Anh vô tình như gió,
Em hờ hững như mây.
Anh và em như mây như gió,
Vô tình làm khổ nhau…
Vô tình
để ngày tháng qua mau,
Gió thổi bay tình mỏng.
Mây lang thang về đâu?
Ta trôi vào hư không…

















Một cặp vợ chồng mới cưới, đi hưởng tuần trăng mật tại Nha Trang. Trước khi đi, bố mẹ cô gái dặn dò:
- Các con nhớ nhé!
- Nhớ gì ạ? Cô gái hỏi lại.
- Nhớ là lúc yêu nhau đó!
- Dạ!
- Dạ gì? Nhắc lại xem?
- Yêu nhau phải từ từ…
- Phải từ từ thì đứa bé sau này sẽ làm luật sư, nhanh hơn thì làm bác sĩ, còn nếu vừa nhanh vừa mạnh thì nó sẽ đạp xích lô…
Đến Nha Trang, ngay đêm đầu tiên, khi hành sự, cả hai vợ chồng đều muốn đứa bé làm luật sư, nên trước khi lên giường, người chồng còn nhắc nhở:
- Em ơi luật sư nhé! Nhưng được mười phút, cô vợ rên rỉ:
- Thôi kệ, cho nó làm bác sĩ đi anh! Rồi chỉ sau đó năm phút, anh chồng la lên:
- Để anh cho nó đạp xích lô thấy mẹ luôn!
1. “Băn khoăn đứng giữa hai dòng nước”...
Xin được cải biên câu thơ của nhà thơ Tố Hữu để nói về tâm trạng của một số thành viên trong Hội đồng xét kết nạp hội viên Hội Nhà văn Việt Nam 2009. Đúng là, khác với thông lệ của nhiều năm trước, năm nay, mặc dù đang trong giai đoạn giữa thu nhưng không khí văn đàn đã bất ngờ "nóng" lên với việc các Hội đồng chuyên môn của Hội Nhà văn Việt Nam xúc tiến việc bình xét kết nạp hội viên mới.
Được biết, hiện đã có tới hơn 550 đơn xin gia nhập Hội và vì thế, khi kết quả được công bố, số tác giả có tâm trạng không thỏa mãn hẳn cũng sẽ khá nhiều.
Cái quan trọng nhất đối với nhà văn là tác phẩm. Không có một người viết chân chính nào mà động lực cầm bút lại chỉ là để vào… Hội Nhà văn. Nhưng nói vậy không có nghĩa là nếu ai đó để mắt một chút tới cái danh hiệu hội viên Hội Nhà văn là một việc làm… không lương thiện (như ý kiến trên một tờ báo mạng).
Ta cần hiểu và thông cảm cho những trường hợp này, bởi, như một tác giả từng tâm sự với người viết bài này thì "Thà rằng không có Hội, như thể cái thời cụ Tản Đà, cụ Nam Cao, mình cứ việc sống và viết vô tư. Đằng này, khi Hội đã có rồi, nói gì thì nói, là người sáng tác mà không được vào Hội, mang tiếng lắm chứ. Lẽ đời, danh có chính thì ngôn mới thuận. Mà, như cậu biết đấy, hành trình vào Hội cứ như leo cột mỡ ấy, khó lắm chứ".
Đúng như tác giả nọ nhận xét, để trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt
Theo một bài viết của tác giả Hòa Bình được tải trên một trang web ngày 20/10 vừa qua, thì trong danh sách tác giả có hồ sơ xin vào Hội Nhà văn, có người ở tuổi có thể nói là... đại thượng thọ (92 tuổi). Còn theo như những gì tác giả bài viết này biết được, thì sinh thời, nhà thơ tài hoa Đồng Đức Bốn đã không sao vượt qua được con số... 4 (trên 9) ở cấp Hội đồng, may nhờ Ban Chấp hành Hội ra tay "can thiệp".
Trường hợp nhà thơ Đồng Đức Bốn khiến tôi lại nhớ tới trường hợp nhà thơ Trương Nam Hương cách đấy nhiều năm. Sau khi đoạt giải thưởng thơ của Hội Nhà văn Việt
Nói cho sòng phẳng thì các nhà văn, nhà thơ trong các Hội đồng chuyên môn (và cả trong Ban Chấp hành) không phải là những người có thể biết rõ được "tay nghề" của tất cả những người có đơn xin gia nhập Hội.
Vả chăng, ngay trong số những người có "đơn xin" kia, vì nhiều lý do, hoàn cảnh, cũng có người chưa hẳn đã biết đến tên tác phẩm của những người bỏ phiếu xét chọn mình (bản thân tôi đã chứng kiến ở nhiệm kỳ trước, có cây bút khi ký tặng sách đã ghi nhầm họ, tên của các vị trong Ban Chấp hành như Cao Tiến Lê thì lại được viết là Cao Tiến Lên, ở nhiệm kỳ này thì Trần Anh Thái lại bị viết nhầm thành Hồ Anh Thái…), thì đòi hỏi sao được việc những vị "cầm cân nảy mực" này phải biết hết được năng lực của từng người trong số đó…
Điều đó đương nhiên dẫn đến tình trạng có vị (xin ngoại trừ mấy vị từng là và đang là ủy viên Ban Chấp hành Hội mà tôi vừa nhắc tới trên) sẽ dành lá phiếu của mình để ủng hộ những người mà các vị "biết" hơn cả. Và trong sự "biết" này, không thể loại trừ sự cảm tính.
Theo một số ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn khóa này cho biết, hiện không khí xét kết nạp hội viên đã bắt đầu sôi sục. Máy điện thoại để bàn của họ kêu rát từ sáng đến tối, và máy di động thì nghe đến… bỏng tai.
Cũng có một nhà thơ (có chân trong Hội đồng Thơ) tâm sự rằng, ông muốn đợt này kết nạp "rộng" hơn, bởi tới nhiệm kỳ sau, "nhỡ" Hội đồng được cơ cấu theo kiểu khác, gồm những anh em trẻ hơn, "rắn" hơn, sẽ khó cho những tác giả đứng tuổi, chất lượng tác phẩm tuy chưa xuất sắc nhưng có quá trình sáng tác và có quá khứ nhiều đóng góp.
Ngược lại, có người lại lo rằng, nếu kết nạp "nới tay" hơn, có thể dư luận sẽ cho rằng, vì sắp hết nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Hội kết nạp ào ào để "gia ân" và để thêm phiếu cho kỳ Đại hội tới (sẽ diễn ra vào năm 2010), và nếu dư luận đặt vấn đề vậy thì thật là "lợi bất cập hại".
Kết quả đợt xét kết nạp này thế nào, chúng ta cùng chờ xem.
2. Sẽ có bất ngờ trong việc xét kết nạp hội viên Hội Nhà văn?
Nhìn bảng danh sách trình duyệt Ban Chấp hành năm nay, có những tác giả hiện đang giữ chức vị cao ở một số cơ quan báo chí, song số phiếu lại còn thấp hơn (tất nhiên điều này chưa hẳn phản ảnh đúng chất lượng sáng tác của họ) so với những tác giả hiện chỉ là...lính trơn.
Trong số hơn 550 đơn xin gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam, cuối cùng thì các Hội đồng và các Ban Văn học của Hội cũng đã "gút" lại một danh sách gồm 131 người để "tiến cử" cho Ban Chấp hành Hội bỏ phiếu quyết định vào tháng 12 tới (xem tin đăng tải trên trang web của Hội Nhà văn ngày 23/10/2009). Như vậy, nếu với đợt kết nạp được xem là "nới tay" nhất trong nhiệm kỳ này, thì hẳn mỗi tác giả được đề cử sẽ phải chọi với... 3 người. Còn nếu sự thể khắt khe hơn (như năm 2007, Ban Chấp hành chỉ xét kết nạp có 24 người, vừa bằng số nhà văn đã mất trong năm) thì tỉ lệ "đấu loại" sẽ xấp xỉ... 1/6. Điều này làm cho ngay cả những tác giả tự tin nhất cũng không khỏi lo lắng, bởi "văn chương tự cổ vô bằng cớ". Chưa kể, thời gian từ nay đến khi các thành viên Ban Chấp hành Hội cân nhắc, thẩm duyệt... còn dài, những bất ngờ mang tính đột biến rất có thể sẽ xảy ra...
Trong khi trông chờ kết quả cụ thể, người viết bài này xin được gửi tới các tác giả và bạn đọc một số câu chuyện từng xảy ra trong quá khứ xung quanh việc kết nạp hội viên Hội Nhà văn, sức nặng của danh hiệu nói trên cùng một đôi suy ngẫm nhân đọc bảng danh sách các tác giả được đệ trình lên Ban Chấp hành Hội năm nay...
1. Cách đây ít lâu, tôi có đọc được trong hồi ký của một ông nhà văn cao tuổi (từng bị dư luận phản ứng vì nhiều điều tầm phào, không đúng sự thực) câu chuyện về cách kết nạp hội viên hết sức cà trớn một thời ở Hội Nhà văn Việt Nam.
