Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Năm, ngày 27 tháng 3 năm 2014

Ấn tượng bộ ảnh ánh sáng của cuộc sống

Uy Vũ - theo Trí Thức Trẻ | 25/03/2014 22:20
(Soha.vn) - Cùng chiêm ngưỡng 10 bức ảnh về vũ điệu ánh sáng tuyệt vời nhất.
Trên khắp thế giới này một trong những khoảng khắc làm người ta yêu thích chính là thời khắc ánh mặt trời bao trùm lên cả vạn vật.
Mới đây, một cuộc thi độc đáo quy tụ rất nhiều bức ảnh chụp khoảnh khắc ánh nắng mặt trời ấm áp phủ lên toàn cảnh đã được tổ chức.
Dưới đây là hơn 10 bức ảnh được chọn lọc trong danh sách 1500 bức ảnh gửi tới cuộc thi. Sau trong số 10 bức ảnh đó được chụp từ Anh và trong đó có Cannock ở West Midlands và Bridport, Dorset. Trong số những bức ảnh lọt vào danh sách 10 bức ảnh cuối cùng có cả những nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và có những người nghiệp dư.
Được biết, người chiến thắng sẽ giành giải thưởng là một chuyến đi tới Na Uy trong mùa hè này.
 
 
Winter sunrise over West Dorset, taken in Bridport by finalist Stephen Banks
Early Light, at Newlands Wood Cannock by finalist Graham Colling, from Walsall, West Midlands
Watching the tide roll away (II) at Alloa, Scotland taken by finalist Brian Smith, from Tullibody, Scotland
Untitled in Newcastle, Co Down, taken by finalist Brian Mccready, from Banbridge Northern Ireland
Showers taken in The Hague, Netherlands by finalist Rogier Steyvers, from The Hague, Netherlands
Sunset Cliffs taken in San Diego, USA by finalist Thomas Zagler, from South Tyrol, Italy
Lighting up Langstrath taken in Borrowdale by finalist Paul Fenech-Soler, from Baildon, West Yorkshire

Thứ Tư, ngày 12 tháng 3 năm 2014

Những cách phê bình độc đáo





Các nhà văn, nhà thơ vốn được xem là những người giàu chữ nghĩa. Chính bởi thế mà trong một số trường hợp, để tỏ thái độ bất ưng của mình với một tác phẩm nào đó, họ không "ngang bằng sổ thẳng" mà tìm ra những cách nói khá độc đáo, khiến người đối thoại không khỏi... bất ngờ. Một số mẩu chuyện sau đây là những ví dụ...
Các nhà văn, nhà thơ vốn được xem là những người giàu chữ nghĩa. Chính bởi thế mà trong một số trường hợp, để tỏ thái độ bất ưng của mình với một tác phẩm nào đó, họ không "ngang bằng sổ thẳng" mà tìm ra những cách nói khá độc đáo, khiến người đối thoại không khỏi... bất ngờ. Một số mẩu chuyện sau đây là những ví dụ...

