Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Ba, ngày 02 tháng 2 năm 2016

Ta không nhau

Ta không nhau
trời đất vẫn giao mùa
Cây vẫn xanh và hoa vẫn nở
Đời ở trọ vẫn lênh đênh bể khổ
Nhịp thời gian vẫn tiếp nối vô thường.

Có sao đâu
xuân chẳng chỉ hoa đào
Hạ chẳng buồn khi phượng hồng sớm nở
Thu chẳng khóc khi cúc tàn trước ngõ
Đông chẳng âu sầu khi giọt nắng đơn côi.

Có sao đâu
giữa em và tôi
Một thời tình nhân một thời hẹn ước
Ở giữa chông chênh giữa hư và thực
Chỉ trách mình mắc nợ chuyện vu vơ.

Có sao đâu
anh sẽ tựa vào thơ
Viết tiếp bản tình ca dang dở
Ô cửa sổ gió heo may lặng lẽ
Thả vào thơ tím biếc giọt ngu ngơ.




Khi nào


 Khi nào
đàn bà là người đẹp nhất
Khi lừa dối chồng một cách dễ thương
Nàng mỉm cười trong lúc lâm chung.

Loay hoay ngây thơ nằm trên giường cưới?

Những điều li kỳ trước khi Lê Văn Duyệt qua đời

Bộ Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập) đã dành hẳn cả hai quyển 22 và 23 để chép chuyện Lê Văn Duyệt. Tất nhiên, cũng có vài nhân vật khác được nhắc đến trong hai quyển này, nhưng đó chẳng qua là vì họ có chút ít liên hệ với Lê Văn Duyệt, nhắc đến để làm rõ thêm chuyện về Lê Văn Duyệt mà thôi.
    Đoạn cuối của quyển 23 đã chép một số chuyện li kì xảy ra trước lúc Lê Văn Duyệt qua đời như sau:
    “Trước khi (Lê Văn) Duyệt bị bệnh, thành Gia Định không hề có gió, vậy mà cán cờ ở trong thành bỗng dưng bị gãy. Hơn một tháng sau, (Lê Văn) Duyệt đi tuần ở biên cảnh, vừa ra ngoài thành thì con voi ông đang cưỡi tự nhiên phục xuống đất rồi gầm lên, đánh mấy nó cũng không chịu dậy, ông bèn phải xuống để lấy ngựa mà đi. Đi được chừng một dặm, ngựa cũng chẳng chịu đi nữa. (Lê Văn) Duyệt lấy làm lạ, bèn nói với người nhà rằng có lẽ ta sắp bị bệnh.
    Một hôm (Lê Văn Duyệt) chuẩn bị thưởng cấp cho tướng sĩ, sai người nhà đem 50 quan tiền để sẵn ra đấy, chẳng dè, vừa chợp mắt được một lúc thì tiền đã không cánh mà bay. Ông ngờ là có kẻ trộm, ra lệnh tìm bắt rất gấp. Bỗng ông thấy trên nóc nhà mình có người đang ngồi giữ đống tiền, thoạt trông giống như mô đất, bèn sai người bắc thang trèo lên bắt, nhưng lên đến nơi thì người giữ tiền ấy đã biến mất mà đống tiền thì vẫn còn y nguyên.
    Hôm khác, có ông già vai đeo bầu, ăn mặc ra vẻ dân quê, đến nói với người canh cửa rằng:
    - Hãy vào báo với Lê tướng quân, rằng có ta là cố nhân đến.
    Người canh cửa lấy làm lạ, chạy vào báo với (Lê Văn) Duyệt. (Lê Văn) Duyệt liền cho người ra. Đến bờ sông (sông Sài Gòn, vì thành Gia Định, nơi Lê Văn Duyệt đóng, ở sát sông Sài Gòn - NKT), thấy ông già ấy đang rửa bầu và nói rằng:
    - Ta muốn đón tướng quân của mày đi tu tiên, nhưng mà tướng quân của mày không thể tu tiên được.
    Nói rồi thì phấp phới bay đi, không biết về đâu. Người canh cửa về báo lại. (Lê Văn) Duyệt nói rằng:
    - Tiên thật à ? Hay là ma muốn làm hại ta đấy ?
    Vài ngày sau (Lê Văn Duyệt) bị bệnh nhẹ rồi mất".
    Lời bàn:
    Lê Văn Duyệt vốn dĩ là hoạn quan, nhưng lại cũng là hổ tướng, bao phen vào sinh ra tử để theo phò Nguyễn Phúc Ánh, sau là đại thần trải thờ hai đời vua đầu triều Nguyễn, danh vọng lừng lẫy một thời, thế thì nếu ông có chút gì đó khác thường so với tất cả những người thường, ấy cũng là lẽ tự nhiên. Khi ông còn sống, những chuyện khác thường ấy sẽ được thiên hạ háo hức kẻ cho nhau nghe. Vẫn biết người xưa thích kể cho nhau nghe những chuyện li kì, nhưng nào phải bất cứ ai cũng được người xưa hào phóng tặng cho nhiều chuyện li kì như Lê Văn Duyệt đâu.
    Cán lá cờ hiệu của ông đã gãy, con voi chiến và con ngựa chiến một đời gắn bó đã quay mặt với ông, kẻ trộm thì vào tận nhà, còn bậc có thể rước ông đi tu tiên thì chối từ mà bay mất … phút cuối cuộc đời của Lê Văn Duyệt là vậy !
    (Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần )

    Trái tim đàn ông

    Có nhiều
    người phụ nữ
    Nỡ ngang qua đời tôi
    Để lại những nỗi buồn vui
    Làm xiêu vẹo những điều mơ ước

    Tình sau
    hay tình trước
    Sao đều thấy mông lung
    Làm yếu mềm trái tim đàn ông
    Trước cám dỗ đam mê khoái lạc

    Vô tình
    tôi lại gặp
    Một tình không chịu đi
    Chẳng biết phải làm gì
    Bỗng thấy mình mê muội.

    Để rồi
    …mỗi tối
    Tình thao thức riêng chung
    Khoảng trống vô hình trái tim đàn ông
    Yêu và thích biết làm sao phân định?



    Có thể

    Có thể
    nhầm lý tưởng
    Không thể nhầm niềm tin
    Có thể nhầm con tim
    Không thể nhầm nhân cách
    Có thể nhầm xấu tốt
    Không thể nhầm thói quen
    Có thể nhầm cô đơn
    Không thể nhầm hạnh phúc
    Có thể nhầm nụ cười
    Không thể nhầm tiếng khóc
    Có thể nhầm cả đời

    Không thể nhầm cái chết.

    Lời tựa tập thơ: Ở giữa chông chênh

    Lời tựa

    Trong cuộc đời, đôi khi ta cảm thấy lòng mình bỗng dưng trống trải, chợt buồn vui mênh mang. Phải chăng những cảm xúc vô hình ấy là sự tiếp nối trong vòng xoay giữa tồn tại và hư vô, giữa thực và ảo của cái tôi, cái cảm giác sống?
    Cảm giác sống, không chỉ là tính hiện thực của sự tồn tại người, mà còn là sự giao thoa giữa một bên là những mong muốn được thể hiện, được thỏa mãn bản năng sống của cái tôi với cái bên kia của sự đối lập là các định chế xã hội luôn phản ánh sự xung đột trong cái tôi. Theo nghĩa đó, cảm giác sống là sự biểu hiện những giấc mơ đời ở những cung bậc tình cảm khác nhau của cuộc sống, của sự lựa chọn theo nguyên tắc của khoái cảm. Chẳng thế, nhà Phân tâm học người Áo, - Phơrớt đã có một nhận xét xác đáng về giấc mơ khi ông cho rằng: “Giấc mơ như một sự thỏa hiệp giữa những yêu cầu của cái bản năng bị dồn nén với sự kháng cự lại của một sức mạnh kiểm duyệt trong cái tôi”.
    Chính vì vậy, lý trí thường bị gục ngã một cách không tự giác trước sự cám dỗ của tính dục và khi tính dục đạt được khoái cảm nó sẽ thức tỉnh lý trí của con người. Đó cũng là khi con người chợt cảm nhận được cái gì đó chông chênh hoặc trôi nổi ở giữa chông chênh của dòng đời:

    Làm thầy
    đôi khi cũng khó
    Khi không gặp cảnh trớ trêu
    Khi học trò cảm nắng ngỏ “lời yêu”
    Sự ngưỡng mộ - thầy hóa thành “thần tượng”.
                                                         (Cảm nắng)
    Đâu đó, trong cuộc đời ta vô tình nhầm lẫn thật dễ thương giữa người đã yêu hoặc mới quen rồi chợt bừng tỉnh trong cơn mê khi hạnh phúc nỡ bỏ quên trong ngăn kéo của thời gian:

    Em xin giọt đắng tình yêu,
    Lãng quên nhầm gởi một người mới quen!
                                                        (Lãng quên)
    Như thế, ta cũng thường cảm nhận mơ hồ về một cái gì đó đã, đang và sẽ mất… để rồi khi ngồi một mình chợt cảm thấy bâng khuâng của hoài niệm và hy vọng. Hy vọng thật mỏng manh như làn gió heo may tím biếc của nàng thơ:

    Ta không nhau
    anh sẽ tựa vào thơ
    Viết tiếp bản tình ca dang dở
    Ô cửa sổ gió heo may lặng lẽ
    Thả vào thơ tím biếc giọt ngu ngơ.
                                                     (Ta không nhau)