Đại thể là khi anh em nêu thắc mắc sao lại kết nạp ông nhà báo nọ vào Hội Nhà văn, nhà thơ Chế Lan Viên từ nhà vệ sinh đi vào đã nói trắng phớ một câu (khiến ai nấy không còn ho he): "Đến như thằng A....còn được kết nạp vào Hội thì thằng này vào đã làm sao" (tôi nhớ đại ý như vậy, có thể không chính xác từng chữ). Thực tế, nếu ai đó nhìn vào danh sách Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam in trong cuốn kỷ yếu "Nhà văn Việt Nam hiện đại" (Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản năm 2007), đối chiếu năm sinh của tác giả, năm họ in tác phẩm đầu tay và năm họ được kết nạp Hội, hẳn ta sẽ nhận thấy, có một thời, việc trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam cũng chẳng dễ dàng một chút nào (nếu so với bây giờ).
Có thể nói, ngoại trừ một số tác giả tham dự Đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957 (và nghiễm nhiên trở thành hội viên của Hội) là có tuổi đời rất trẻ (như nhà văn Anh Đức khi ấy mới 22 tuổi, nhà văn Phùng Quán mới 25 tuổi, nhà văn Vũ Bão 26 tuổi, nhà thơ Lưu Trùng Dương 27 tuổi...), còn từ năm đó trở đi cho tới trước giai đoạn Đổi mới (1986), số tác giả trở thành hội viên Hội Nhà văn dưới tuổi 30 là rất hiếm.
Đó thường rơi vào những trường hợp rất đặc biệt, khó có ai bì tị. Như trường hợp nhà thơ Xuân Quỳnh (được kết nạp vào Hội năm 25 tuổi sau khi đã cho ra đời những bài thơ tình nổi tiếng như "Chồi biếc", "Sóng", "Thuyền và biển"), nhà thơ Thu Bồn (được kết nạp vào Hội năm 27 tuổi sau khi cho xuất bản tập trường ca trứ danh "Bài ca chim Chrao"), nhà văn Đỗ Chu (được kết nạp năm 27 tuổi sau khi đã xuất bản tới 7 tập sách, trong đó có các tập nổi tiếng như "Hương cỏ mật", "Phù sa"), nhà thơ Phạm Tiến Duật (được kết nạp năm 29 tuổi sau khi chùm thơ "Lửa đèn", "Gửi em, cô thanh niên xung phong", "Bài thơ về tiểu đội xe không kính"... giành được giải nhất cuộc thi thơ năm 1969 của Báo Văn nghệ), nhà thơ Bằng Việt (được kết nạp năm 28 tuổi, sau khi in chung với Lưu Quang Vũ tập thơ "Hương cây - Bếp lửa" gây nhiều ấn tượng trong giới làm thơ trẻ)...
Số tác giả được kết nạp vào Hội dưới tuổi 20 chỉ duy nhất có Trần Đăng Khoa. Thần đồng thơ từng phát lộ thi tài từ năm lên 8 tuổi này cũng phải đến năm 19 tuổi mới được kết nạp vào Hội. Nhưng như thế vẫn còn nhanh hơn chán vạn người từng phát lộ mầm thơ từ thời niên thiếu. Như nữ tác giả Khánh Chi, mặc dù có thơ in thành sách từ năm lên 10 tuổi, song phải hơn hai mươi năm sau chị mới được kết nạp vào Hội, mặc dù, theo nhận xét của nhiều người, ở vào thời điểm đó, chân dung thơ của chị cũng không khác thời điểm chị xuất bản tập thơ đầu tay là bao nhiêu.
Sở dĩ tôi phải dẫn ra tỉ mỉ như vậy để bạn đọc thấy, không phải chỉ đến bây giờ mới là "người khôn của khó", mà trước đây nhiều chục năm, việc xét kết nạp hội viên Hội Nhà văn Việt Nam cũng đã là một việc chẳng chút dễ dàng. Đã thế, lại có thời, Hội Nhà văn Việt
Và thế là đã xảy ra một chuyện dở khóc dở cười: Lần ấy, nhà thơ N.B.V. (ông sinh năm 1933, vào Hội năm 1982) - một người có tài đăng đàn diễn thuyết - về nói chuyện thơ ở một địa phương. Khi người dẫn chương trình mở màn bằng một câu: "Xin giới thiệu với các đồng chí, hôm nay chúng ta vinh hạnh được đón nhà thơ N.B.V. về nói chuyện..." thì bất ngờ từ hàng ghế đầu, có người lên tiếng "cải chính" ngay: "Chưa, chưa phải nhà thơ. Mới chỉ...sắp thôi" (ý nói nhà thơ V. mới chỉ là hội viên dự bị của Hội Nhà văn Việt
Có thể nói, kể từ khi các tác giả được quyền bỏ tiền túi để in sách của mình (dưới hình thức liên kết xuất bản), cộng với việc các tổ chức văn nghệ cũng dần dần được xã hội hóa thì báo chí cũng không còn khắt khe trong việc sử dụng hai chữ "nhà văn", "nhà thơ" như trước nữa. Ta có thể thấy xuất hiện nhan nhản trên báo chí đương đại những danh xưng "nhà văn", "nhà thơ" gắn với rất nhiều cây bút mới có một đôi bài viết được in báo, in sách và chưa hề có chân trong tổ chức Hội Nhà văn Việt
Đã có ý kiến phê phán vấn đề này. Lại có ý kiến bênh vực (mà theo tôi không phải không có lý), rằng thì nếu một ai đó là hội viên Hội Nhà văn, thì họ đơn giản là hội viên Hội Nhà văn, còn danh hiệu "nhà văn", "nhà thơ" có tự ngàn đời, và là do nhân dân yêu thích mà suy tôn, nên ai đó có muốn cũng không thể can thiệp. Tôi chỉ nêu hiện tượng này để chúng ta cùng nhìn lại một thời: Một thời mà hầu như, nếu ai đó chưa phải là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thì đừng mơ tưởng được báo chí gọi là "nhà văn", "nhà thơ". Thậm chí, khôi hài đến độ, khi ấy, dù đã đầu bạc, răng long, rất có thể anh sẽ bị nhét vào cái rọ "cây bút trẻ" như một vốn từ mà người ta thấy "hợp lý" hơn cả.
Xin kể một ví dụ: Lần ấy, Đoàn cán bộ biên tập của tờ báo nọ về thăm một cơ sở sản xuất. Một tờ báo đã đưa tin: Đoàn cán bộ báo gồm nhà thơ A, Tổng biên tập, nhà thơ B. Thư ký tòa soạn cùng các cây bút trẻ X, Y, Z...". Đoạn tin trên buồn cười ở chỗ, những người được gọi là "cây bút trẻ" đều đã ở tuổi trên 50, xấp xỉ 60, và đều có tuổi đời hơn hẳn nhà thơ A, nhà thơ B. Có điều, khi ấy họ đều chưa phải là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nên - với lối "máy móc" một thời - để "phân biệt" người ta đã gọi họ là "cây bút trẻ".
Có lẽ, vì hầu hết các nhà văn được vào Hội khi đã cứng tuổi nên một nhà văn ở tuổi trên 50 vẫn có thể được gọi là "nhà văn trẻ". Năm 1988, tôi từng được đọc ở mặt bìa sau của cuốn tạp chí Tác phẩm văn học giới thiệu nội dung số sau, trong đó các nhà biên tập cho hay: Họ sẽ in thơ của "các nhà thơ trẻ Vũ Quần Phương, Võ Văn Trực...", trong khi về tuổi tác, cả hai nhà thơ này, người đã 52, người cũng vừa 48, còn "trẻ" với ai được nữa...Nhắc lại điều ấy để thấy, có một thời, trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam cũng là nguyện ước cháy bỏng và là nỗi cay đắng của không ít tác giả...
2. Nếu so với mươi, mười lăm năm trở lại đây, thì số tác giả có đầu sách được in ra ở giai đoạn mấy chục năm về trước không được đông đảo bằng. Có thể vì thế mà có người cho rằng, trở thành hội viên Hội Nhà văn bây giờ là điều "muôn ngàn lần khó hơn" chăng? Tôi không đủ thẩm quyền để trả lời câu hỏi trên, song sự thực là, để trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ngoại trừ tài năng, cũng đã có những người dùng đến những cái mẹo tưởng chừng "nhỏ bé" song lại khá hiệu quả để đánh động lòng trắc ẩn của Hội đồng chuyên môn.
Ví như, có một nhà văn đã kể với tôi: Lần ấy, có một tác giả khá đứng tuổi (xin được giấu tên) tìm gặp ông tại nhà riêng, đặt vấn đề rất nghiêm túc: "Tôi thì đằng nào cũng trượt thôi. Nhưng đã trót làm đơn, nếu không được một phiếu nào thì tủi quá. Xin anh cho tôi một phiếu gọi là phiếu danh dự". Nghe cách đặt vấn đề rất thành thực, vả chăng ông Hội đồng nọ cũng nghĩ, đúng như ông tác giả nọ đã nói, ông ta chắc chẳng được phiếu nào ủng hộ đâu. Thôi thì mình cứ "cho" ông ta một phiếu, đằng nào ông ta cũng trượt, mất gì. Ai dè, trước đấy, ông tác giả nọ đã đi gặp tất cả các thành viên trong Hội đồng. Với ai, ông cũng "chỉ" có một yêu cầu như vậy. Cuối cùng, ông được... 100% phiếu thuận và đương nhiên trở thành... hội viên Hội Nhà văn Việt
Cũng đề cập tới việc kết nạp hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, trong một bài báo viết cách đây ít hôm, tôi có đề cập tới hiện tượng sách báo hiện nay được in ra nhiều, trong khi tài năng phát lộ ở khắp các vùng miền nên không loại trừ trong việc kết nạp có sự cảm tính. Giờ tôi xin nói kỹ hơn về vấn đề này.