Nói gần nói xa chẳng qua... nói thật
Sinh thời, nhà thơ Chế Lan Viên không thuộc trong số những người đánh giá cao bài thơ "Ngói mới", dù rằng có thời kỳ nó được đưa vào giảng dạy trong nhà trường và được xem như một bước tiến của thơ Xuân Diệu sau Cách mạng. Theo ghi chép của nhà phê bình văn học Hà Minh Đức thì trong một cuộc trao đổi về thơ, Chế Lan Viên có nêu nhận xét: "Bài thơ Ngói mới có ý hay, nhưng nếu cứ thế thì thêm hàng trăm câu cũng không khác".
Còn theo cuốn "Chuyện vui các nhà văn Việt Nam hiện đại" (NXB Thanh niên, 1990) của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi thì một lần, sau khi Chế Lan Viên đi công tác khu 4 về, Xuân Diệu hỏi người dân ở đó họ thích thơ ai nhất. Chế Lan Viên bình thản đáp: "Tôi có hỏi nhiều người thuộc nhiều tầng lớp. Ai người ta cũng bảo họ thích nhất thơ Bút Tre".
Xuân Diệu nghe vậy giãy nảy: "Trời ơi, thích nhất thơ Bút Tre! Cái thứ thơ "Mời bạn về thăm núi Con Voi/ Đủ cả đầu đuôi đủ cả vòi/ Voi cũng như người voi sản xuất/ Đầu thì nương sắn, đít nương khoai" ấy ư? Thị hiếu văn chương hỏng hết rồi". Tới đó, Xuân Diệu hỏi dồn, rằng sao Chế Lan Viên không hỏi trong thơ Bút Tre, người dân thích bài nào nhất.
Đến đây, Chế Lan Viên mới hóm hỉnh "thả" một câu: "Họ bảo họ thích nhất bài... Ngói mới". Thì ra, Chế Lan Viên muốn mượn câu chuyện hài hước ấy để... chê khéo bài thơ "Ngói mới" của Xuân Diệu. Xuân Diệu, mặc dù biết mình bị "bẫy" song chắc cũng chỉ... cười xòa.
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh, Nhà văn Nguyễn Tuân.
Từ khen xuống chê cách nhau có... một chữ
Tác giả "Tây tiến" - nhà thơ Quang Dũng - thời kỳ làm biên tập viên Nhà xuất bản Văn học đã có cách từ chối bản thảo của một tác giả khá bất ngờ và độc đáo: Trước đó, ông cất lời... khen, nhưng là khen những thứ râu ria không liên quan đến chất lượng nghệ thuật.
Ông nói với tác giả: "Tôi đã đọc rất kỹ bản thảo của anh. Bản thảo có nhiều ưu điểm. Chữ đẹp, viết cẩn thận, sạch sẽ. Nói chung, các truyện anh viết đều... (nói đến đây, ông dừng lại rót nước mời khách. Trong khi vị khách ngỡ Quang Dũng khen mình viết... đều tay thì nhà thơ nói tiếp) không dùng được". Có thể nói, chỉ trong một câu nhận xét, tác giả "Tây tiến" đã khiến ông tác giả kia như đang từ trên trời rơi tõm xuống mặt đất vậy.
Chưa đủ để khen
Sinh thời, nhà phê bình văn học Hoài Thanh nổi tiếng là tao nhã, tế nhị trong việc phê thơ. Ông thường lựa lời để người bị chê ít cảm thấy thương tổn. Ấy là việc viết ra giấy trắng mực đen. Còn trong giao tiếp đời thường, khi cần ông cũng thể hiện rõ sự nghiêm khắc của mình.
Chuyện kể rằng, hồi ông còn làm Viện phó Viện Văn học, nhân đọc bản báo cáo tình hình văn học trong năm của một cán bộ trong Viện (người này có học vị Phó tiến sĩ), Hoài Thanh đã nhận xét: "Bài viết của anh có nhiều điểm đúng và nhiều điểm mới. Nhưng... những điểm đúng thì người ta đã nói, còn những điểm mới thì lại... sai".
Quả là một cách phê bình mang nét dí dỏm rất Hoài Thanh.
Chê để khen và khen để... chê?
Nhiều người đã biết, Nguyễn Tuân là nhà văn rất khó tính trong thẩm định văn chương. Để có được một lời khen của ông quả thật không hề dễ dàng. Ngay với nhà văn Tô Hoài, người có vị thế văn học và từng nhiều năm tháng quen thân nhau, song phải mãi sau này, nhân đọc một truyện ngắn mới của Tô Hoài trên Báo Sài Gòn giải phóng, ông mới viết thư cho tác giả, thể hiện sự ưng ý, tâm đắc của mình.
Trong hồi ký "Cát bụi chân ai", Tô Hoài có trích in một đoạn thư của Nguyễn Tuân gửi cho ông: "Tô Hoài. Mình thường ít khen ông - về cả con người, cả nhà văn. Nhưng đọc Sài Gòn giải phóng, 13 tháng giêng 1985, mình thấy có một cái gì mơi mới ở ông. Nhưng phải khen cái truyện ngắn khá dài, khá sâu rộng này. Người thật việc thật trong chuyện này có thật không, hoặc có thì tới mức nào, đối với tôi không quan trọng. Cái quan trọng là nó như thật".
Có người đọc trích đoạn thư này, xem như Nguyễn Tuân "chê để khen", để nhấn mạnh cái cảm xúc khi ông đọc được một truyện mà ông tâm đắc. Song cũng có người lại cho rằng, đó đồng thời là một cách khen để... chê của ông, bởi vốn dĩ, như Tô Hoài nhận xét, giữa Nguyễn Tuân và ông có "nhiều cái không bằng lòng", kể cả trong tính cách và trong thẩm mỹ văn chương.
Không chê kém mà chê... hỗn
Trong những cây đại thụ của làng thơ Việt Nam, Xuân Diệu vẫn được xem là một trong những người cẩn trọng (thậm chí còn rất khe khắt) trong việc khen - chê. Nếu như Chế Lan Viên còn chịu khó biểu dương phong trào thì hầu như Xuân Diệu chỉ đi vào nghiên cứu tìm hiểu tác giả, mà chủ yếu là những tác giả cổ điển.
Đối với anh em trẻ, cũng có khi ông viết nhận xét về họ qua các cuộc thi thơ, nhưng chủ yếu là nhìn từ góc độ những chỗ chưa đạt để nhắc nhở anh em nghiêm túc hơn khi vào nghề viết. Phải nói, những lời phê bình của ông rất có ý nghĩa vì đa phần đều xác đáng.
Trong cuộc thi thơ 1972- 1973, báo Văn Nghệ in bài "Bà" của một cây bút trẻ. Xuân Diệu nhận định: "Tác giả bài Bà vì quá vô ý mà phạm phải nhiều lần vô lễ (ở trong thơ) đối với bà".
Khi cây bút trẻ nọ viết:
Đất màu nâu, da bà cũng màu nâu
Xuân Diệu phê: "Bà nội, bà ngoại đâu có phải một chiếc ấm đất mà nói cộc lốc như vậy. Anh lại càng vô lễ khi nói với bà rằng: mặt của bà nếp nhăn nhiều như mặt lúa khô queo".
Đến câu:
Giờ cây lúa đổi mùa thay hạt
Bà ơi, bà có trẻ thêm
Xuân Diệu bực bõ nhận xét: "Nếu cháu có hiếu thì cháu cứ khẳng định: cây lúa đổi mùa thay hạt, bà của cháu như cũng trẻ thêm ra. Chứ theo tôi nghĩ, hỏi như tác giả hỏi, là xấc láo với bà".
Câu "Ủ cho cháu là rừng cây đằm thắm/ Phải tay bà quàng đến sau lưng", Xuân Diệu than thở: "Chao ôi, tại người viết quá ư vô ý tứ chứ không phải tại tôi muốn sinh chuyện. Đáng lẽ có thể nói "ấm áp như tấm lòng của bà vẫn theo cháu mà ấp ủ", chứ cháu trai đã 19, 20 tuổi, có thể nói "bà mừng rỡ quá ôm chầm lấy cháu", chứ sao lại viết tỉ mỉ "Bà quàng cánh tay qua sau lưng".
Mới thấy, ở đây, Xuân Diệu không cần nói nhiều về nghệ thuật dựng tứ hay dùng từ, ông chỉ nói về cách xử sự đời thường, chỉ cần vậy thôi mà bài thơ bị ông phê đã hoàn toàn... đo ván.
Hơn cả phê bình
Năm ấy, tập thơ "36 bài tình" của hai tác giả nọ ra đời. Nhiều anh em làng văn tỏ ra rất khó chịu, cho rằng đây là một cuốn sách lập dị, tắc tị, mà sự chồng chất các câu chữ vô nghĩa lý của nó là một sự xúc phạm với thi ca. Nhiều bài phê bình đã được các báo in ra.
Và vấn đề lại tiếp tục được nêu lên tại cuộc họp bàn về thơ ở 19 Hàng Buồm- trụ sở Hội Văn nghệ Hà Nội. Tôi còn nhớ hôm ấy có nhà phê bình đã đọc cả bài viết rất cặn kẽ của mình để chỉ trích tập thơ ấy. Đến gần cuối buổi, nhà thơ Trần Ninh Hồ bỗng đứng dậy phát biểu. Câu nói của anh làm tất cả mọi người đều ngạc nhiên:
- Vừa rồi, tôi nghe đâu công nhân nhiều nhà máy in đang đòi sang làm việc ở cơ sở in tập thơ kia.
Mọi người ngơ ngác chưa hiểu ra sao, thì Trần Ninh Hồ giải thích:
- Là vì họ bảo họ rất thích được in những tập như thế này. Họ có thể xếp chữ nhầm lẫn lung tung, chữ nọ ghép với chữ kia chẳng ra nghĩa gì, mà cũng không sao cả. Vì bản thân chữ nghĩa của tác giả cũng vốn đã như vậy...
Mọi người cười ồ, thầm khen sự thông minh của nhà thơ.
Chê thơ bằng cách chơi chữ qua... tên sách
Trong các nhà thơ đương đại, Trần Đăng Khoa là người có biệt tài trong việc thể hiện sự khen - chê của mình qua một cách nói hết sức độc đáo. Anh từng nhận xét về cái ưu và cái nhược của một tác giả lớp trước: "Khi cần ngắm ông ở thể loại này, lại thấy ông lấp lánh sáng ở thể loại khác. Cũng vì thế, có nhà phê bình chẳng biết xếp ông vào đâu".
Với nhà thơ Trúc Thông, tác giả hai tập thơ "Chầm chậm tới mình" và "Maratông" (trong đó có bài thơ lục bát "Bờ sông vẫn gió" được nhiều bạn đọc yêu thích), Trần Đăng Khoa đã có cách chơi chữ rất dí dỏm, thông minh, qua đó phần nào thể hiện được sự "đong đếm" của anh: "Sau Chầm chậm tới mình, Trúc Thông bắt đầu chạy Maratông.
Có lẽ do mặc cảm, lại lo ngại đường xa, nên anh chạy quá nhanh. Nhanh đến mức tất cả thành lòa nhòa. Anh chẳng còn nhìn thấy ai, và cũng chẳng để ai nhìn rõ anh. Có điều, cái đích mà anh cần tới lại nằm xa dần ở phía... sau lưng: Bờ sông vẫn gió" (theo "Chân dung và đối thoại" - NXB Thanh niên, 1999). Những cách phê bình như thế không chỉ hấp dẫn độc giả mà còn gửi gắm được quan điểm của tác giả, và điều quan trọng là chính cách nói vui vui ấy khiến người bị phê cũng dễ... tiếp nhận hơn
Tường Du

