Sửu đau đớn: “Thì anh chỉ cần lên với em là được”. Nhưng Sửu nói là đã về thì không thể...
Đang khóc, chợt cô gái Thái đứng phắt dậy, gạt nước mắt nói: “Anh đã cạn tình thì em chẳng có gì để nói. Một, hai, ba bốn, năm…”- Cô gái lẩm nhẩm đếm mà Sửu chẳng hiểu gì cả. Cô gái tiếp lời: “Tiễn anh nhà em làm 5 con vịt để đãi khách. Nếu anh còn nhớ đến em, lên với em thì thôi. Còn nếu không, sau này anh sẽ hối hận!
Nói rồi cô đi bắt 5 con vịt, đập chết tươi. Cô làm thịt cả 5 con vịt theo cách không bình thường. Cô dùng dao đâm nhiều nhát vào thân những con vịt tội nghiệp, rồi chặt ngang đầu, khiến óc vịt bắn tung tóe. Ăn xong bữa cơm chia tay, cô gái chạy vào rừng rồi mất hút, Sửu đuổi theo nhưng tìm mãi không thấy.
Sửu nghĩ cô gái giận quá nên nói lung tung cũng chẳng nghĩ ngợi gì thêm rồi dọn đồ vào chiếc balô mà chính cô gái Thái khâu giúp. Sáng mai, anh phải lên đường về quê với vợ.
Trước khi về, Sửu có kể cho một người đồng ngũ nghe. Người đồng ngũ hơn Sửu 8 tuổi, cùng quê nhưng có đã ở huyện vùng cao Vị Xuyên, Hà Giang gần 10 năm. Nghe chuyện cô gái nói với Sửu, anh giật mình ngờ ngợ.
Ở vùng này đã lâu, anh bạn đồng ngũ của Sửu vẫn nghe gần xa chuyện bùa, ngải. Nhưng chính anh cũng chẳng tin, nên những gì anh định nói với Sửu lại đành giữ lại trong lòng chẳng muốn nói ra.
Chỉ đến khi nghe tin Sửu giết cả nhà rồi tự sát, anh về thăm viếng, thấy mảnh vải mới kể lại chuyện này. Đó có phải là lá bùa mà người dân nơi anh và Sửu đóng quân vẫn thường nói với nhau? Và câu đếm của cô gái có phải ứng với 5 mạng người nhà Sửu?
"Lá bùa sinh mệnh"
Hỏi mãi cũng không ai biết đó là thứ gì. Họ hàng 2 bên đều không có câu trả lời cho nguyên nhân Sửu giết cả nhà rồi tự sát nên có chiều hướng tìm sự giải thích bằng con đường tâm linh.
Gia đình Sửu đã đem miếng vải ấy lên hỏi một thầy cúng trên miền ngược. Ông thầy nhìn thấy bỗng hoảng hồn: “Họa lớn rồi! Làm sao lại có miếng bùa này?”.
Nghe ông thầy nói thế, gia đình Sửu mới tá hỏa kể lại sự tình mà người đồng ngũ của Sửu nói lại. Nghe chuyện, ông thầy lắc đầu: “Như thế là muộn quá rồi”. Theo lời ông thầy bùa, đây là lá bùa sinh mệnh của người Thái, nếu không nhìn thấy tận mắt thì loại bùa này thì chính ông cũng tin nó đã thất truyền từ lâu.
“Đây là loại bùa sinh mệnh. Nó chỉ được dùng cho người mà chủ nhân của nó thù hận nhất. Sau thời gian một năm, ba năm hay lâu hơn nữa mới phát tác phụ thuộc vào ý chủ nhân. Người bị đánh bùa sẽ không bệnh, không tật mà tự chết.
Điều kỳ quái hơn là lá bùa có thể ảnh hưởng đến những người thân của người bị bỏ bùa. Nặng nhất là những người thân sẽ cùng chết. Nhẹ thì bệnh tật, ốm đau rồi chết. Nặng thì bất đắc kỳ tử. Nặng hơn nữa chính là trường hợp của nhà Sửu này. Lá bùa cũng có thể "hẹn” số người chết liên quan đến người bị bỏ bùa- ông thầy giải thích với người nhà Sửu. Tuy nhiên, ông thầy bùa không giải thích rõ cách làm bùa như thế nào.
Ông nói rồi bảo gia đình sắm một lễ nhỏ để hủy miếng bùa ngay tại nhà ông ta. “Kỳ lạ thay, khi làm lễ xong, đem miếng bùa đi hủy thì một cơn gió lạnh táp thẳng vào mặt người đốt và những người đứng cạnh. Miếng bùa không cháy mà bị cuốn đi mất”- ông Trần Văn Giang, bạn thân của Sửu tại ngày lễ kể.
Ông thầy thấy vậy bảo: “Lá bùa sinh mệnh nên tự nó có sinh mệnh. Chắc biết bị hủy nên tự tìm đường…giải thoát”
Người nhà Sửu sau khi làm lễ hủy lá bùa định tìm đến nhà cô gái Thái để "hỏi rõ trắng đen" nhưng bị người cao niên trong họ cản lại. Một tuần sau cái chết của gia đình Sửu, công an huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam) gửi thông báo về chính quyền địa phương và gia đình với nội dung: "Đình chỉ điều tra vụ án giết người ở xóm 15, xã Hòa Hậu". Lý do đình chỉ vụ án cũng chỉ có mấy chữ: "Bị can đã chết". 
Vụ huyết án khép lại. Đối với người dân làng Đại Hoàng và người quanh vùng vốn không tin vào chuyện bùa ngải thì nguyên nhân thực sự vẫn là một bí ẩn. 
Thu Hà / suckhoe.com.vn