Có thể nói, với một số người, vì việc vào Hội rất vất vả và gần như vô vọng, nên sau khi biết tin mình bị "trượt", đã có người không còn giữ được bình tĩnh. Trong họ nảy sinh một luồng ý kiến, như thể việc vào Hội đã và đang bị chi phối bởi những "tác động ngoài văn chương".
Người viết bài này không dám khẳng định tính xác thực của luồng ý kiến trên. Chỉ xin được có một đôi ý kiến nhỏ rằng: Nếu quả thật việc gì ở đời cũng được giải quyết ổn thỏa bằng...tiền thì hẳn mọi sự đã quá ư đơn giản. Bởi, cứ theo cách lập luận vậy, thì hẳn các ông Trần Quốc Tiến (khi vào Hội vẫn đang sống bằng nghề làm ruộng ở Nam Định) và Tạ Văn Sỹ (khi vào Hội vẫn đang hành nghề xe ôm ở Kon Tum)... hẳn sẽ phải "lép vế" hơn nhiều vị so với các vị giám đốc doanh nghiệp làm thơ kia chứ?
Trong khi thực tế, việc trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt
Chúng ta đều biết, các Hội đồng chuyên môn cũng như Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khi tiến hành bình xét kết nạp hội viên đều thực hiện bằng phương thức bỏ phiếu kín. Điều này có cái "hay" là các nhà văn vốn dĩ hay cả nể khi phải đối mặt với sự nằn nèo, "gửi gắm" của các tác giả có thể thể hiện chính kiến của mình một cách kín đáo rồi...lẫn vào đám đông (các ủy viên khác).
Nhìn bảng danh sách do các Hội đồng chuyên môn và các Ban Văn học đưa lên trình duyệt Ban Chấp hành năm nay, ta thấy rất hiếm các tác giả được số phiếu thuận tuyệt đối (những người được đưa lên vòng trên đa phần chỉ mới chạm ngưỡng quá bán một chút). Điều này thể hiện sự "không dễ lung lạc" của nhiều thành viên trong các Hội đồng và các Ban Văn học. Thậm chí, có những tác giả hiện đang giữ chức vị cao ở một số cơ quan báo chí, song số phiếu lại còn thấp hơn (tất nhiên điều này chưa hẳn phản ảnh đúng chất lượng sáng tác của họ) so với những tác giả hiện chỉ là...lính trơn (như việc xảy ra ở Hội đồng Thơ và Hội đồng văn học Dân tộc miền núi).
Điều ấy cho thấy, việc kết nạp hội viên ở Hội Nhà văn Việt Nam đã, đang và sẽ còn bộc lộ nhiều bất ngờ mà mọi suy đoán thô thiển chưa hẳn đã cho một kết quả đúng![]()
3. Ứng viên Hội nhà văn Việt
Nhiều người đã biết, các Hội đồng chuyên môn và các Ban Văn học của Hội Nhà văn Việt
Người viết bài này rất tôn trọng ý nguyện được đứng trong hàng ngũ hội viên Hội Nhà văn Việt
Điều "ngộ nhận" trước nhất của một số tác giả có đơn xin gia nhập Hội Nhà văn Việt
Cách đây mấy năm, tôi từng đọc trên báo An ninh Thế giới Cuối tháng một bài viết cho thấy: Có những tác giả, mặc dù đơn xin gia nhập Hội Nhà văn Việt
Nhưng thôi, chẳng nói chuyện đâu xa, vừa rồi, nhân đọc trên trang điện tử vanvn.net (của Hội Nhà văn Việt
Có thể có người đọc thông tin trên, cho rằng tác giả Đặng Văn Lung thích chơi "trội", người ta chỉ cần 2 người giới thiệu là đủ, nay ông chơi tới 4, đông gấp đôi? Tôi thì tôi đồ rằng, có thể ban đầu tác giả Đặng Văn Lung chỉ nhờ cậy tới 2 người là cụ Hoàng Trung Thông và cụ Vũ Đức Phúc, nay thì cụ Hoàng Trung Thông đã về nơi chín suối, nên, để "cập nhật", ông Lung mới cậy nhờ tới 2 giáo sư: Hà Minh Đức và Phương Lựu. Không rõ sự thể có phải như vậy? Song dù thế nào thì với việc người giới thiệu là cụ Hoàng Trung Thông cũng đủ cho ta thấy ông Đặng Văn Lung có đơn xin gia nhập Hội Nhà văn Việt
Ngoài sự "ngộ nhận" về tên tuổi của người giới thiệu, không ít tác giả lại cho rằng, được giới thiệu bởi chính những người đang có chân trong Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam mới thực được đảm bảo, coi như "một công đôi việc", và chỉ việc kê cao gối ngủ, không phải lăn tăn gì. Phải nói họ đã rất nhầm trong việc ký thác niềm tin theo kiểu này.
Năm ngoái, nhân cuộc trao đổi với nhà văn Nguyễn Trí Huân - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam xoay quanh việc kết nạp hội viên, tôi đã được ông cho hay: "Khi xét kết nạp, anh em trong các Hội đồng cũng ít căn cứ vào tên tuổi người giới thiệu, bởi họ hiểu việc làm này thường xuất phát từ sự nể nang. Chẳng hạn, có mấy nhà văn khi được nhờ đứng tên giới thiệu mà lại từ chối đâu". Và nhà văn Nguyễn Trí Huân thổ lộ: Như ông, nếu anh em quen biết có nhờ đứng tên giới thiệu, ông cũng không nỡ chối từ. "Thế nên mới có chuyện, có những trường hợp, cả tôi và bác Thỉnh (nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội - NV) giới thiệu, mà vẫn trượt".
Điều nhà văn Nguyễn Trí Huân tiết lộ có thể chứng thực ngay bằng một ví dụ "nóng hổi". Trên vanvn.net cách đây ít tháng có giới thiệu trong mục "Tác giả đang có hồ sơ xin vào Hội" trường hợp tác giả Nguyễn Bá Đắc, sinh năm 1931, với tên 2 nhà văn "bảo lãnh" cho ông là Thanh Quế và Nguyễn Trí Huân (ông Thanh Quế từng là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VI). Vậy mà, trong danh sách 131 tác giả được các Hội đồng, các Ban Văn học "gút" lại đưa lên Ban Chấp hành xét duyệt kỳ này, không thấy có tên ông Nguyễn Bá Đắc.
Lại có những tác giả rất tự tin mà ngộ nhận rằng, việc xứng đáng hay không xứng đáng trở thành Hội viên Hội Nhà văn đều là những thứ có thể đo được một cách dễ dàng. Như tác giả Trần Xuân An đã rất tự tin gửi bài viết "Kết nạp hội viên mới, lộ trình dân chủ - công khai nên chăng cần hoàn thiện thêm" cho trang web của một nhà văn trẻ, đề nghị Hội Nhà văn Việt Nam nên công khai danh sách các tác giả đã được các Hội đồng tiến cử lên Ban Chấp hành Hội vì "mọi người cầm bút, người đọc và toàn xã hội đều cần được cung cấp thông tin cụ thể về vòng sơ tuyển vừa qua".
Để làm gì? Theo ông Trần Xuân An là để "các thành viên Ban Chấp hành mới có thể cẩn trọng nhiều lần hơn, và do đó mới công bằng, sáng suốt". Phải thừa nhận, ông Trần Xuân An rất tâm huyết với vấn đề này nên mới suy nghĩ lao lung như vậy.
Kỳ thực, đối với vấn đề xét kết nạp hội viên, "người đọc và xã hội" cũng không thật chú ý lắm đâu. Còn với các thành viên Ban Chấp hành Hội, đừng nghĩ rằng mình thế này, tác phẩm của mình thế này, thì đương nhiên họ phải biết đến.
Ông Trần Xuân An tự tin khẳng định: "Cũng như một ít người, tôi vượt tiêu chuẩn khá xa". Tiêu chuẩn ấy, theo ông Trần Xuân An là "tiêu chí chất lượng và số lượng ở danh mục sách xuất bản". Ở đây, có thể thấy ông Trần Xuân An còn hơi ngây thơ và mơ hồ về vấn đề này. Về tiêu chí chất lượng thì để người ngoài bình xét, như vậy mới khách quan, chứ không dễ hóa "văn mình vợ người" lắm. Còn về số lượng thì sự thực, với tác giả tài năng, chỉ cần có 2 đầu sách là đủ để được xét vào Hội. Nhiều mà không hay không khéo lại "lợi bất cập hại".
Một điều "ngộ nhận" nữa của một số tác giả có đơn xin gia nhập Hội Nhà văn là họ thường nghĩ rằng, thành viên trong các Hội đồng phải có trách nhiệm biết đến tác phẩm của họ, biết đến năng lực của họ. Về lý thuyết thì như vậy, song thực tế chúng ta đều biết, sách báo hiện nay được in ra rất nhiều. Sự phát hành lại rất manh mún, nhiều khi địa bàn nào biết địa bàn ấy.
Hơn thế, các thành viên trong các Hội đồng, các Ban Văn học, kể cả trong Ban Chấp hành Hội đa phần đều kiêm nhiệm. Bởi vậy, thời gian để họ đầu tư vào việc đọc và tìm hiểu về các tác giả chắc chắn không được nhiều. Cho nên, nếu các tác giả tài năng không thật đột biến, trở thành một hiện tượng văn học thì việc bị "bỏ sót" là hoàn toàn có khả năng xảy ra.