Chết, chưa phải là hết.


Sinh lão bệnh tử là lẽ thường tình, ai rồi cũng đến lúc "về cõi". Và đối với một số trường hợp - trong đó có các văn nhân, thi sĩ - chết không có nghĩa là… hết.
Trong vài mươi năm trở lại đây, có lẽ hiếm năm nào mà các văn nhân thi sĩ lại ra đi nhiều như cái năm 2007 này. Chỉ tính sơ sơ trong làng văn từ đầu xuân tới nay, chúng ta đã phải lần lượt cúi đầu giã biệt các nhà văn, nhà thơ: Xuân Thiều, Trần Bạch Đằng, Thanh Châu, Đào Xuân Quý, Võ Quảng, Hữu Mai, Kim Lân… rồi mới đây nhất là nhà nghiên cứu phê bình văn học Phan Cự Đệ.
Toàn những cái tên nghe… chắc nịch. Và, bên cạnh nỗi buồn đau thương tiếc, các tòa báo cũng nhiều phen phải xoay xỏa để có tin, bài phản ảnh kịp thời cũng như điểm xuyết những nét chính yếu trong cuộc đời và sự nghiệp của các bậc tài danh nói trên.
Đây đó đã có một đôi vị giữ chân thư ký tòa soạn của một vài tờ báo, tạp chí văn hóa văn nghệ phải thốt lên: "Cứ in cáo phó, bài phúng điếu nhiều thế này thì báo bán sao được!".
Thôi thì bỏ qua những lời ca thán thuần lý và có phần hơi… nhẫn tâm ấy, tôi bỗng nhận thấy cách đưa tin, viết bài về các nhà văn vừa quá cố của chúng ta thời gian qua có những điểm còn thiên lệch, cần phải bàn thảo.
Vì rằng, sinh lão bệnh tử là lẽ thường tình, ai rồi cũng đến lúc "về cõi". Và đối với một số trường hợp - trong đó có các văn nhân, thi sĩ - chết không có nghĩa là… hết.
Chẳng thế mà, trước khi trút hơi thở cuối cùng, thi sĩ Pháp lừng danh thế kỷ XIX là Anphrết đờ Muyxê đã thốt lên: "Chết! Ôi đến giờ tôi mới được ngủ ngon".
Còn nhà thơ Tố Hữu của chúng ta thì viết :"Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng/ Lòng khỏe nhẹ anh dân quê sung sướng/ Ngửa mình trên liếp cỏ ngủ ngon lành/ Và trong mơ thơm ngát lúa đồng xanh". Chết như thế làm sao có thể coi là… hết.
Trong khi đó, đọc những bài "nửa cáo phó, nửa chia buồn" xuất hiện đầy rẫy trên báo chí hiện thời (đa phần được chấp bút bởi những cây bút trẻ rất ít có cơ hội tiếp cận đối tượng mình đề cập), người đọc cảm thấy ngoài giá trị thông tin, nó ít đem tới cho người đọc những rung cảm sâu xa cùng những chi tiết gây được ấn tượng sâu sắc.
Nói một cách sòng phẳng thì đa phần những bài viết như thế chỉ gọi là "làm… cho có", chứ ít gây hấp dẫn người đọc. Thậm chí, nó còn tạo một cảm giác nặng nề, u ám.
Có thể tôi dùng hai chữ "hấp dẫn" ở đây, có người sẽ lấy làm thắc mắc, rằng tại sao trước việc một đồng nghiệp mất đi, chúng ta lại đặt vấn đề "hấp dẫn" hay không "hấp dẫn". Và chuyện tang gia, lấy đâu mà "hấp dẫn" được?
Sự thật là cách đây vừa đúng hai chục năm, khi tuần báo Văn nghệ ra một số báo gần như có tính chuyên đề xoay quanh sự kiện lão nhà văn Nguyễn Tuân từ trần, báo đã bán hết veo chỉ trong 1, 2 ngày.
Mọi người xôn xao tìm đọc để thêm hiểu về những khoảnh khắc riêng tư của lão nhà văn. Và điều đặc biệt đáng nói là, ở số báo này, người đọc không phải tiếp xúc nhiều với bầu không khí tang tóc được phơi trải trên mặt báo, bởi đây đó họ còn bắt gặp nhiều câu chuyện vui hóm...
Bên cạnh những bức vẽ ông cụ mắt nheo râu quặp trông rất đỗi "ngộ nghĩnh trẻ thơ" là những bài khá dí dỏm, trong đó, bài của nhà văn Kim Lân "Nguyễn Tuân, anh là người sung sướng nhất" được viết với giọng bông đùa (rất hợp với tính cách Nguyễn Tuân) đến nay vẫn được nhiều bạn đọc nhắc, nhớ.
Được biết, trong một lần trò chuyện cùng bạn hữu, nhà văn Nguyễn Tuân đã "di chúc" vui rằng, sau này, khi đưa ông về… nghĩa trang Văn Điển, thay vì việc mua hoa phúng, mọi người hãy dồn tiền vào mua một téc bia hơi, để bạn bè đi sau xe tang ông, vừa uống bia vừa tiễn đưa ông cho buổi lễ thêm phần… long trọng.
Phải chăng, từ thái độ bình thản đối với cái chết như thế, mà không khí ở những bài viết về Nguyễn Tuân trong số báo chuyên đề nói trên cũng nhẹ nhõm hơn, và các bài viết vì thế cũng hấp dẫn hơn?
Như vậy, không thể nói những bài báo viết để chia tay một số văn nghệ sĩ nào đó chỉ là những bài "phúng viếng" thuần túy, không thể hấp dẫn được? Vấn đề là ta chọn lựa cách thể hiện như thế nào. Không nhất thiết trong các bài tưởng nhớ, tất cả đều phải chung một giọng xa xót, buồn thương.
Chẳng đã có chuyện, khi tiễn đưa một nhạc sĩ tài danh trở về Đất Mẹ, người ta đã cùng hát vang một nhạc phẩm mà ông nhạc sĩ này sáng tác đó sao?
Ở đây, tôi chỉ xin được nêu một ý nhỏ là: Với người vừa ra đi, nếu ta không kéo họ gần lại được hơn với cuộc đời này thì cũng đừng nên đẩy họ xa thêm nữa. Và chỉ như thế, những bài viết tưởng niệm họ mới trở nên thực sự có ý nghĩa