    Ở giữa chông chênh, ký ức, dòng chảy thời gian trong số phận mỗi con người khi thầm lặng, yên bình lúc cuộn trào thác lũ, tựa như tiếng nói thầm kín của tâm hồn trong hành trình cuộc đời mà mấy ai bày tỏ? Đôi khi được bày tỏ có thể là những tiếng thở dài khôn nguôi của sự nuối tiếc, nhưng có thể lại là ngọn lửa lòng thổn thức bởi khoái cảm của sự thăng hoa đang loay hoay khi con tim nằm ngược:

    Làm thơ về em,
    Như kẻ nô tỳ bỗng dưng ngoan ngoãn.
    Nụ hôn loay hoay con tim nằm ngược,
    Còn những câu thơ ở giữa chông chênh.
                                                      (Ở giữa chông chênh)

    Sài Gòn một ngày cuối Thu, 2015



    Trống – Báu vật của người Jrai ở Gia Lai

    Với dân tộc Jrai (Gia Lai), trống không đơn thuần là một loại nhạc cụ truyền thống mà trống còn được xem là một vật chứa đựng giá trị về vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống, nó mang ý nghĩa thiêng liêng trong sinh hoạt tín ngưỡng, là biểu hiện những đặc trưng cơ bản truyền thống văn hóa người Jrai tồn tại từ bao đời nay.
       Trống – Báu vật của người Jrai (Ảnh: Internet)
      Trống của người Jrai được phân loại theo kích thước thành 3 nhóm chính: trống nhỏ gồm 3 hiện vật có chiều dài tang trống từ 24 cm đến 40 cm và đường kính mặt trống từ 14 cm đến 20 cm; trống trung gồm 8 hiện vật, có chiều dài tang trống từ 40 cm đến 60 cm và đường kính mặt trống từ 30 cm đến 45 cm; trống lớn gồm 13 hiện vật, có chiều dài tang trống từ 85 cm đến 110 cm và đường kính mặt trống từ 60 cm đến 100 cm.
      Quy trình chế tác trống của người Jrai trải qua nhiều công đoạn hết sức công phu, phức tạp và phải tuân theo các luật tục, nghi thức thần linh một cách nghiêm ngặt. Trước hết là khâu tuyển chọn nguyên liệu, như đã nói ở trên tang trống được làm phần lớn từ thân cây gỗ sao, khác với tang trống của người Việt và một số dân tộc khác được làm từ gỗ mít và tang trống được ghép nhiều thanh lại với nhau. Khi chọn nguyên liệu làm trống người Jrai phải giết gà, heo để cúng.
      Theo quan niệm khi chọn cây họ chỉ ước lượng đường kính, chiều cao của thân cây, tuyệt đối không được dùng thước để đo để tránh làm náo động thần cây. Trong trường hợp khi đi chọn chặt cây mà thấy rắn bò ngang qua đường thì phải lùi ngày lại để tránh điềm xấu xảy ra, hoặc khi chặt cây người ta thường kiêng kỵ đối với các trường hợp như cây đổ đè phải con vật nào đó (thỏ, sóc, chồn...), thân cây không nằm xuống đất, cây đổ mà ngọn chắn ngược dòng suối chảy hoặc bất chợt một con vật nào chạy ngang qua thân cây... đều bị coi là điềm xấu, cây này không thể dùng để làm trống.
      Mặt trống, người Jrai thường sử dụng da của con trâu, bò để làm; thông thường người ta hay sử dụng da trâu để bịt mặt trống. Với quan niệm vạn vật, hiện tượng luôn luôn tồn tại song song hai mặt, âm-dương, đất-trời,... nên khi làm trống đặc biệt với loại trống lớn có đường kính mặt trống từ 0,8 mét đến 1,2 mét người ta sử dụng da của 2 con trâu (trâu đực và trâu cái). Khi trống được hoàn thành, 2 mặt trống người Jrai vẫn thường gọi là mặt đực và mặt cái. Mặt đực và mặt cái không những chỉ phân biệt dựa vào da trâu đực hay da trâu cái mà còn được phân biệt qua cấu tạo trên mặt trống (mặt đực có khoét lỗ thông hơi, mặt cái không khoét lỗ) và còn được phân biệt qua âm thanh phát ra khi đánh trống (đánh vào mặt đực có âm trầm, hào hùng; đánh vào mặt cái âm phát ra thanh, bay bổng).
      Trống của người Jrai dù to hay nhỏ đều được làm từ gỗ nguyên thân và sử dụng kỹ thuật đục, đẽo, khoét rỗng thân cây được cắt ra và đục khoét tang trống tại nơi lấy cây. Người Jrai sử dụng các dụng cụ thô sơ như rìu, rựa... để đục khoét tang trống từ hai mặt dần dần vào, hoặc có khi người ta đốt lửa hai đầu cho cháy thâm vào từ hai bên sau đó dùng rìu, rựa để tu chỉnh và đục đến khi thông nhau. Sau khi tang trống được đục khoét xong người ta không đưa về nhà ngay mà để lại ở đó cho khô (trung bình khoảng 20-30 ngày), sau đó trở lại rừng và làm lễ rước trống về làng. Tiếp đến là công đoạn bọc (bịt, bưng) trống. Những người được tham gia bọc da trống phải là người biết đánh trống, thường là các già làng. Để làm căng mặt trống, người Jrai cũng dùng chèn, đai mây, búa gỗ, đinh ghim bằng tre để níu căng da trống. Trên tang trống người ta khoan nhiều lỗ để ghim đinh từ mặt trống cho đến giữa thân. Trước đây trống được bọc kín cả tang trống từ hai mặt vào và dùng bằng đinh tre hoặc đinh gỗ; càng về sau người ta chỉ bọc ở hai mặt trống, tang trống để trần và dùng đinh kim loại.
      Trống thường do nam giới sử dụng và được biên chế cùng với cồng chiêng, chũm chọe, lục lạc… trong các dịp lễ hội của gia đình, cộng đồng như: lễ bỏ mả, lễ cúng cầu mưa, lễ mừng lúa mới… Đặc biệt đối với chiếc trống lớn người Jrai thường được sử dụng vào các nghi lễ tại nhà, họ không bao giờ hoặc cho phép ai đưa trống ra khỏi nhà, một phần vì kích thước lớn không thể di chuyển, một phần vì họ cho rằng nếu làm vậy rất tội lỗi và điều xui sẽ đến với những người thân trong gia đình. Người sử dụng trống thường là những người có uy tín, là người chỉ huy. Mỗi khi tiếng trống vang lên là sự báo hiệu cho dân làng biết có việc hệ trọng xảy ra.
      Đối với trống trung, cũng do nam giới sử dụng do hai người vừa khiêng vừa đánh hoặc có bốn hay sáu người vừa khiêng vừa đánh dẫn đầu dàn cồng chiêng và vòng xoang. Có khi chỉ một người đeo ngang trống trước bụng, dùng tay vỗ trống, vừa đánh vừa múa theo tiết tấu, nhịp điệu của dàn chiêng. Riêng trống nhỏ khi sử dụng bằng cách quàng một sợi dây qua cổ và để trống ngang trước bụng, hai tay vỗ vào hai mặt trống; khi đánh không sử dụng cả bàn tay mà chỉ sử dụng các ngón tay để vỗ vừa di chuyển cùng dàn chiêng vừa đánh vừa nhảy nhót hay còn gọi là múa trống.
      Người Jrai coi trống là một tài sản quý, là một vật thiêng liêng biểu thị tiếng nói của thần linh. Trống là một loại nhạc cụ gõ, đồng thời còn là phương tiện thông tin. Khi nghe tiếng trống vang lên theo nhịp điệu rộn ràng thì dân làng biết được nhà có việc vui để kéo đến uống rượu mừng. Còn khi nghe tiếng trống giật đứt quãng, dặt dìu nghe như đau đớn, ai oán thì dân làng đều biết đấy là báo hiệu nhà có chuyện buồn và cùng đến để sẻ chia...
      (theo Dân tộc Việt)