Nhà văn Võ Thị Xuân Hà, hiện là Phó Ban Nhà văn Trẻ - Hội Nhà văn Việt Nam - trong một bài trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong cách đây ít ngày đã nhận xét rằng, việc ai đó mơ ước về một Hội đồng có thể đánh giá chân xác, vô tư về năng lực của tất cả những người sáng tác trong cả nước thì Hội đồng đó "phải gồm các... thiên thần trên đỉnh Olympia”.
Vả chăng, có những Hội đồng, theo tôi biết có người trước đây từng không bỏ phiếu kết nạp hội viên cho một người khác hiện cũng tham gia Hội đồng với họ. Điều đó chứng tỏ đến bản thân họ còn chưa "thừa nhận" nhau, thì việc giữa họ có độ "vênh" nào đó trong thẩm định giá trị của một tác giả mới có đơn xin gia nhập Hội, âu cũng nên xem là chuyện bình thường.
Một điều nữa thiết nghĩ cũng không thể không nói: Ấy là, có những tác giả làm đơn xin gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam và đòi hỏi rằng, các thành viên trong các Hội đồng, các Ban Văn học, trong Ban Chấp hành Hội phải có trách nhiệm biết đầy đủ, biết cặn kẽ các tác phẩm đã xuất bản của mình, biết và đánh giá "chính xác" về "văn tài" của mình, song trong thực tế, họ lại gần như chẳng bao giờ chịu đọc ai.
Khi có ai đó nhắc họ nên tặng sách người này, người khác - những vị có vai trò trong việc bỏ phiếu xét kết nạp hội viên, bấy giờ họ mới ề à hỏi ông ấy là ông nào, viết văn hay làm thơ. Rồi thì, thay vì ghi tên ông nhà văn đó là Cao Tiến Lê, họ lại ghi là Cao Tiến Lên, thay vì ghi nhà văn đó là Trung Trung Đỉnh, họ lại ghi là Chung Chung Đỉnh. Thử hỏi, đến những vị nổi tiếng trong làng văn như vậy, mà họ còn biết một cách rất lỗ mỗ như thế, đòi hỏi làm sao những người "cầm cân nảy mực" kia nhất nhất phải biết đến văn nghiệp của họ?![]()
Tình trạng "chân trong, chân ngoài" đang phổ biến trong đội ngũ giảng viên ĐH công lập | Vẫn “giữ chỗ” ở một ĐH, đồng thời ký hợp đồng với một số ĐH khác khiến giảng viên không thể đầu tư cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, thậm chí làm xáo trộn cả việc dạy và học...
|
3. “Giữ chỗ” hay sợ mất việc làm?
Cái gọi là “giữ chỗ”, thậm chí có thể hiểu theo kiểu ám chỉ là “xí chỗ” hay “nhân danh chỗ” để “chạy sô”, để “chân trong chân ngoài”. Theo nghĩa đen của những danh từ này, là nhiều giảng viên đại học phải cậy nhờ cái danh, - tên trường mà mình là cán bộ giảng dạy để chạy sô, kiếm tiền. Nếu không có cái danh ấy chắc gì đã được các trường đại học khác mời thỉnh giảng, hoặc có thể làm ăn? Điều này có thể đúng một phần, bởi sự tín nhiệm của các trường đại học, nhưng nói lạm dụng danh hiệu, tín nhiệm đó để “chạy sô”, để “chân trong chân ngoài” thì chỉ là sự ngộ nhận, phỉ báng, nếu không nói là loạn ngôn.
Danh tiếng của một trường đại học, không phải do một cá nhân, càng không phải do ông nọ bà kia làm Hiệu trưởng, Hiệu phó; một mặt chính là trình độ, năng lực giảng dạy và ý thức tổ chức, kỷ luật của mỗi giảng viên tạo thành; mặt khác do tính chất chuyên ngành đào tạo. Hơn nữa, tôi thử hỏi có giảng viên nào sống yên thân khi “giữ chỗ” để “chạy sô” mà không bị sờ gáy, nếu không hoàn thành công việc được giao? Chả thế, khi xét danh hiệu thi đua cuối năm ở trường đại học Luật TP. HCM niên học 2008 - 2009, có mấy chục sinh mạng không chỉ mất Lao động tiên tiến, mà còn bị nêu tên để kiểm điểm trước các đơn vị trong trường vì vắng mặt không dự một buổi họp, nhân kỷ niệm 10 năm đào tạo sau đại học. Bi hài và lố bịch hơn, là trong bản thông báo danh sách những cá nhân bị phê bình, kiểm điểm đó có tên một giảng viên cũng bị phê bình rút kinh nghiệm, vì cái tội có tên cử đi dự, nhưng không thể đi được, khi đang công tác dưới tỉnh cũng là điều mà nhà trường không thể chấp nhận được!
“Giữ chỗ” còn được hiểu các giảng viên không còn lựa chọn chỗ nào tốt hơn để kiếm sống, đành phải tạm thời nương tựa cái chỗ có thể gọi là “trú quán”, nhưng thực chất là “tạm cư” để kiếm tiền? Điều này cũng không thể đúng. Vì tôi đã từng được chứng kiến có những giảng viên sẵn sàng “bỏ chỗ”, để xin ra ngoài nhưng không dễ dàng được nhà trường chấp thuận. Có Tiến sĩ, mới được Hiệu trưởng nọ, rước về “thế chỗ” của những người ra đi, không ngần ngại, mà ngạo mạn tuyên bố trước sân trường rằng: “Nếu không được bổ nhiệm làm trưởng, hoặc phó trưởng khoa, - thì đây cũng xin ra khỏi trường”! Thế rồi, ông Tiến sĩ ấy, nghe nói làm docteur tận xứ người, tự khoe đã từng là giảng viên của một trường đại học bên Tây, có vẻ “láo lếu” ấy được bổ nhiệm phó trưởng khoa thật! Đau đớn hơn, khi nghe tiếng kêu thảng thốt đến não lòng của những giảng viên có thâm niên giảng dạy ngót hai chục năm trời, bỗng dưng bị thuyên chuyển công tác, hoặc cho nghỉ việc với lý do rất chi là khoa học : “không đáp ứng được yêu cầu chuyên môn của phương pháp giảng dạy mới”?
Vậy thực tế giảng viên bỏ nghề hoặc xin thuyên chuyển công tác trong các trường đại học hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra như thế nào?
Theo “Thống kê từ phòng Tổ chức - Hành chính các ĐH như Kinh tế TP HCM, ĐH Bách khoa TP HCM, ĐH Khoa học tự nhiên TP HCM, ĐH khoa học xã hội và nhân văn TP HCM cho thấy, số lượng giảng viên nghỉ việc từ năm 2008 đến nay ít hơn so với trước. Nhưng, các đơn vị quản lý nhân sự này đều thừa nhận một thực trạng chung là” “nhiều giảng viên làm “chân trong chân ngoài” cho hàng loạt ĐH khác”.
Thẳng thắn và trung thực hơn là chia sẻ của PGS – TS Mai Hồng Quỳ, Hiệu trưởng trường Đại học Luật TP. HCM: “Chưa kịp mừng vì số giảng viên được đào tạo bài bản xin nghỉ việc ít, thì trường đã phải đối mặt với thực trạng “chạy sô” của giảng viên”. Vì “Theo thống kê của ĐH Luật TP HCM, từ năm 2008 - 2009, chỉ có 5 giảng viên xin nghỉ việc để chuyển từ “công sang tư” hoặc ra làm cho công ty”.
Là giảng viên trường đại học Luật TP. HCM tôi thông cảm với sự chia sẻ, lo lắng trên của PGS – TS Mai Hồng Quỳ, Hiệu trưởng nhà trường, khi Bà nói “Chưa kịp mừng…”
Thật vậy, vì “từ năm 2008 - 2009, chỉ có 5 giảng viên xin nghỉ việc để chuyển từ “công sang tư” hoặc ra làm cho công ty” so với con số hàng chục giảng viên xin thuyên chuyển công tác ra khỏi trường từ năm 2006 – 2007, khi bắt đầu nhiệm kỳ Hiệu trưởng mới thì là quá ít. Cũng phải nói thêm rằng, những giảng viên xin thuyên chuyển công tác đó, đa số là những người có học hàm, học vị cao, có tâm huyết với nghề giáo; nếu không nói là còn lâu nhà trường mới đào tạo được một đội ngũ kế cận như vậy. Thậm chí, còn có cả bí thư Đảng ủy, bí thư Đoàn trường đến các hiệu phó, các trưởng phó phòng, rồi là các Đảng ủy viên… cũng đồng loạt xin nghỉ làm cán bộ...
Tại sao thế nhỉ? Đây có phải là một sự kiện độc nhất vô vị trong lịch sử giáo dục nước nhà, hay là một bi kịch, bi kịch cái cũ, của sự ngu dốt hay sự nhầm lẫn về mặt nhân sự của cái mới?
Thôi thì chuyện đã rồi, cái mà tôi ái ngại, hoặc phải ngậm ngùi khi chợt nghĩ rằng, - tới đây trong số những đồng nghiệp của tôi, những mái đầu còn xanh kia, có ai xin nghỉ làm cán bộ hoặc dứt áo ra đi không? Có thể có lắm chứ! Nhưng lạy ông Trời! Tôi mong điều đó đừng xảy ra!