Thứ Bảy, ngày 20 tháng 8 năm 2016

Khi sự bất chính tiếp tục được "tôn vinh"

Cách đây vài tháng, khi nữ hoàng quần vợt Nga Maria Sharapova bị cáo buộc sử dụng doping ở giải Úc mở rộng và có nguy cơ bị cấm thi đấu có thời hạn, hai nhãn hàng Nike và Tag Heure đã tạm ngưng hợp đồng với cô cho tới khi cuộc điều tra doping cho kết quả cuối cùng. Động thái ấy là vô cùng bình thường trong xã hội nói chung và trong hoạt động thương mại nói riêng...

Chủ Nhật, ngày 17 tháng 7 năm 2016

Khi sáng tạo quen đi trên lối mòn

Có lẽ, chúng ta sẽ giật mình khi biết rằng có đến 70 phim Việt Nam được sản xuất và ra mắt trong năm 2016 này. 70 phim, một con số ấn tượng. 70 phim, con số ngàn tỷ đồng. 70 phim, con số cho thấy nhiều người nghĩ rằng điện ảnh là một thị trường ngon ăn bất chấp đang có những tranh cãi, kiện tụng giữa các đơn vị phát hành phim, các cụm rạp xoay quanh câu chuyện đặc quyền của CGV.

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 7 năm 2016

Vô đề


Khi nào
ta được gọi là say
Khi ly rượu cùng buồn vui nhân thế
Đó là lúc hình như ta tử tế
Thành thật
-vị tha và lớn khôn hơn?

Thứ Hai, ngày 27 tháng 6 năm 2016

Vô đề

Khi nào
ta là người đánh mât
Yêu ghét
buồn vui
thật giả trên đời
Đó là khi
thần rươu ngỏ lời mời
Rượu uống ta

-Rượu say ta không biết

Thiên đường


Khi nào
ta đến được "thiên đường"
Khi chen rượu goi ta là bạn
Khi dục vọng trong ta ca hát
Rượu uống ta:

- Ta uống cạn tinh em!

Có thể

Có thể nhầm lý tưởng
Không thể nhầm niềm tin
Có thể nhầm con tim
Không thể nhầm nhân cách
Có thể nhầm xấu tốt
Không thể nhẩm thói quen
Có hể nhâm cô đơn
Không thể nhầm hạnh phúc
Có thể nhầm nụ cười
Không thể nhầm tiếng khóc
Có thể nhầm cả đời

Không thể nhầm cái chết.

Thứ Ba, ngày 21 tháng 6 năm 2016

Trái tim phụ nữ

  • Kính tặng thầy Hg


Trái tim phụ nữ
Đa cảm đa sầu
Khó đoán khó hiểu
Khó cảm thông chia sẻ
Bởi một chân lý giản đơn
Sự tự tin và niềm kiêu hãnh

Trái tim phụ nữ
Khi thấm chút men tình
Bỗng trở nên nhỏ bé
Lọt thỏm trong một vòng tay
Có thể lại bao trùm tất cả
Tình yêu hạnh phúc khổ đau...

Trái tim phụ nữ
Lúc ngẩn ngơ bối rối
Thường bị lấy cắp trái tim
Để rồi chợt nhớ chợt quên
Để rồi cô đơn mỗi tối

Trái tim phụ nữ
Tựa nước tựa hoa
Và cũng tựa kim[1]
Chỉ hàn thiện chính mình
Khi vượt lên sự phồn vinh giả dối
Khi vượt qua sự hờn ghen nông nổi
Khi biết yêu và nhận được tình yêu.




[1] Ý của một bạn văn

Nhà thơ Hoàng Quý: Những câu thơ vút lên bên bờ sóng

Ngày thơ Việt Nam lần thứ 7 năm 2009, tại sân Thái Học ở Văn Miếu, nhà thơ Hoàng Quý đọc trích đoạn trường ca "Đối thoại trắng". Đấy là khúc ông viết về Nhân dân: "Ôi! Nhân dân kiêu dũng của tôi/ Nhân ái và thật thà/ Cởi mở và bồng bột/ Người nâng thuyền mà nổi trôi như lá/ Người bộc trực, tuềnh toàng/ Cả nghe và hiếu thiện/ Tin đạo mà chở đạo/ Đạo rối/ Thuyền chao/ Qua mỗi cửa bão giông lại đắm đuối nâng thuyền/ Néo chèo theo lái/ Bến yên bình một giấc tít xa/ Mà người có bao giờ không nhẹ dạ".