      Thứ Tư, ngày 27 tháng 1 năm 2016

      Biểu tượng chữ thập ngược đã bị Hitler 'bôi bẩn' như thế nào?


      J.K | 27/01/2016 12:31




      Chia sẻ:



      ĐỌC NHIỀU NHẤT

      "Bão táp Xô Viết": Chiến dịch đẫm máu nhất lịch sử nhân loại
      10 bí ẩn khoa học mà "chưa một ai giải thích nổi"
      Kì lạ mẹ khỉ nhận nuôi, chăm sóc chó con như con đẻ
      Chim bay trên trời cũng bị thiêu sống vì sức mạnh của nhà máy này
      Sự tàn khốc của môn võ "chết chóc" thời Hy Lạp cổ đại

      Biểu tượng chữ thập ngược vốn mang ý nghĩa tốt đẹp được sử dụng rất lâu trước đó trong rất nhiều nền văn hóa khác nhau đã bị Hitler bôi bẩn thành biểu tượng của quỷ dữ.
      Bảng chữ cái "bí ẩn" giúp bạn phát âm tiếng Anh siêu chuẩn
      Những điều thú vị về Pikachu - biểu tượng của Pokémon
      Biểu tượng trên phòng vệ sinh nữ không phải là chiếc váy?


      Rất nhiều người đã lầm tưởng rằng biểu tượng hình chữ thập ngược của Hitler biểu trưng cho chủ nghĩa phát xít độc tài được hắn lấy cảm hứng từ chữ Vạn của Phật giáo bởi xét về lịch sử thì tôn giáo này đã sử dụng từ trước đó rất lâu đời.

      Biểu tượng quỷ dữ của Hitler.

      Nhưng thực tế nguồn gốc của biểu tượng này vốn không thuộc về Hitler cũng như không phải Phật giáo sử dụng đầu tiên mà nó đã được rất nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác nhau sử dụng trong lịch sử.