Còn vấn đề “trường đã phải đối mặt với thực trạng “chạy sô” của giảng viên”. Về vấn đề này xin miễn bàn, thế nào lãnh đạo nhà trường cũng nghiên cứu một cách khoa học và tìm kiếm một phương thức cũng khoa học để giải quyết “tệ nạn” này…
4. Giải pháp nào đây?
1. Đưa lịch lên mạng, không biết có phải là sáng kiến duy nhất của trường đại học Luật TP. HCM, hay của nhiều trường đại học nào khác? Nhưng dù sao, tôi cũng cảm thấy có một chút tự hào và vui vui khi được giới thiệu rằng: “ĐH Luật TP HCM cũng siết chặt kỷ luật bằng cách đưa lịch làm việc của từng cá nhân lên mạng. Qua đó, lãnh đạo khoa, trường có thể bao quát được công việc đến từng cá nhân”.
Vậy, thử hỏi từ khi thực hiện giải pháp gọi là khoa học này, nhà trường đã đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm chưa? Hiệu quả đích thực ra sao? Thôi thì, cứ cho đó là một giải pháp tình thế, nếu chưa thể gọi là khoa học. Tại sao ư? Vì lãnh đạo của các khoa, bộ môn trong trường còn có nhiều người “chạy sô”, “chân trong chân ngoài” thì ai quản lý ai? Hơn nữa, không biết tới đây có giảng viên nào bị kỷ luật, vì vi phạm cái lịch làm việc đã thông báo trên mạng đó không? Rồi không biết về sau này, người ta có đưa tên giảng viên nào đó bị kỷ luật vì tội “chạy sô”, tội “chân trong chân ngoài” trên mạng không?
2. Quyết đoán hơn như ĐH Lâm Nghiệp gì đó “…thì đặt ra quy định, trong giờ hành chính, khi không có giờ giảng, tất cả giảng viên phải làm việc tại bộ môn”.
Hay! Nhưng tôi chỉ sợ, không khéo cái qui định trên biến trường đại học thành “trại lính”, không thì cũng chẳng khác gì một một kiểu giam lỏng thân xác các giảng viên? Thử hỏi họ phải làm việc gì ở bộ môn? Soạn giao án hay nghiên cứu tài liệu, hoặc trao đổi học thuật? Thôi thì cứ để trưởng bộ môn, trưởng khoa, lãnh đạo trường đại học Lâm nghiệp tìm cách quản lý giảng viên theo cách riêng của mình. Chắc họ cũng sợ giảng viên của trường không tập trung nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn hay tìm cách ngăn chặn chuyện “chạy sô”, “chân trong chân ngoài” của giảng viên? Tôi trộm nghĩ, chắc lãnh đạo trường này, biết cách nâng cao đời sống của giảng viên? Không thì ngày ngày giảng viên đến bộ môn để làm gì? Để ngẫu hứng tán chuyện đời, chuyện tình, chuyện thầy, cô hay uống trà đạo và đánh bài tiến lên?
3. Rồi: “Một Hiệu trưởng ĐH đề nghị, Bộ GD - ĐT cần đưa ra cơ chế sử dụng người phù hợp. Theo đó, bất kỳ ĐH nào muốn sử dụng giảng viên của ĐH khác thì cần có ký kết hợp đồng với lãnh đạo trường theo cơ chế “bán cầu thủ”, đơn vị sử dụng người phải “trả phí đào tạo”...
Phải công nhận, ông Hiệu trưởng này, biết nhìn xa trông rộng hơn những vị giáo sư – tiến sĩ đáng kính mà mà tôi từng ngưỡng mộ; không phải ở chỗ bắt đơn vị sử dụng người phải “trả phí đào tạo”. Về điều này, khỏi lo. Vì đã có thánh thần trả. Đáng quan tâm là phát kiến mới toe của ông ở chỗ “cần có ký kết hợp đồng với lãnh đạo trường theo cơ chế “bán cầu thủ””.
Ô hô! Thật là “Sáng kiến vĩ đại”. Vĩ đại hơn cả những gì mà của một kẻ mộng du mơ tưởng đến sự thông minh của chính mình. Hỡi các giảng viên, chúng ta đã là “cầu thủ” và được chuyển nhượng theo cơ chế “bán cầu thủ”. Chúng ta hãy hy vọng, thông qua những kỳ “chuyển nhượng”, mọi người sẽ giàu to, khỏi phải “chạy sô”, khỏi phải “chân trong chân ngoài”… Rồi không biết các giảng viên của chúng ta có được coi là…“Các chiến tướng đá rất hay. Mọi nhẽ!” như “Tinh thần thể thao” của Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã từng viết hay không?
Thôi thì, rằng thì là… Chỉ có điều, những ai đó là giáo sư, tiến sĩ, là hiệu trưởng của các trường đại học sao lại không dám “HỨA” và làm theo lời đã “HỨA”, nếu đã trót thốt rằng, - “Tôi sẽ làm tất cả những gì để nâng cao đời sống của cán bộ, công nhân của trường”. Xin lỗi, có ông, bà hiệu trưởng nào khi nhận chức có quên lời hứa này không?
Than ôi! Tôi chỉ thấy, người ta tìm cách đánh bóng mình và khởi xướng cải cách này nọ trong vòng luẩn quẩn cái lỗ con tò vò, để làm nghèo đi cái giá trị vật chất, tinh thần cùa cán bộ, công nhân viên mà mình quản lý. Về phương diện này, tôi phải dẫn chứng câu nói của Lênin, khi ông nói: “Chân lý là cụ thể”!
Bởi vì, đơn giản tôi nghĩ: giả sử tổng thu nhập của tôi năm ngoái là 60 triệu; năm nay nhà trường có phát động thi đua gì, cải tiến, cải lùi gì, nếu tổng thu nhập của tôi thấp hơn, hoặc bằng năm ngoái, thì cái gọi là cải tiến, cải lùi ấy chỉ là một mớ giấy lộn và ngu xuẩn!
Như vậy, cái điều quan trọng không phải chỉ biết lên án cái gọi là“giữ chỗ”, “chạy sô” và “chân trong chân ngoài” của giảng viên, hoặc “giảng viên không thể đầu tư cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, thậm chí làm xáo trộn cả việc dạy và học.”; mà quan trọng hơn hỡi các giáo sư – tiến sĩ là các nhà quản lý giáo dục, các ông, bà Hiệu trưởng các trường đại học hãy làm gì đó để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các giảng viên; cũng đừng quên chuyện “chạy sô” là nhu cầu khách quan của sự liên kết trong quá trình đào tạo liên thông giữa các trường, dù thể hiện dưới hình thức nào cũng là phản ánh qui luật xã hội hóa giáo dục trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam!
Để kết thúc bài viết này, tôi lại thấy thẩm thấu cái chân lý đơn giản, khi đại thi hào Đức, Gớt đã nói: “Lý luận là màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi”!
Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11, xin kính tặng các giảng viên và bạn đọc bài thơ:
Nỗi niềm tâm sự
Yêu nghề giáo,
nên thương nhà giáo!
Kỹ sư tâm hồn
tâm hồn nghĩa là thơ?
Nên phải biết ước mơ,
Nên phải yêu trí tuệ.
Biết qúi những giọt mồ hôi
và thương giọt lệ,
Đã từng rơi trên trang giấy học trò.
Yêu những bến bờ,
Yêu những con đường phải đến.
Yêu cái phải nhớ,
Yêu nỗi nên quên…
Cây phượng
sân trường bông nắng rung rinh.
Nghe tiếng trống nhắc giờ lên lớp học.
Trên giảng đường hôm nay những ai vắng mặt,
Nỗi buồn vui ai đó ở trong ai?
Hiện tại
nói gì với cuộc sống ngày mai,
Niềm tin nói gì với ước mơ tuổi trẻ.
Trang giấy học trò
theo dòng đời muôn ngả,
Hạnh phúc gần hay hạnh phúc ở xa?
Yêu cái của riêng tôi,
Yêu cái của chúng ta.
Phấn trắng bảng đen,
tình đời nhân nghĩa.
Nghĩ suy những gì,
Những gì cần suy nghĩ?
Riêng tôi vẫn yêu nghề
yêu tuổi trẻ và thơ.
__________
*Bài thơ này in trong tập “Muôn ngả đường đời”.
|
| |
Tình trạng "chân trong, chân ngoài" đang phổ biến trong đội ngũ giảng viên ĐH công lập | Vẫn “giữ chỗ” ở một ĐH, đồng thời ký hợp đồng với một số ĐH khác khiến giảng viên không thể đầu tư cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, thậm chí làm xáo trộn cả việc dạy và học...
|
Nhân đọc bài viết của Mỹ Dung đăng trên báo Đất Việt ngày 07/11/2009 có nhan đề: Khi giảng viên ĐH “chân trong chân ngoài”.
Là giảng viên đại học, đã kinh qua nhiều sự biến động trong nền giáo dục nước nhà, tôi thấy ngậm ngùi, nếu không nói là hổ thẹn với chính mình khi mang danh nhà giáo, được người ta dùng chữ “giữ chỗ” và kèm theo cái thành ngữ kép có âm điệu bi hài, dung tục “chân trong chân ngoài”. Thế còn tế nhị, chứ không người ta còn nói thêm“chân ngoài dài hơn chân trong”.
Để làm gì? Để chứng minh cho cái họ gọi: “giảng viên không thể đầu tư cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, thậm chí làm xáo trộn cả việc dạy và học.”
Có phải chỉ đơn giản vậy không? Thôi thì đành phải dò tìm nguyên nhân, cứ theo các cụ ngày xưa: “Nói có đầu có đuôi” vậy!