  Phạm Thành Chung

Thứ Ba, ngày 11 tháng 3 năm 2014

Làng phố



Em ơi anh về làng phố/Thăm cửa Ô xưa phố cổ Hà thành/Ngõ nhỏ nhà em vẫn hun hút tối tăm/Người béo phải nghiêng mình người cao phải cúi …

Em ơi
anh về làng phố
Thăm cửa Ô xưa phố cổ Hà thành
Ngõ nhỏ nhà em vẫn hun hút tối tăm
Người béo phải nghiêng mình
người cao phải cúi …

Hồn quê
nặng lòng làng phố
Thong thả trầm ngâm nói khẽ ít lời
Chia sẻ cùng nhau gác xép giếng trời
Bể nước lối đi cầu thang góc bếp…

Làng phố
khói lam chiều lơ đãng
Nghe tiếng đàn ai ô cửa nhỏ lên đèn.
Khuôn mặt muôn người ai cũng thân quen
Nhớ bước chân em đi về sớm tối

Em ơi
anh về làng phố
tìm lại hương quê khói bếp giếng trời
Chợt thấy buồn vui nghe tiếng ầu ơ
Cửa sồ nhà em giò phong lan thơm ngát.




Khi nào?

Chuyện bán buôn là chuyện của thương gia hay còn gọi "lái buôn - con buôn", nhưng vấn đề quan trọng là lời lãi ít hoặc nhiều. Chả thế, người ta có thể buôn bán bất cứ món hàng nào kể cả thần thánh lẫn lương tâm... Nhưng không có món hàng nào có giá trị trao đổi mang lại lợi nhuận cao nhất xét từ cổ đến kim mà các thương gia là không biết. Đó là chuyện buôn Vua và buôn Học thuyết. Điều đó không biết có đúng không?



Khi nào
ta là người giàu có
Đó là khi ta giỏi chuyện bán buôn
Hỏi món hàng nào từ cổ đến kim
Hơn chuyện:
– buôn vua và buôn học thuyết?

Về thăm rừng Sác

Ven thành phố Sài Gòn xưa, địa danh rừng Sác đã ghi nhiều dấu ấn lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. 30 năm sau chiến tranh, chiến khu rừng Sác đã được tái tạo lại thành một điểm tham quan hấp dẫn có giá trị giáo dục về truyền thống chiến đấu dũng cảm của quân dân Nam bộ.  
Biểu tượng cho uy danh và lòng quả cảm của các chiến sỹ đặc công rừng Sác đến hôm nay vẫn còn đây. Bức tượng đài tưởng niệm chính là bức thông điệp cho hôm nay và mai sau về sức sống và sức chiến đấu của dân tộc Việt Nam và con người Việt Nam. 860 trong tổng số hơn 1000 chiến sỹ đặc công rừng Sác đã ngã xuống vì ngày toàn thắng cuối cùng. 30 năm, âm vọng của lòng dũng cảm vẫn còn huyền diệu.
 
         Ta và em
tạm thời xa thành phố
Ghé về thăm rừng Sác Cần Giờ
Làng biển thanh bình bãi cát hoang sơ
Gặp những căn chòi như ai đứng gác.

Em đừng ngại
chân lấm lem bùn đất
Vỗ nhịp thuyền len lỏi giữa rừng sâu
Nếu em thích hãy thả những mồi câu
Và có thể cùng anh tát đìa bắt cá…

Bếp lửa hồng
khói bồng bềnh vòm lá
Ta cùng quây quần hát khúc quân ca
Dù cuộc chiến tranh nay đã đi qua
Các địa danh anh hùng sẽ còn sống mãi.

Những cửa sông
Đồng Tranh, Lòng Tàu, Thị Vải…
Tượng đài khắc ghi thấm máu cha ông
Rừng Sác Cần giờ những chiến sỹ đặc công
Ta chợt nhói lòng hỏi ai còn ai mất?

Ta và em
một lần trải nghiệm
Ghé về thăm rừng Sác Cần Giờ
Em trộm hôn anh – anh xin gởi vào thơ
Thơ nhuộm màu xanh của rừng và biển biếc.
 