      Swastika được biết đến nhiều với biểu tượng chữ Vạn trong Phật giáo.

      Biểu tượng này được các nhà nghiên cứu gọi là Swastika. Swastika của Đức quốc xã hoàn toàn không liên quan gì đến chữ Vạn của Phật giáo, mà chỉ liên quan đến Swastika của người Aryan.

      Swastika là một trong những biểu tượng cổ xưa nhất mà loài người đã sử dụng.

      Nó đã được phát hiện trên những di chỉ khảo cổ có độ tuổi ít nhất hơn 3000 năm tại khu vực thung lũng nằm giữa hai con sông Euphrates và Tigris và một số vùng trong thung lũng Indus.

      Swastika là một từ Ấn Độ cổ mang nghĩa là một sự vật hay một sự việc tồn tại tốt lành, hoặc có trạng thái tốt lành.

      Swastika cũng xuất hiện trên các bình gốm và những đồng xu cổ trên đống đổ nát của thành T’roa (Troy), chứng tỏ nó đã được sử dụng ít nhất từ 1000 năm trước C.N.

      Trải qua hàng ngàn năm, Swastika đã có mặt ở hầu khắp các lục địa Á, Âu, Mỹ. Vì thế, Swastika có rất nhiều tên gọi khác nhau như trong riếng Hán gọi là “wan” (Vạn), tiếng HyLạp là tetraskelion, tiếng Pháp – croix gammé và tiếng Anh gọi là fylfot..

      Biến thể của Swastika trong một số nền văn hóa khác nhau.

      Phật giáo là nơi khởi nguồn của biểu tượng Swastika tại Châu Á. Trong các kinh Phật, Swastika thường xuất hiện ngay ở phần mở đầu. Trong tiếng Hán, chữ Vạn biểu thị cái bao trùm tất cả và sự vĩnh hằng .

      Tại Nhật Bản, chữ Vạn của Phật giáo được gọi là manji, thể hiện sự hài hoà và cân bằng âm dương trong vũ trụ.

      Tại Nam Âu, khu vực tiếp giáp với châu Á, dấu vết Swastika cũng đã được tìm thấy trong các công trình kiến trúc thuộc nền văn hoá Byzantine – nền văn hoá thuộc khu vực Biển Đen và Địa Trung Hải kéo dài từ thế kỷ thứ 7 trước CN đến tận thời trung cổ.

      Dấu vết Swastika cũng xuất hiện trong các đền đài thuộc nền văn hoá Celtic nền văn hoá có xuất xứ từ Tây và Trung Âu từ khoảng 1000 năm trước CN kéo dài mãi đến nhiều thế kỷ sau CN, ảnh hưởng sâu rộng khắp Âu châu.

      Biến thể của Swastika trong nhiều tôn giáo và các lĩnh vực khác nhau.

      Cuối thế kỷ 19, nhà khảo cổ học nổi tiếng Heinrich Schliemann, người đã khám phá ra Swastika trên đống đổ nát của thành T’roa, đã đi đến một kết luận vô cùng quan trọng rằng Swastika là một biểu tượng đặc trưng của người Aryan.

      Đầu thế kỷ 20, Swastika của người Aryan đã trở thành một biểu tượng chung của chủ nghĩa dân tộc Đức.

      Nhưng Swastika chỉ chính thức trở thành biểu tượng của quỷ dữ kể từ khi Hitler chính thức sử dụng biểu tượng đó.

      Hitler say mê với những lý thuyết về chủng tộc Aryan, coi người Do Thái là kẻ thù của người Aryan và phải chịu trách nhiệm về những khủng hoảng trong nền kinh tế Đức.

      Biểu tượng Swastika đã được tìm ở những cổ vật có niên đại hàng nghìn năm trước Công Nguyên.

      Đến những năm 1920, khi Hitler trở thành lãnh tụ đảng quốc xã, hắn thấy đảng này cần phải có một lá cờ và biểu tượng riêng của nó.

      Năm 1923, Hitler bị phạt tù 5 năm vì một hành động chống chính phủ. Trong tù, hắn viết tác phẩm “Mein Kampf” (Cuộc đấu tranh của tôi), trong đó viết:

      “Lá cờ mới phải là một biểu tượng của cuộc đấu tranh riêng của chúng ta, đồng thời có hiệu quả cao như một áp phích tuyên truyền”.

      Trở thành biểu tượng của Đức Quốc xã.

      Hitler thiết kế ra hình ảnh cụ thể của lá cờ đó, trong đó Swastika của người Aryan được đặt chính giữa trên một hình tròn mầu trắng. Hắn viết trong Mein Kampf:

      “Màu trắng thể hiện tư tưởng dân tộc, biểu tượng Sawstika thể hiện sứ mạng đấu tranh vì thắng lợi của người Aryan, đồng thời nói lên sự chiến thắng của tinh thần sáng tạo, một tinh thần đã và sẽ mãi mãi chống lại bọn Do Thái”.