1. Vì đâu mà giảng viên đại học hiện nay phải đầu tắt mặt tối đi “chạy sô”, đến nỗi thò cả “chân trong chân ngoài” và có phải tất cả các giảng viên đại học đều “chạy sô”?
Tôi còn nhớ, vào thập niên 80 của thế kỷ trước, việc giảng viên trẻ được đứng trên giảng đường là một vinh dự; nếu được mời thỉnh giảng của trường đại học khác thì vinh dự ấy được nhân lên nhiều lần. Mặc dù, có hoặc không có tiền thù lao. Đến ngày được nhận lương, nhu yếu phẩm hoặc được phân phối một ít thực phẩm thì khỏi phải nói, mọi người vui như hội. Bởi cái thời ấy, nhìn chung ai cũng nghèo. Còn giờ đây, có kẻ giàu người nghèo. Vậy giảng viên đại học đều là người giàu, là tầng lớp trên? Không giàu tại sao họ là rủ nhau đi “chạy sô” như những ca sĩ thời thượng, để đến nỗi “chân trong chân ngoài” như những ai đó đang phê phán?
Thử hỏi, một giảng viên đại học hiện nay có thâm niên giảng dạy từ 5 năm đến 10 năm thì mức lương của họ là bao nhiêu? Tổng thu nhập hàng tháng là bao nhiêu? Nếu tôi không lầm thì nhìn chung cũng khoảng trên dưới 3 – 4 triệu đồng (có thể có trường cao hơn, nhưng số ít). Với thu nhập như vậy họ sống tốt hay tồi, khi mà vật giá leo thang? Phải nói thêm rằng, hiện nay có những giảng viên đi làm bằng xe hơi riêng đắt tiền. Vậy thử hỏi các giảng viên ấy có “chạy sô” không? Họ là ai và tổng thu nhập hàng tháng của họ là bao nhiêu?
Câu hỏi này phải nhờ đến hai nhà giáo đáng kính, - đó là PGS – TS Mai Hồng Quỳ, Hiệu trưởng trường Đại học Luật TP. HCM và GS Phạm Phụ (nguyên giảng viên trường Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc gia TP. HCM) là những người có rất nhiều trăn trở và lo lắng cho giáo dục đại học, trước tình trạng “chạy sô” của giảng viên… Cũng xin mạn phép hỏi PGS – TS Mai Hồng Quỳ, GS Phạm Phụ rằng các giáo sư có “chạy sô” và có “chân trong chân ngoài không”? Tổng thu nhập hàng tháng của các giáo sư là bao nhiêu?
Lần đầu tiên vào niên học năm 2005 - 2006, theo chỉ số thống kê tổng thu nhập của cán bộ công nhân viên trường đại học Luật TP. HCM, thì tổng thu nhập bình quân của nguyên Hiệu trưởng là trên 30 triệu đồng, phó Hiệu trưởng là trên 20 triệu đồng một tháng. Sau đó có cải chính, rằng thì là con số đó chưa chính xác? Vậy thử hỏi tổng thu nhập của Hiệu trưởng nhà trường hiện nay là bao nhiêu? Nếu chia bình quân, thì gấp bao nhiêu lần tổng thu nhập của cán bộ công chức có mức thu nhập thấp nhất? 10, 15, 20 hay nhiều hơn? Nếu công bằng hàng năm phải thống kê để công khai tài chính về thu nhập của tất cả cán bộ, công viên chức trong trường. Thử hỏi PGS - TS Mai Hồng Quỳ, Hiệu trưởng trường đại học Luật TP. HCM có dám làm điều này không?
2. Giảng viên đại học đang kinh doanh con chữ để làm giàu hay họ đang mưu sinh trên cánh đồng tri thức xiêu vẹo?
Câu hỏi trên, có lẽ những người trả lời đúng nhất vẫn là các nhà quản lý giáo dục và nhất là hiệu trưởng của các trường đại học.
Đa dạng hóa mô hình đào tạo và tự chủ về kinh tế trong các trường đại học dân lập, tư thục là khuynh hướng tất yếu của giáo dục trong kinh tế thị trường. Điều tôi băn khoăn và không tự giải đáp được là tại sao những năm vừa qua và hiện nay, chúng ta mở nhiều trường đại học đến thế? Nhà nước cho phép mở các trường đại học thì căn cứ vào những tiêu chí khoa học nào? Ai là cố vấn, đề xuất cho sách lược phát triển giáo dục trong những năm qua và hiện nay? Rồi, thử hỏi những ai là thành viên, ai là chủ tịch hội đồng quản trị trong các trường đại học dân lập, tư thục? Họ có trình độ không? Hay đơn giản họ chỉ là nhà đầu tư? Hiệu trưởng là ai? Giảng viên ở đâu? Chỉ tiêu tuyển sinh bao nhiêu và tiêu chí của chỉ tiêu?
Rồi “Bộ GD - ĐT cũng thừa nhận, số giảng viên ĐH hiện nay mới đáp ứng được 60% nhu cầu thực tế. Trong khi thời gian qua, nhiều ĐH tư thục được thành lập đã “hút” một lượng lớn giảng viên làm việc theo kiểu “chân trong, chân ngoài””.
Với nhận định trên, tôi ngầm hiểu rằng chuyện giảng viên đại học chạy sô không thể coi là bất hợp pháp. Nếu không “chạy sô” thì các trường dân lập, tư thục làm sao tồn tại và phát triển được? Và hơn nữa “chạy sô” không chỉ là diễn ra ở trường công sang trường tư mà còn là hiện tượng phổ biến giữa các trường công.
Có một thực tế chỉ tiêu tuyển sinh và phân bố chỉ tiêu tuyển sinh cho các trường đại học mà Bộ Giáo dục và Đào tạo áp dụng những năm qua và hiện nay cũng là một vấn đề nan giải. Theo chúng tôi cần phải có một Hội đồng khoa học, xây dựng chỉ tiêu và thẩm định đánh giá; chứ không thể được chăng hay chớ như hiện nay. Chính vì vậy, chuyện “chạy sô” không chỉ của các giảng viên đại học mà các cấp quản lý giáo dục, các trường đại học cũng “chạy sô” để càng có càng nhiều sinh viên càng tốt? Bất chấp thực tế ra sao!
Không thể lý giải được trường Đại học Luật TP. HCM là một trường đại học Luật lớn nhất khu vực phía Nam lại không thể đảm nhận tất cả sinh viên học ngành Luật khu vực, mà phải chia sẻ nguồn đào tạo cho các trường Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật trường đại học Đà Lạt cùng tuyển sinh ngành Luật? Thử hỏi ai “chạy sô”, ai mệt hơn ai? Kết quả đào tạo ai tốt hơn ai?
Như vậy, thì đã rõ cái gọi là chảy máu chất xám như PGS - TS Mai Hồng Quỳ phân tích: “Chất xám không chỉ chảy mà đã bị bào mòn, vắt cạn kiệt, không còn thời gian để tái đầu tư. Như vậy, không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ở một ĐH cụ thể mà ảnh hưởng hàng loạt đến việc đào tạo trong nhiều trường khác nhau”. Giáo sư Phạm Phụ cũng nhận định, chảy máu chất xám theo kiểu giảng viên chạy sô còn nguy hơn cả việc “từ công đổ sang tư”.
Trước hết, xin cám ơn các giáo sư đã quan tâm đến “chất xám” của giáo dục, - cái mà xã hội đều quan tâm; nhưng chất xám ấy, không phải bỗng dưng trên trời chảy vào đầu các giảng viên, cũng không đơn giản là do sự đầu tư của lãnh đạo các trường mà là công sức, mồ hôi và cả tiền bạc của chính các giảng viên, - với mục đích giảm nghèo, thoát nghèo để có thể sống một cách chân chính với tri thức mà mình có.
Than ôi! Cái mà các giáo sư lo lắng, còn cho là “nguy” hiểm, là “bị bào mòn, vắt cạn kiệt, không còn thời gian để tái đầu tư” ấy không phải là sức lao động, là miếng cơm, manh áo trong cuộc sống đời thường của giảng viên mà lại là chất xám! Nói như vậy, có đồng nghiệp của tôi phê phán là vô tâm. Sao lại vô tâm? Các giáo sư đang trăn trở, âu lo cho sự nghiệp giáo dục nước nhà. Nếu khéo liên tưởng, thì phải khen họ là nhà “lý luận giỏi”, nhưng chưa hẳn là một “nhà quản lý tồi” mới phải. Vì họ đã có công chỉ ra những mâu thuẫn nội tại, bên trong quá trình “chạy sô” và “chân trong chân ngoài” của các giảng viên và thẩm định theo kiểu con nhà luật, - thì đó là có tội với giáo dục. Phải nói ngược lại, chính nền giáo dục, chính các giáo sư, - những nhà quản lý giáo dục có tội với giảng viên và sinh viên của mình khi buộc họ phải đầu tắt mặt tối để kiếm sống.