Ao làng

Ao làng là một trong những hình ảnh đặc trưng của làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ. Ao làng được nói tới trong bài viết này chủ yếu là các dãy ao thuộc xóm Duyên, xóm Đình… gắn liền với những năm tháng tuổi thơ của tôi. Thời đó, mạn xóm tôi có hai dãy ao: Thứ nhất, dãy ao chạy theo con đường trục trong làng và thứ hai, dãy ao ở phía Bắc của làng, chạy theo con ngòi già nua, trên bờ là lũy tre xanh bao bọc xóm làng.
Các ao làng phân cách với nhau bằng một cái bờ, trên bờ có thể đi lại được. Bờ ao ngăn cách có tác dụng khi tát ao bắt cá, người ta dùng gầu sòng hoặc cọn nước, sau này là máy bơm… chuyển nước từ ao nọ sang ao kia.
Trên bờ của dãy ao dọc theo đường làng, vào khoảng năm 1961-1962, người ta trồng một hàng dừa, trông rất đẹp mắt. Bọn trẻ con chúng tôi, lúc đó là thiếu nhi, cũng được phân công trông nom, săn sóc rặng dừa này. Dãy ao dọc đường làng tạo cảnh quan tươi đẹp cho xóm làng. Đôi lần, nhân ngày hội làng 12 tháng Giêng, người ta tổ chức trò bắt vịt, thổi cơm thi cũng ở trên dãy ao này (khi mặt nước ao Đình bị thu hẹp, không còn đủ đường đua). Trên con thuyền bồng bềnh, người dự thi ở thắt lưng cắm một cần tre cong vượt qua đầu. Đầu cần tre là một cái quang treo bằng dây thép; cuối quang treo là một cái nồi nấu cơm nhỏ xíu. Người thi tay phải cầm bó đuốc đang cháy nỏ, tay trái giữ quang sắt, dùng ngọn lửa bập bùng ấy để nấu cơm, vừa nấu cơm vừa phối hợp với đồng đội chèo thuyền bắt vịt. Thuyền nào vừa nấu cơm chín lại vừa bắt được vịt thì thắng cuộc.
Hầu hết các ao đều có bến ao. Bến ao được xây ở bờ ao, thường có vài ba bậc lên xuống. Có chỗ không xây bến thì người ta bắc cầu ao. Bến ao, cầu ao là nơi người dân quê rửa rau, vo gạo, đãi đỗ; là nơi giặt giũ, rửa ráy thôi thì đủ thứ trong đời sống nhà nông. Trong các bến ao, bến ao bà Đào Pha thực sự là một tụ điểm câu lạc bộ của người dân xóm tôi, luôn đông vui, nhộn nhịp. Bến ao ông Dư gắn với những lần tắm ao đầy kì thú của tôi. Bến ao ông Cẩm thỉnh thoảng tôi vẫn xuống rửa nhờ, khi thứ nọ, lúc thứ kia cho nên cảm thấy sao mà thân thuộc…
Ao làng còn là nơi thả cá. Cứ cuối năm, hợp tác xã lại tát ao bắt cá chia cho các hộ gia đình ăn Tết. Nhà nhà ra sân kho hợp tác chia cá, nhận cá, vui như đi hội. Dưới ao cạn, trẻ con ào xuống hôi cá, sục tay xuống những lớp bùn, may ra kiếm được những con cá bị sặc bùn, bắt được con cá nào là hò hét vui sướng. Trên mặt ao, người ta còn thả bèo để làm thức ăn cho lợn. Phổ biến là loại bèo cái. Mỗi nhà chắn một ô rộng trên mặt ao, phân cách nhau bằng những cây nứa nổi. Nhiều nhà còn thả những bè rau muống  trên ao. Rau muống ao to ngọn, non nhẫy nhưng không ngon bằng rau muống trồng ở vườn nhà. Ao làng còn là nơi cung cấp nguồn nước để phòng hỏa hoạn, nguồn nước chống hạn cho ruộng đồng. Ao còn là một cái bồn tắm khổng lồ cho các chú trâu sau một ngày kéo cày mệt nhọc được đằm mình khoan khoái, thỏa sức vẫy vùng. Chúng ngụp lặn, nghếch mũi thở phì phì tóe nước. "Bạn của nhà nông" sau những lần đằm mình thơ thới như vậy, sẽ lấy lại sức chuẩn bị cho những buổi kéo cày nặng nhọc vào hôm sau…
Buồn thay, vào những năm 90 của thế kỉ trước, mỗi lần về quê, tôi thấy nước ao làng bị ô nhiễm nặng nề. Nước chuyển màu đen và bốc mùi tanh tưởi. Rồi vài năm sau, số phận của dãy ao làng tươi đẹp ngày nào đã được định đoạt. Người ta lấp ao và phân lô bán đất cho người dân để lấy tiền chi tiêu các việc công cộng. Còn dãy ao phía Bắc của làng, người dân ra sức đổ đất lấn ao, khiến các ao này nay chỉ nông choèn, méo mó. Tất cả đều phôi pha, tàn lụi theo thời gian…
Ao làng ở quê tôi nay chỉ còn trong kí ức

  Lê Hữu Tỉnh

Kỳ lạ tộc người trai gái "ưng cái bụng" là ngủ chung thoải mái

Giáo dụcNội soiY tếPhóng sự - Ký sựTình huống tranh luận
theo Gia đình và xã hội | 11/03/2014 13:02

Trong phong tục của người Mạ, các cặp đôi khi tìm hiểu nhau nếu “ưng cái bụng” họ sẽ được ngủ chung thoải mái