      Sau này chủ nghĩa phát xít bành trướng ra toàn thế giới và lá cờ chữ thập ngược của Hitler đã trở thành biểu tượng kinh hoàng của rất nhiều người dân Do Thái.

      J.K

      Bạn biết gì về huyền thoại "Tứ linh" trong văn hóa Việt Nam?

      Hoa Hướng Dương | 

      Bạn biết gì về huyền thoại "Tứ linh" trong văn hóa Việt Nam?

      Tứ linh có nghĩa là 4 loài linh vật, chúng có mặt trong văn hóa của nhiều nước phương Đông. Tứ linh bao gồm: Long, Lân, Quy, Phụng.

      Nguồn gốc xa xưa của Tứ linh
      Thực tế, tứ linh gồm Long, Lân, Quy, Phụng được dân gian bắt nguồn từ bốn linh thần:Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ và Chu Tước.
      Chúng được người xưa tạo ra từ bốn chòm sao cùng tên ở bốn phương trời. Chúng mang bên mình bốn nguyên tố tạo thành trời đất theo quan niệm của người xưa (lửa, nước, đất và gió).
      Và việc chọn nơi để làm thành kinh đô phải hội tụ yếu tố hòa hợp giữa các nguyên tố ấy.

      1. Đứng đầu tứ linh - Long

      Long (Rồng) đứng đầu Tứ linh vì có sức mạnh, trí tuệ và quyền uy bậc nhất, đây là sinh vật tổng hợp sức mạnh của những con vật khác như rắn, hổ, chim ưng, sư tử, hươu,...
      Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở các nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng.
      Hình tượng rồng trong văn hóa Việt Nam
      Con rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Rồng là tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng Thiên Tử.
      Dân tộc ta có truyền thuyết về con Rồng từ rất sớm bởi nó gắn liền với mây, mưa, với việc trồng lúa nước, với sự tích "Con Rồng Cháu Tiên"... Hình ảnh con rồng đã dần dần ǎn sâu vào tâm thức của người Việt.
      2. Linh vật nhân từ - Lân
      Dù cho Lân được mô tả như có sừng của loài Nai, tai Chó, trán Lạc Đà, mắt Quỷ, mũi Sư Tử, miệng rộng, có thân Ngựa, chân Hươu, đuôi Bò... nhưng linh vật này rất hiền lành theo quan niệm dân gian ta.
      Lân là linh vật báo hiệu điềm lành, là biểu tượng cho sự nguy nga tráng lệ, sự trường thọ và niềm hạnh phúc lớn lao.
      Kỳ lân mang trong mình tất cả những phẩm chất đặc trưng của một con vật nhân từ, theo truyền thuyết, khi di chuyển, nó luôn tránh giẫm lên các loại côn trùng hay cỏ mềm dưới chân mình.
      Loài Lân không bao giờ ăn thịt hay làm hại bất cứ con vật nào, đặc biệt nó không bao giờ uống nước bẩn, nó chỉ ăn cỏ, nên có tên gọi khác là Nhân thú.
      Kỳ lân có tính linh, khi có vua chúa, thánh nhân xuất thế cứu đời thì nó sẽ xuất hiện báo trước điềm lành, sắp có thái bình thịnh vượng.
      Quan niệm dân gian Việt Nam về Lân
      Lân theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tượng trưng cho sự thái bình, yên ổn. Lân cũng tượng trưng cho lộc phúc, may mắn, thịnh vượng.
      Chúng có dung mạo kỳ dị, là hình tượng nghệ thuật được thêu dệt từ trí tưởng tượng của người xưa nhưng đồng thời ẩn chứa trong đó một sức mạnh tâm linh to lớn.
      Lân thường được với tư cách đội tòa sen làm chỗ dựa cho Văn Thù bồ tát hay các Hộ Pháp. Nhiều khi ngồi trên đầu cột cổng hay xuất hiện trên mái nhà.
      3. Linh vật trường tồn - Quy
      Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình chắc chắn. Nó có thể nhịn ăn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài.
      Rùa không ăn nhiều, nhịn ăn tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh.
      Quy đã xuất hiện trong truyện cổ tích từ thời An Dương Vương. Trong tạo hình, người ta bắt đầu thấy Quy từ năm 1126 trong tư cách đội bia ở chùa Linh Ứng, Thanh Hóa, từ đó tồn tại thường xuyên dưới hình thức đội bia; đến tận thế kỷ 15 mới thấy đội hạc.
      Quy là vật hợp bởi có cả âm lẫn dương: Bụng phẳng tượng trưng cho đất (âm), mai khum tượng trưng cho trời (dương). Hình tượng rùa đội bia tượng trưng cho hạnh phúc, phát triển và sự chịu đựng.
      Quy là cao quý, nhiều khi nó là chủ nguồn nước (rùa phun nước thiêng), là một linh vật của đất Phật.
      Rùa đầu rồng - Long Quy
      Là linh vật  tốt lành mang ý nghĩa trường thọ, có khả năng chiêu tài hóa sát, trấn trạch, rất lợi về tài lộc, bền vững và thịnh vượng lâu dài.
      Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia đá ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loài vật chuyển tải thông tin và văn hóa.
      Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo.
      Trong một số ngôi chùa thời Lý - Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá, làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai.
      4. Linh vật bất tử - Phụng
      Nhắc đến sư bất tử và tái sinh, người ta không thể không nhắc đến 1 loài chim chỉ có trong truyền thuyết: Phụng.
      Phượng Hoàng là sự kết hợp các đặc điểm xinh đẹp nhất của nhiều giống chim: đầu gà, chiếc cổ cao của chim hạc, và bộ đuôi thướt tha rực rỡ của loài công.
      Phụng (Phượng) là tên con trống, con mái gọi là Loan. Phụng có mỏ diều hâu dài, tóc trĩ, vẩy cá chép, móng chim ưng, đuôi công...
      Các bộ phận của phụng đều có ý nghĩa của nó: Đầu đội công lý và đức hạnh, mắt tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, cánh là gió, đuôi là tinh tú, lông là cây cỏ, chân là đất.
      Như vậy nó tượng trưng cho bầu trời, khi nó bay hoặc múa (phụng vũ) là tượng trưng cho sự hoạt động của vũ trụ.
      Vì thế phụng là hình tượng của thánh nhân, của hạnh phúc. Nếu rồng có yếu tố dương, tượng trưng cho vua chúa thì phụng lại có yếu tố âm nên tượng trưng cho hoàng hậu.
      Sinh vật bất tử.
      Vòng đời của chúng không bao giờ kết thúc. Khi bị thương nặng hoặc cảm thấy mình quá già yếu (không dưới 500 tuổi), phượng hoàng sẽ tự xây một cái tổ bằng lông của mình, rồi tự thiêu bằng chính nguồn nhiệt của bản thân.
      Từ trong đám tro tàn, nó sẽ tái sinh dưới hình dạng một chú chim non. Với khả năng tái sinh này mà Phụng là biểu tượng của cả sự sống và cái chết.
      Vì thiêng liêng cao quý nên loài chim này thường sống trên những ngọn núi cao, xa xôi mà con người không thể vươn tới.
      Nếu có ai đó muốn tìm được chúng để mưu cấu sức mạnh hoặc sự bất tử sẽ phải vượt qua những thử thách chết người.
      theo Trí Thức Trẻ