Chất xám là gì nhỉ? Tôi nhớ đến câu nói bất hủ của Đại thi hào Đức là Gớt, khi ông nói: “Lý luận là màu xám”, chứ không phải là một chất lỏng không màu, không vị. Vậy, mà “Chất xám… chảy”, chảy “từ công sang tư”, nó chảy lòng vòng trong cơ chế xã hội hóa giáo dục nước nhà. Nhưng xét cho cùng, cái chất lỏng ấy, cũng góp phần nâng cao trình độ nhận thức trong chương trình đào tạo của mỗi trường, chứ chảy đi ra nước ngoài đâu mà các giáo sư có vẻ thảng thốt đến vậy? Ai dám nói, các trường dân lập, tư thục mời thỉnh giảng là những giáo viên không đủ trình độ, kém chất lượng? Lẽ ra các giáo sư phải cảm thấy tự hào vì giảng viên của trường mình được các trường khác mời thỉnh giảng mới phải; vì qua đó, cũng nâng cao uy tín của nhà trường. Vậy mà, PGS – TS Mai Hồng Quỳ lại ngạc nhiên và lo lắng khi thấy giảng viên của trường mình có tên trong trong hợp đồng giảng dạy ở trường khác?
Tri thức là vốn tài sản chung của xã hội, cái quan trọng là việc sử dụng con người. Nếu là nhà quản lý, thì tại sao các giáo sư không tìm cách nâng cao đời sống của giảng viên, để họ có điều kiện “tái đầu tư” vào chất xám, để nâng cao chất lượng đào tạo? Phải chăng, là do “cơ chế”, hay do bất tài, hay một lý do nào khác? Chả thế, mà không ít Hiệu trưởng cứ ngỡ là cái thuộc mình quản lý, - đó là con người giảng viên; là mình có quyền chi phối và độc quyền? Cái mà các vị quản lý là các giảng viên, ở một phương diện nào đó, chứ không phải là tất cả. Bởi, nhân cách lại là bản sắc độc đáo, là cái riêng của mỗi giảng viên trong đó có tri thức của họ, - cái mà không ai có thể nô dịch và độc quyền chi phối theo kểu quản lý hành chính đơn thuần!
Thực tế, các giảng viên phải lao động cật lực, một mặt vì nghề nghiệp, vì sinh viên; mặt khác cũng vì cuộc sống của chính mình. Các giáo sư có biết, có giảng viên phải dạy cả ngày lẫn đêm, dạy cả ngày thứ bảy và chủ nhật; thậm chí có giảng viên đã gục ngã trên giảng đường vì kiệt sức phải vào viện cấp cứu? Thử hỏi với công sức bỏ ra ấy trong sự tha hóa của lao động trí óc, họ giàu hay nghèo? Có chăng họ đang mưu sinh trên cánh đồng tri thức xiêu vẹo?
Nếu các giáo sư hỏi tôi có “chạy sô” không? Tôi thưa rằng, - dạ có! Còn hỏi tôi có “tái đầu tư” cho chất xám không, - dạ có nhưng ít thôi. Điều mà thưa các giáo sư kính mến, là tôi sợ không còn đủ sức để chạy sô. Rằng, - nếu tổng thu nhập hàng tháng của tôi từ 10 triệu trở lên, thì tôi cũng không “chạy sô”, để đến nỗi “chân trong chân ngoài” thò ra cho người ta phát giác để lên án (còn tiếp - Khi Giảng viên đại học "chân trong chân ngoài" ? - Phần 2).

Quan niệm triết học mácxít khẳng định hoạt động sáng tạo là một năng lực, phẩm chất của con người đóng vai trò chủ thể của lịch sử. Năng lực và phẩm chất của con người rất đa dạng và phong phú, thể hiện trong hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn, như năng lực trí tuệ, thể chất, chuyên môn, v.v... hoặc các phẩm chất như chính trị, đạo đức, khoa học, thẩm mỹ, v.v...
Cơ sở lý luận về hoạt động sáng tạo của quan điểm mácxít đều xuất phát từ lý luận chung về con người, và bản chất của con người. Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph. Ăngghen viết : “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”[1]. Đồng thời lao động còn là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau căn bản giữa hoạt động bản năng của động vật với hoạt động sáng tạo của con người. Điều đó cũng đã được Ph. Ăngghen khẳng định: “Hàng chục vạn năm, - thời gian này trong lịch sử trái đất cũng tương đương như một giây đồng hồ trong một đời người - đã trôi qua, trước khi xã hội loài người xuất hiện từ đàn vượn leo trèo trên cây...giữa đàn vượn và xã hội loài người có sự khác nhau đặc biệt gì ? Đó là lao động... Lao động bắt đầu cùng với việc chế tạo công cụ”[2].
Như vậy, theo Ph. Angghen, hoạt động sáng tạo hiểu theo nghĩa rộng nhất gắn liền với hoạt động đầu tiên của con người là hoạt động sản xuất vật chất, về bản chất là hoạt động sáng tạo ra công cụ, và công cụ có nghĩa là sản phẩm chỉ riêng của con người. Hoạt động sáng tạo bao gồm những dấu hiệu đặc trưng:
Trong tính cụ thể của hoạt động sáng tạo phải có yếu tố của cái mới. Điều đó có nghĩa là, sáng tạo là một nhu cầu vừa mang tính chủ quan và vừa mang tính khách quan của con người. Cái mới, không chỉ thể hiện trong mối quan hệ với cái cũ, mà nó thể hiện như một quá trình của hoạt động sáng tạo, như là cái mang tính dự báo, cái khẳng định, cái thay thế cái cũ và đồng thời là tiêu chuẩn của mọi sự phát triển.
Trong tính cụ thể của hoạt động sáng tạo là tính độc đáo của cái mới, của những ý tưởng, làm cơ sở cho sự xuất hiện của những giải pháp mới, dưới những hình thức nào đó mà nó có khả năng thực hiện được những nhiệm vụ trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nói chung của con người. Tính độc đáo của cái mới không chỉ là một phát kiến trong ý tưởng thuần túy, mà là ý tưởng xuất hiện bởi tính mục đích và nhu cầu có tính khách quan mà về nguyên tắc con người có thể thực hiện được trong thực tế. Đó là sự xuất hiện tình huống có vấn đề và việc tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết những tình huống đó dưới nhiều hình thức khác nhau.
Hoạt động sáng tạo trong tính cụ thể phải dẫn đến hiệu qủa hoạt động và chất lượng sản phẩm cao hơn, hoàn thiện hơn. Nhưng hoạt động sáng tạo thể hiện như thế nào trong hoạt động nhận thức, xét về tính mục đích, phương pháp thao tác và ứng dụng nó?
Trước hết, cần xác định vị trí của tư duy sáng tạo trong hoạt động nhận thức nói chung của con người. Lẽ tất nhên, tư duy sáng tạo không đồng nhất với toàn bộ quá trình nhận thức và cũng không thể là một hình thức phản ánh đơn cực mà nó được thể hiện như một quá trình bao gồm những liên kết thành một chuỗi những hình thái tâm lý sáng tạo khác nhau. Trong đó, về cơ bản cơ chế hoạt động bao gồm: Cảm xúc sáng tạo – ý tưởng sáng tạo – hành động sáng tạo.
1. Cảm xúc sáng tạo được hiểu như một nhu cầu tự thân, trỗi dậy với niềm đam mê sáng tạo được nảy sinh từ những tình huống có vấn đề đặt ra cho chủ thể sáng tạo những cảm hứng, tạo nguồn cảm ứng mãnh liệt, v.v…
2. Tư duy sáng tạo, đó là những ý tuởng sáng tạo có thể nảy sinh từ những cảm xúc sáng tạo trực tiếp như đã nói ở trên hoặc đã được nung nấu từ lâu trong ý đồ sáng tạo của chủ thể sáng tạo dưới hình thức định hướng căn bản,
3. Hành động sáng tạo, đó là nhu cầu sáng tạo phải được thực hiện bằng những công việc cụ thể thể hiện ý tưởng sáng tạo thành tư duy lôgíc hay hiện vật, vật chất hoá tư tưởng sáng tạo. Hành động sáng tạo, dẫn đến kết quả của hoạt động sáng tạo luôn được xem xét ở thái độ sáng tạo của chủ thể. Đó là nhu cầu thoả mãn sự sáng tạo theo hai khuynh hướng chính là mục đích hưởng thụ hay cống hiến; nhưng nhìn chung nó nhằm thoả mãn nhu cầu sáng tạo trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nóin chung của con người.
Tư duy sáng tạo rất đa dạng, phong phú, bởi nó bao gồm tính đa chiều của nhiều loại hình phản ánh khác nhau trong hệ thống phức tạp của hoạt động nhận thức. Vấn đề quan trọng trong hệ thống đó có bao nhiêu loại tư duy cơ bản, mà thiếu nó thì không thể hiểu được nguồn gốc, bản chất và tính qui luật trong hoạt động nhận thức.
Nhiều công trình nghiên cứu về tâm lý học sáng tạo trong những năm gần đây của khoa học tâm lý, đã chỉ ra các hình thức biểu hiện và cơ cấu vận động của các loại tư duy căn bản, mà trong đó tư duy sáng tạo như một tích hợp những loại tư duy căn bản của con người. Vậy có bao nhiêu loại tư duy căn bản và tư duy sáng tạo là tích hợp của nó được thể hiện như thế nào?