Tục yêu đương của người Mạ vốn rất mới mẻ. Trong chuyện yêu đương hay tự tìm bạn đời, cha mẹ không hề ngăn cấm hay ràng buộc. Nếu cảm thấy “ưng cái bụng”, đôi trai gái có thể dắt nhau vào rừng hay những nơi vắng vẻ để tìm hiểu.
 - Ảnh 1
Người Mạ (ảnh tư liệu).
Ngủ chung thoải mái trước khi cưới
Vượt hơn 180 km, dọc theo Quốc lộ 20 và băng qua chiếc cầu treo Tà Lài (dài 164m, rộng 4m) vắt ngang sông Đồng Nai, chúng tôi đã có mặt tại ấp 4, xã Tà Lài, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Nơi đây là địa bàn sinh sống từ lâu đời của cộng đồng người Mạ.
Trong chiều chạng vạng nơi góc rừng Cát Tiên, cuộc sống của người dân tộc thiểu số nơi đây vẫn quen thuộc với tiếng kẽo cà kẽo cọt của khung cửi. Bên ché rượu cần của già làng K’Gõ, 84 tuổi, vốn được mệnh danh là “kho tàng văn hóa sống” của người Mạ ở Tà Lài, chúng tôi được nghe kể nhiều câu chuyện độc đáo về phong tục, tập quán từ xa xưa. Trong đó, thú vị nhất chính là quan niệm khá mới mẻ của họ về hôn nhân.
Hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai theo chế độ phụ hệ, một vợ một chồng và tuyệt nhiên không có quan niệm trọng nam khinh nữ. Đặc biệt, khi con cái trong nhà đến tuổi trưởng thành, khoảng 15-17 tuổi, thì được thoải mái tự do tìm hiểu. Ngoại trừ những trường hợp bố mẹ có hôn ước cho con từ thuở nhỏ, đứa trẻ lớn lên sẽ phải tuân theo và không được tự do lựa chọn bạn đời.
Tập tục cũng quy định, nếu bên nào bội ước thì phải tiến hành “trả lễ” cho bên kia. Chẳng hạn, đằng trai lấy vợ trước, bên gái sẽ có quyền yêu cầu nhà trai “trả lễ”. Đây chính là một hình thức “phạt vạ” đã tồn tại từ lâu trong cộng đồng người Mạ. “Nếu bên nào đi lấy người khác trước thì bị phạt của cải rất nhiều, bằng số tiền cưới luôn. Lễ vật gồm hai con trâu, bốn con heo, nhiều rượu cần, chóe, gạo, thóc, gà vịt…”, già làng K’Gõ cho biết.
 - Ảnh 2
Già làng K’Gõ. Ảnh T.G
Tục yêu đương của người Mạ vốn rất mới mẻ. Trong chuyện yêu đương hay tự tìm bạn đời, cha mẹ không hề ngăn cấm hay ràng buộc. Nếu cảm thấy “ưng cái bụng”, đôi trai gái có thể dắt nhau vào rừng hay những nơi vắng vẻ để tìm hiểu. Thậm chí, sau khi G’bổ (thương nhau), họ có thể tầm-pài (ngủ với nhau) miễn là không cùng huyết thống và không được để có bầu trước hôn nhân. Đáng nói là, việc này không hề ảnh hưởng đến chuyện trăm năm của cô gái sau này.
Ngày xưa, người con gái mang bầu trước khi kết hôn thì sẽ bị bon (làng) phạt rất nặng như đuổi ra khỏi nơi cư trú, trừ phi có người nhận làm cha đứa bé trong bụng. Ngày nay, tục lệ này đã không còn. Nếu cái thai của con gái “vô chủ”, cha mẹ phải soạn lễ vật cúng trong nhà như heo, vịt, gà… để tránh xui xẻo.
Theo anh K’Lâm (cán bộ văn hóa xã Tà Lài), dù phong tục của người Mạ rất “thoáng” trong chuyện trinh tiết nhưng một cô gái không ăn ngủ cùng lúc với nhiều chàng trai sẽ được mọi người đánh giá có đạo đức hơn một cô gái có lối sống buông thả. Trường hợp một cô gái được hai chàng trai để ý, giữa họ phải có một cuộc thách đấu bằng xà gạc (dụng cụ đi rẫy và là vũ khí đi rừng của người dân tộc – PV). Ai đủ bản lĩnh giành chiến thắng sẽ được yêu cô gái.
Kỳ lạ không được tiếp tục ngủ chung sau đám nói
Khi hai người đồng ý sống cùng nhau, chàng trai sẽ về thông báo với gia đình để chuẩn bị sính lễ đến nhà cô gái làm đám nói. Cùng với những lễ vật đã được sắm rất chu đáo, bên nhà trai sẽ nhờ một người có uy tín trong họ hàng để làm ông mai dẫn đến nhà gái. Khi đi hỏi vợ, chàng trai người Mạ đã trở thành một người đàn ông thực thụ với ngọn lao cầm trên tay, chiếc dao dắt ngang lưng và trên vai là cây xà gạc.
Đồng thời, anh ta sẽ được mặc trang phục truyền thống của người Mạ, đó là đóng khố với nhiều sợi dây màu đỏ nổi bật, tay đeo trang sức đồng, búi tóc lên cao và cài một chiếc lược sừng sâu. Cô gái sẽ phục sức lên người một bộ váy với nhiều hoa văn đặc trưng rất đẹp mắt của người Mạ, kèm theo những phụ kiện như chiếc đai lưng màu sặc sỡ, đeo nhiều chuỗi vòng có đính hạt cườm. Cô gái cũng giống như chàng trai, búi tóc và cài lược sừng trâu nhưng được cắm thêm con dao nhỏ.
Khi vừa tới nhà gái, tự tay chàng trai sẽ cắm ngọn lao xuống đất, ngay trước cửa nhà gái và… đứng đợi. Một lát sau, người đại diện cho đàng gái có thể là cha hoặc cậu ruột sẽ trực tiếp ra đón nhà trai. Sau khi nghe lời trình bày lý do tại sao đến đây của chàng trai, nhà gái gật đầu đồng ý. Ngay lúc đó, chàng trai sẽ rút ngọn giáo và cùng mọi người vào nhà. Cũng giống như nhiều dân tộc thiểu số khác, việc đầu tiên mà chàng trai người Mạ phải làm khi bước chân vào nhà gái là đứng trước bàn thờ tổ tiên khấn vái rồi đem ngọn giáo gác lên xà nhà. Ngọn giáo sẽ được để nguyên tại nhà gái bảy ngày bảy đêm.
Sau những nghi lễ được hai họ cử hành, mọi người mới cùng nhau ngồi lại bên những ché rượu cần. Lúc tiệc rượu tàn, nhà trai ra về, riêng chàng trai sẽ ở lại nhà vợ chưa cưới để làm việc. Đặc biệt, một tập tục kì lạ chỉ có ở người Mạ là sau đám nói việc quan hệ nam nữ sẽ tuyệt nhiên bị cấm, dù trước đó hoàn toàn thoải mái. Trường hợp đôi trai gái muốn ngủ chung thì phải vào rừng và tự dựng túp lều để cùng nhau sống ở đó. Đến khi kết hôn các cặp đôi sẽ được ngủ chung.
Già làng G’Bổ bảo, trong quá trình sống chung, nếu đôi vợ chồng trẻ không hợp nhau hay cô gái không thể sinh con cho nhà chồng thì đằng trai có thể trả cô gái về nhà mẹ đẻ. Dù cô dâu có lỗi cũng không được đánh đập, đặc biệt trước mặt bố mẹ vợ và con cái, vì như thế chẳng khác nào đánh vào cha mẹ cô gái.
Theo quan niệm của người Mạ, nếu cô dâu được trả về nhà mẹ đẻ trong tình trạng bầm dập, thì cô đã là một người chết, nhà gái sẽ không nhận. Đồng thời, nhà gái sẽ phạt vạ nhà trai rất nặng. Chính vì vậy, để cha mẹ nhận lại con cái của họ thì cô gái phải được trả về “nguyên vẹn”.
Lễ vật thách cưới cả trăm triệu đồng
Khi màn đêm dần buông xuống, không khí yên ắng và không gian âm u, tịnh mịch thâm sâu của khu rừng Cát Tiên như được xua tan bớt bởi ánh lửa bập bùng trong những ngôi nhà sàn. Thi thoảng, tiếng cười giòn tan của trẻ thơ hay tiếng cười sảng khoái sau những câu bông đùa của người lớn lại vang lên, báo hiệu kết thúc chuỗi ngày làm mùa mệt nhoài trên nương rẫy.
 - Ảnh 3
Chị Ká Rển, nghệ nhân dân gian. Ảnh T.G
Cùng ngồi chuyện trò với chúng tôi, chị Ká Rển - nghệ nhân dân gian của người Mạ tâm sự: “Làng Tà Lài của người Mạ giờ đã có nhiều nhà gạch, nhưng người dân nơi đây vẫn thích được sống trong những nếp nhà sàn. Nhất là cùng ngồi bên nhau chuyện trò về những người đi trước bên bếp lửa và ché rượu cần”.
Chúng tôi được nghe chị kể câu chuyện ở rể của chàng trai Tà Lài khi không đủ tiền trả sính lễ cho nhà gái. Theo chị, trong quan niệm của người Mạ, người con gái khi đi lấy chồng chẳng khác nào… mất luôn. Vậy nên, nhà gái sẽ đòi hỏi sính lễ rất cao đối với nhà trai. Để được đính hôn với cô gái, chàng trai phải “cống nạp” lễ vật cho bố mẹ vợ tương lai là một ché rượu cần, một con gà, nhiều chuỗi hạt đeo cổ, lục lạc, lược sừng và nhiều món quà quý khác theo yêu cầu của nhà gái.
Trước khi tiến hành hôn lễ, nhà trai phải nạp nhiều lễ vật có giá trị khác như: hai con trâu, sáu con lợn, một cặp chiêng, ba mươi cái ché. Ngoài ra, họ phải đãi tiệc dân làng nhiều ngày liền. Chàng trai cũng có thể “khất” nhà gái phần sính lễ nếu chưa thể trả hết, với điều kiện phải đi ở rể. Chỉ khi nào sính lễ cho nhà gái được hoàn tất thì chàng trai mới được đưa cô gái về nhà mình làm dâu và những đứa con sinh ra mới được mang họ cha.
Chị Ká Rển chia sẻ: “Nếu tính theo thời giá hiện nay, tổng số lễ vật mà nhà trai mang đến nhà gái có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. Vì số tiền quá lớn, nhiều chàng trai có hoàn cảnh nghèo khó đành ở rể suốt đời. Như tôi đây, đến bây giờ vẫn mang họ của mẹ vì cha quá nghèo, đến lúc chết vẫn chưa trả hết lễ vật. Cha mẹ tôi sống cùng nhau bao năm, sinh đến 10 mặt con mà theo tục lệ người Mạ cha tôi vẫn chưa thể có… vợ”.
Đến bây giờ, việc lấy chồng của chị cũng theo quan niệm của người Mạ, nên hiện chồng Ká Rển vẫn phải ở rể vì gia đình anh quá nghèo. Tất nhiên, bốn đứa con của anh chị đều mang họ mẹ. Chỉ khi nào anh hoàn tất được sính lễ cho nhà gái thì con cái mới được “chính danh” mang họ cha.