      Bí ẩn hình vẽ bị xóa trong sổ tay của Leonardo da Vinci

      Hoa Hướng Dương | 18

      Bí ẩn hình vẽ bị xóa trong sổ tay của Leonardo da Vinci
      Hình minh họa

      Các nhà nghiên cứu đã khôi phục lại bức ảnh bị xóa trong cuốn codex của Leonardo da Vinci nhằm tìm kiếm câu trả lời: Tại sao ông lại ẩn bức hình này đi?

      Nổi tiếng là người bí ẩn, Leonardo da Vinci luôn biết cách giấu những mật mã, những hình ảnh ý nghĩa lồng ghép trong tác phẩm của mình và khiến cho hậu thế phải đau đầu.
      
Phần hình mờ bị xóa
      Phần hình mờ bị xóa
      Điều này giống như một câu đố mà ông dành cho thế hệ sau vậy, không ai hiểu tại sao ông có thể am tường một lúc nhiều lĩnh vực như vậy và sức sáng tạo vô tận dường như không ai sánh bằng.
      Ông được Tony Buzan cùng với những cộng sự và nhiều chuyên gia thuộc lĩnh vực giáo dục bình chọn là thiên tài số một thế giới vì sự toàn năng và những đóng góp của mình cho nhân loại, là niềm cảm hứng cho bất cứ người nào biết đến ông.
      
Codex Arudel
      Codex Arudel
      Không những là minh chứng cho sự toàn diện và tiềm năng to lớn mà một con người có thể đạt được, ông còn là tấm gương cho sự nỗ lực không ngừng nghỉ như những gì ông viết bên lề cuốn sổ tay khi ông gặp khó khăn:
      "Tôi sẽ không rời khỏi luống cày của mình".
      Những cuốn sổ tay mà ông để lại chính là minh chứng cho sự nỗ lực không biết mệt mỏi của ông trong việc khám phá tri thức.
      Mới đây, từ việc nghiên cứu cuốn sổ tay codex Arudel của ông, người ta đã phát hiện một vùng nhỏ bị xóa mờ một cách cố ý.
      Chính điều này khiến cho các nhà nghiên cứu cảm thấy ngạc nhiên và tò mò: Tại sao ông lại xóa bỏ? Và ông đã xóa bỏ thứ gì?
      Chính câu hỏi này đã thôi thúc họ khôi phục lại phần bị xóa bằng công nghệ hiện đại nhất. Việc phục hồi lại được các chuyên gia tại thu viện Anh thực hiện với kỹ thuật tạo ảnh đa quang phổ (multispectral imaging).
      