Thứ Hai, ngày 10 tháng 3 năm 2014

Thói quen "rởm đời" của các thiên tài trong lịch sử

theo Kenh14/PLXH | 08/03/2014 14:56

Nikola Tesla lau thìa 18 lần mới dùng bữa, Charles Dickens chải đầu hàng trăm lần mỗi ngày... là những thói quen "quái lạ" của các thiên tài.

Ít ai ngờ rằng, nhiều nhà văn, nhà chính trị gia, nghiên cứu khoa học lại có một số thói quen kỳ lạ giúp họ nảy sinh nhiều ý tưởng sáng giá. Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến nhà văn Mỹ - Jack Kerouac phải tìm đến men rượu để “giải phóng tâm hồn”, tạo nguồn cảm hứng văn chương hay nhà thơ Thomas Stearns Eliot còn có thói quen bôi phấn lên mặt và tô son màu xanh lá cây; Friedrich von Schiller tìm ý thơ từ mùi táo thối.
Câu hỏi nhiều người thắc mắc là những thói quen kỳ lạ này tạo nên các thiên tài, hay chính cái “tài” đã tạo nên cái “tật” khác thường ở những con người đó. Cùng điểm lại một vài thói quen quái gở của các thiên tài qua bài viết dưới đây.
1. Tiểu thuyết gia Charles Dickens - chải đầu hàng trăm lần mỗi ngày
Được mệnh danh là một trong những cây bút vĩ đại nhất thời nữ hoàng Victoria, tiểu thuyết gia người Anh - Charles Dickens (1812 - 1870) sở hữu không ít những thói quen kỳ lạ. Một nhân viên tiết lộ rằng, Charles không thể chịu được việc tóc tai “mất trật tự”, chính vì vậy ông luôn phải để một chiếc lược ngay gần và chải đầu hàng trăm lần mỗi ngày.
Thói quen
Bên cạnh đó, ông còn có thói quen đi đi lại lại trong khi sáng tác và đọc cho thư ký chép lại. Sau đó, hai người còn phải nghiền ngẫm từng câu nhiều lần, thay từ cho phù hợp và đổi thứ tự các từ trong câu trước khi bắt tay vào viết tiếp.
Thói quen
Các chuyên gia nghiên cứu đời sống và công việc của Dickens cho rằng trường hợp của ông là biểu hiện nhẹ của chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế, nặng hơn còn là chứng động kinh.
2. Nhà sáng chế Thomas Edison - ngủ nhiều giấc mỗi ngày
Trước khi trở thành các cộng sự nghiên cứu của Thomas Edison (1847 - 1932), họ đã phải trải qua một vòng phỏng vấn gắt gao, đó là ăn một bát súp dưới dự quan sát của nhà sáng chế tài năng này. Ông sẽ theo dõi xem họ có cho thêm muối vào súp trước khi ăn hay không.
Thói quen
Edison sẽ lập tức loại ngay những người cho muối dù chưa nếm thử tí nào. Theo ông, bài kiểm tra này nhằm loại bỏ những thí sinh mới bắt đầu nhưng đã đưa ra quá nhiều giả thuyết.
Edison còn cố gắng giảm thiểu những nhu cầu thiết yếu hết sức có thể, ví dụ như việc ngủ. Ông chia giấc ngủ của mình ra thành nhiều lần ngủ ngắn để có thêm thời gian tỉnh táo làm việc.
Thói quen

Thói quen
Khác với người bình thường ngủ từ 6-8h liên tục, ông lại chia thành nhiều giấc ngủ ngắn trong ngày.
Chu kỳ ngủ chia làm nhiều giai đoạn (polyphasic sleep) là phương pháp dành cho những người muốn có thêm thời gian thức để làm những công việc khác, nhờ vậy sẽ tăng được năng suất công việc. Ngoài Thomas Edison, thiên tài Leonardo Da Vinci cũng áp dụng phương pháp ngủ này.
3. Nhà phát minh Nikola Tesla - lau thìa với 18 chiếc khăn tay mới ăn
Nikola Tesla (1856 - 1943) là cha đẻ của hơn 300 phát minh như nam châm điện, radio, động cơ không đồng bộ… Tesla thường bắt đầu làm việc vào lúc 3h sáng và tiếp tục cho tới 11h đêm.
Thói quen
Thói quen này đã khiến ông bị suy nhược ở độ tuổi 25. Tuy nhiên, ông nhanh chóng phục hồi và tiếp tục chế độ sinh hoạt này cho tới khi về già, làm việc suốt 38 năm không ngừng nghỉ.
Bên cạnh đó ông còn sống độc thân và làm bạn với chim bồ câu. Telsa còn có những nỗi sợ thầm kín, đó là phụ nữ thừa cân và các loại trang sức (đặc biệt là ngọc trai).
Thói quen
Thói quen
Ông sợ những phụ nữ quá cân.
Hơn thế, ông còn không dám bắt tay vì sợ vi khuẩn. Mỗi khi dùng bữa, nhà phát minh này phải lau sạch dao, dĩa và thìa với đúng 18 chiếc khăn tay làm từ vải lanh rồi mới yên tâm thưởng thức bữa ăn của mình.
4. Bác sĩ Sigmund Freud - kết bạn với "nàng tiên nâu"
Bác sĩ tâm lý và thần kinh người Áo - Sigmund Freud (1856 - 1939) đã mang đến những hiểu biết sâu sắc về tiềm thức con người. Thông qua đó, ông cũng giúp các nhà tâm lý học có được cách thức tiếp cận bệnh nhân một cách dễ dàng hơn. Nhưng ít ai biết rằng, tật xấu của con người tưởng như hoàn hảo này chính là nicotine và cocaine.
Thói quen
Ông bắt đầu nghiện các chất kích thích này từ rất sớm và hút liên tục. Người bạn thân và cũng là bác sĩ của Freud đã cảnh báo ông rằng, việc hút xì gà hàng ngày có thể gây ra chứng rối loạn nhịp tim hết sức nguy hiểm.
Freud đã cố cai nghiện nhưng lại sớm rơi vào tình trạng trầm cảm. Ông đã từng chia sẻ: “Ngay sau khi bỏ thuốc, tim tôi thậm chí còn tệ hơn hồi dùng, tâm trạng thì không lúc nào được yên vì những hình ảnh chết chóc, tiễn biệt cứ lặp đi lặp lại”.
Thói quen
Cuối cùng, Freud lại phải trở về với “nàng tiên nâu” và đã từng hút một liều lượng lớn cocaine. Ông thậm chí phải trải qua 33 cuộc phẫu thuật miệng và hàm để loại bỏ tế bào ung thư nhưng vẫn dành những lời ca ngợi tốt đẹp cho thứ “vật chất kỳ diệu” này.
5. Nhà văn Honore de Balzac - uống 50 cốc cà phê mỗi ngày
Nhà văn hiện thực Pháp - Honore de Balzac (1799 – 1850) có niềm đam mê với cà phê lớn tới mức một ngày ông có thể uống tới 50 cốc và hiếm khi chợp mắt trong quá trình sáng tác bộ tiểu thuyết “Tấn trò đời”.
Thậm chí ông còn dành một bài báo để ca ngợi “vẻ đẹp” của cà phê bằng thứ văn xuôi hoa mỹ và đầy chất thơ: “Thứ cà phê này rót vào dạ dày bạn và ngay lập tức tạo nên một chấn động. Các ý tưởng bắt đầu hành quân như tiểu đoàn trong một trận chiến”.
Thói quen
Honore de Balzac gọi cà phê là “thứ sức mạnh lớn lao trong cuộc đời”, nhờ có thức uống này mà ông có thể sóng sót với lịch làm việc “chết người”: đi ngủ lúc 6h tối, dậy lúc 1h và làm việc đến 8h sáng, sau đó chợp mắt một lúc trước khi tiếp tục viết 7 tiếng.
Ông uống rất nhiều để duy trì tốc độ công việc và thậm chí còn ăn bột cà phê trong khi dạ dày đang rỗng. Kết quả là Honore de Balzac đã viết được 85 cuốn tiểu thuyết trong vòng 20 năm và qua đời ở độ tuổi 50.
Nhiều người suy đoán cái chết của ông là do lao lực và uống quá nhiều cà phê, trong khi có những giả thuyết cho rằng ông qua đời vì bị tăng huyết áp, xơ vữa động mạch.
6. Tiến sĩ Yoshiro Nakamatsu - ý tưởng xuất hiện khi não thiếu dưỡng khí
Trong 74 năm cuộc đời của mình, tiến sĩ Yoshiro Nakamatsu đã sở hữu 3.300 bằng sáng chế, nổi tiếng nhất trong số đó là đĩa mềm. Rất nhiều sản phẩm của Nakamatsu đã được khai sinh trong hoàn cảnh ông suýt chết đuối. Nhà sáng chế lỗi lạc này tin vào lợi ích của việc thiếu dưỡng khí khi con người ở dưới nước.
Thói quen
Ông cho biết: “Để não thiếu dưỡng khí, bạn cần phải lặn thật sâu và khoảng 1,5 giây trước khi chết, tôi có thể hình dung ra một phát minh mới”. Sau đó ông viết ý tưởng này vào giấy chống thấm nước rồi bơi lên.
Thói quen
Thêm một chìa khóa dẫn đến thành công của Nakamatsu là lên ý tưởng trong một căn phòng lát đầy vàng 24kara. Theo ông, lớp vàng này có thể ngăn được sóng vô tuyến và radio “có hại cho quá trình sáng tạo”.

Những điều cấm kỵ

         Những điều cấm xưa nay đều cám dỗ/ Ai cấm ai và sẽ cấm được ai?/ Thế gian này lắm chuyện bi ai/ Khi phỉnh lừa những điều cấm kỵ/ Cấm là bởi những gì xưa cũ/ Không hợp thời với sự đổi thay/ Cấm là vì cái mới cái hay/ Ảnh hưởng đến cường quyền danh vọng/ Cũng có thể sợ nói lên sự thật/ Cũng là vì những cái xấu xa/ Có thể là điều chưa kịp nhận ra...


Những gì cấm
xưa nay đều cám dỗ*
Ai cấm ai và sẽ cấm được ai
Thế gian này lắm chuyện bi ai
Khi phỉnh lừa những điều cấm kỵ?

Cấm là bởi
những gì “xưa cũ”
Không hợp thời với sự đổi thay
Cấm là vì cái “mới cái hay”
Ảnh hưởng đến cường quyền danh lợi?

Cũng có thể
sợ nói lên sự thật
Cũng là vì những cái xấu xa
Có thể là điều chưa kịp nhận ra
Cái mới – của những gì tất yếu.

Ta chợt nghĩ
đến một ngày nào đó
Sẽ nhớ về cuộc sống hôm nay
Chân lý cuộc đời là những sự đổi thay
Cũng không hẳn ngoài những điều cấm kỵ?



* Ý thơ của Ômakhayyam (Iran)