multispectral imaging
      multispectral imaging
      Kỹ thuật này giúp cho các chuyên gia có thể phục dựng hình ảnh nhiều lớp, thường được dùng để khám phá những bí ẩn đằng sau những tác phẩm nghệ thuật của nhiều bậc thầy mà chúng ta không thể quan sát được bằng mắt thường.
      Cuốn Codex Arudel 263 là một trong số rất nhiều cuốn sổ tay của Da Vinci.
      Trong suốt sự nghiệp của mình ông để lại hơn 7000 trang giấy, nhưng đó cũng chỉ là một phần rất nhỏ thu thập được sau khi ông mất. Số lượng thực tế bị thất lạc và hủy hoại có lẻ còn lớn hơn thế gấp nhiều lần.
      
Da Vinci luôn thích những câu đố và thường ẩn giấu chúng trong tác phẩm của mình
      Da Vinci luôn thích những câu đố và thường ẩn giấu chúng trong tác phẩm của mình
      Một trong số những tập sổ tay của ông còn được tỉ phú Bill Gate mua lại và trở thành cuốn sách đắt giá nhất thế giới. Điều đó cho thấy giá trị mà những gì Leonardo da Vinci để lại là vô cùng to lớn.
      Trong quá trình phục hồi hình ảnh bị xóa, bộ lọc ánh sáng được sử dụng để chụp ảnh huỳnh quang, giúp hé lộ bức vẽ ẩn trên trang giấy trông giống như hình một người đàn ông khỏa thân!
      
Phần hình ảnh bị xóa được khôi phục
      Phần hình ảnh bị xóa được khôi phục
      "Các bức ảnh dấy lên những câu hỏi thú vị về nguyên nhân hình vẽ ra đời và sau đó bị xóa đi", Christina Duffy, nhà khoa học bảo tồn tại Thư viện Anh cho hay.
      Một số ý kiến cho rằng, hình vẽ này thể hiện sự ghen tị của da Vinci đối với Michelangelo, nhân vật nổi tiếng cùng thời có quan hệ không mấy tốt đẹp với mình.
      
Đều là các thiên tài phục hưng nhưng họ lại hoàn toàn trái ngược nhau, thâm chí tương phản, nếu Leonardor Da Vinci là hiện thân của thiên tài cao quý, với những bộ đồ hợp thời trang, phong thái tao nhã, điềm đạm, bí ẩn và khuôn mặt thanh tú…
      Đều là các thiên tài phục hưng nhưng họ lại hoàn toàn trái ngược nhau, thâm chí tương phản, nếu Leonardor Da Vinci là hiện thân của thiên tài cao quý, với những bộ đồ hợp thời trang, phong thái tao nhã, điềm đạm, bí ẩn và khuôn mặt thanh tú…
      Ngược lại, Michael Angelo lại giống một người nông dân, ông thích lối sống gần gũi với tầng lớp lao động cực khổ, quần áo lôi thôi lếch thếch, thẳng tính, dễ nổi nóng, cục tính,…
      Nếu Leonardo da Vinci thường xuyên tiếp xúc với tầng lớp quý tộc và được miêu tả là người hài hước, hóm hỉnh, đa tài thì Michael Angelo lại được miêu tả như một người lao động dơ dáy, nóng nảy và không thích tầng lớp quý tộc.
      Trong đời sống cá nhân, Michael Angelo là người đạm bạc, ông nói với người học việc Ascanio Condivi: “Dù ta có thể giàu có thế nào nữa, ta đã luôn sống như một người nghèo khổ”.
      Ascanio Condivi nói rằng ông không thích thức ăn và đồ uống: “Ông ăn vì cần thiết hơn là niềm vui, ông thậm chí còn ngủ trong đống quần áo và giày tất của mình”.
      Chính sự đối lập này khiến cho quan hệ của họ chẳng mấy tốt đẹp mà như nước với lửa.
      
Tượng David
      Tượng David
      Theo các chuyên gia: "Nó trông giống David, nhưng nhiều cơ bắp hơn bức tượng".
      Martin Kemp, giáo sư danh dự về lịch sử nghệ thuật tại Đại học Oxford, Anh, cho rằng:
      "Da Vinci có thể chỉ đơn giản thực hiện bức vẽ này theo trí nhớ và sau đó xóa nó đi, bởi vì ông không muốn mọi người nghĩ rằng ông ngưỡng mộ Michelangelo".
      Có thể thấy dù là những thiên tài vĩ đại, những người khổng lồ của thời kỳ của thời Phục Hưng nhưng những bậc thầy này đôi khi cũng rất..."trẻ con"!
      theo Trí Thức Trẻ