Thật khó có thể trình bày một cách đầy đủ về các loại tư duy, mặc dầu trong tính hệ thống của nó người ta vẫn có thể xác định được vị trí và vai trò của của từng loại tư duy trong hoạt động nhận thức nói chung của con người; nhưng về cơ bản chúng ta có thể nêu lên những loại tư duy căn bản sau: 1. Tư duy lôgíc; 2. Tư duy thuật toán; 3. Tư duy hình tượng; 4. Tư duy ngôn ngữ; 5. Tư duy biện chứng; 6. Tư duy khoa học; 7. Tư duy kỹ thuật; 8. Tư duy kinh tế; 9. Tư duy mặc tưởng, v.v…
Hoạt động sáng tạo là một thuộc tính chung của hoạt động con người, chứ không phải chỉ là hoạt động khoa học và càng không qui giản về hoạt động nghệ thuật. Lẽ tất nhiên, hoạt động sáng tạo khoa học và nghệ thuật là những hình thức cao nhất của hoạt động con người trong đó, sáng tạo nghệ thuật là hình thức hoạt động đặc thù loại biệt.
Từ lâu con người đã biết đến các khả năng dự báo, các tố chất kích thích và các định hướng do nghệ thuật mang lại đối với hoạt động sáng tạo của con người. Bởi vì, nghệ thuật với khả năng gợi mở của nó đã làm phát triển các năng lực trực tiếp của hoạt động sáng tạo.
Cảm hứng là một trạng thái tâm lý hưng phấn đặc biệt với tính cách là một năng lực của hoạt động sáng tạo. Dưới góc độ tâm lý học, sự xuất hiện cảm hứng được xác định như một xu hướng nhận thức với những cảm xúc mạnh mẽ nhất trong qúa trình thỏa mãn nhu cầu đối với những ý tưởng mới nảy sinh một cách tự nhiên, rõ ràng cho một niềm tin nhất định nào đó. Đặc điểm của cảm hứng là sự chú ý không có ý thức xuất hiện một cách nhanh chóng, tự nhiên và sự chú ý có ý thức được duy trì một cách rõ ràng. Nhưng điều đó không có nghĩa là cảm hứng chỉ thể hiện vai trò của cái vô thức, mà thực chất là sự đan xen giữa cái vô thức và cái hữu thức, giữa tình cảm và lý trí trong hoạt động sáng tạo của con người.
Cảm hứng bao gồm sự chú ý như là giai đoạn bắt đầu nảy sinh sự hưng phấn. Trong giai đoạn này, quá trình nhận thức chỉ mang sắc thái cảm xúc chung, chưa đặt ra cho chủ thể sáng tạo thái độ lựa chọn một cách rõ ràng về các đối tượng nhận thức. Ở sự tiếp nối của giai đoạn này, cảm hứng vừa có khả năng duy trì các biểu hiện cảm xúc về nhu cầu nhận thức, vừa trở nên phong phú, tinh tế hơn về tính nhạy cảm bởi sự đa dạng của các cảm xúc với các đối tượng và các loại hoạt động nhất định.
Cảm hứng gắn liền với xu hướng của sự hứng thú phụ thuộc phần lớn vào thiên hướng và năng lực hoạt động của con người đối với việc nghiên cứu và phát kiến cái mới. Như vậy, với tính cách là năng lực sáng tạo của hoạt động con người, đặc trưng chung nhất của các cảm hứng là sự cụ thể hóa mục đích và thao tác hoạt động nhiều hơn so với bình thường. Chẳng hạn, người nghệ sỹ trong một trạng thái do sự tác động của những cảm xúc mạnh mẽ, dồn dập mang lại sự hưng phấn cao độ về một nhu cầu sáng tác phù hợp với ý tưởng của tác phẩm; làm xuất hiện hình tượng của các nhân vật, cá tính của họ và công việc của họ trong tính hiện thực, sống động. Nhưng điều đó không có nghĩa là cảm hứng chỉ là phương thức thực hiện một ý đồ sáng tạo nào đấy đã hình thành từ trước, mà nó còn làm xuất hiện những ý đồ sáng tạo mới trong những điều kiện hoạt động nhất định. Mặt khác, cảm hứng có khả năng mở rộng và đào sâu kiến thức của chủ thể sáng tạo về một lĩnh vực chuyên môn nhất định nào đó và phát triển ở người đó những kỹ năng, kỹ xảo thực tế tương ứng. Với một hình thức cao hơn, cảm hứng là một sự thỏa mãn cảm xúc bị dồn nén nhằm kích thích việc thực hiện ngay lập tức một hoạt động tương ứng với nó như một sự tất yếu phải xảy ra trong hoạt động sáng tạo.
Trong hoạt động nói chung của con người và đặc biệt là đối với hoạt động sáng tạo, cảm hứng không chỉ có ý nghĩa như là sự tiếp tục, kéo dài, chuyển tiếp của cái vô thức sang cái hữu thức và ngược lại; mà nó còn thể hiện như một xu hướng của sự hứng thú, đam mê bỡi những thiên hướng, năng lực của sự tìm tòi, phát kiến, sáng tạo của những niềm tin nhất định. Chẳng hạn, Tônxtôi cho rằng, quan sát là phần chính của công việc, là vật liệu để xây dựng hình tượng ý đồ sáng tạo. Cho nên, theo ông, bản thân luôn buộc ông phải quan sát - quan sát chính mình, quan sát con người và thiên nhiên đề tìm tòi, để khám phá… và ở đó làm xuất hiện một sự đam mê, một sự hứng thú nhất định, v.v... Bởi vậy, việc phát huy tính tích cực của năng lực cảm hứng chính là một trong những điều kiện bảo đảm cho hoạt động sáng tạo của con người đạt những hiệu qủa cao phù hợp với tính mục đích của hoạt động.
Hoạt động sáng tạo, bao giờ cũng được thực hiện trong một môi trường nhất định. Do vậy, năng lực sáng tạo của con người không chỉ phụ thuộc vào những yếu tố bên trong, nỗ lực bên trong của con người; mà còn phụ thuộc vào những điều kiện bên ngoài - với tính cách là môi trường - điều kiện tất yếu của hoạt động sáng tạo. Hiển nhiên, quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực thể hiện trên tất cả các lĩnh vực cuộc sống và hoạt động của con người, hình thái biểu hiện cao nhất là nghệ thuật.
Sức truyền cảm và năng lực phổ cập của hình tượng nghệ thuật giúp cho năng lực sáng tạo của con người có tính nhậy cảm, tinh tế và năng động hơn; với ý nghĩa là hình tượng nghệ thuật khi xuyên qua “cánh cửa” cảm giác thì một đối tượng có ít nhiều đặc tính khêu gợi cảm xúc thẩm mỹ mới tác động vào các giác quan của con người, tạo thành những nguồn cảm xúc và những hứng thú nhất định. Dưới hình thức cụ thể - cảm tính, khi tác động vào các giác quan của con người, thì hình tượng nghệ thuật có khả năng khơi dậy hứng thú, làm phát triển năng lực của các giác quan, mà trong đó, chủ yếu là thị giác và thính giác của người thưởng thức. Nói một cách cụ thể hơn, với hình thức chung và phổ biến nhất, thị giác và thính giác là hai giác quan linh hoạt nhất, phong phú nhất, “có cảm hứng” nhiều nhất trong hoạt động sáng tạo của con người. C. Mác cho rằng đó là những giác quan có khả năng đem lại những khoái cảm mang tính chất người. Điều đó cho phép chúng ta khẳng định rằng, thông qua sự chiếm hữu hiện thực bằng quan hệ thẩm mỹ, hay thông qua sự cảm thụ các tác phẩm nghệ thuật, hoạt động sáng tạo của con người bắt gặp từng bước đi của nhân tố thẩm mỹ - từ lao động, sản phẩm lao động, hành vi và sinh hoạt đến các quan hệ giữa các con người với nhau. Nói như M. Gorki : con người, về bản tính vốn là nghệ sỹ. Ở mọi nơi đều cố gắng bằng cách này hay cách khác đưa cái đẹp vào đời sống của mình. Nói một cách cụ thể hơn, “cái đẹp là một giá trị”, là một tiêu chuẩn của hoạt động sáng tạo nói chung của con người.
Trong hoạt động sáng tạo, nhiều hình thức thao tác tư duy diễn ra như một qúa trình liên tục. Trước hết, cảm hứng do nghệ thuật mang lại là một sức mạnh thể chất (bộc lộ ở các tình cảm) và sức mạnh trí tuệ của chủ thể sáng tạo được nảy sinh ngay ở cấp độ trực giác. Lúc này, tất cả những yếu tố đó mới tồn tại dưới một hình thức xung đột mơ hồ, thôi thúc hành động. Tất nhiên cảm hứng này có được là nhờ một quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm, hoạt động lâu dài và căng thẳng của chủ thể sáng tạo. Nghệ thuật với cấu trúc thẩm mỹ đặc biệt của mình tác động tới tâm hồn người nghệ sỹ, từ đó tạo ra cao trào mạnh mẽ. Sau đó, hoạt tính tình cảm - trực giác này được nâng lên cấp độ ý thức, khi chủ thể sáng tạo xuất hiện ý đồ với tư cách trực giác, vạch ra mục đích của sáng tạo. Chẳng hạn, Anhxtanh thừa nhận vai trò hết sức đặc biệt của âm nhạc, của thơ ca đối với người nghiên cứu khoa học, khi ông qủa quyết rằng: trong tư duy khoa học luôn luôn có chất thơ và âm nhạc chân chính cũng như khoa học chân chính đòi hỏi một qúa trình tư duy giống nhau.
Cảm hứng mà nghệ thuật đem lại cho con người không chỉ là sự kích thích nguồn cảm hứng sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật và khoa học. Cảm thụ nghệ thuật như là những rung động cảm xúc đặc biệt về những yêu cầu khách quan cần phải thỏa mãn không thể thiếu như là điều kiện hình thành hứng thú với tính cách là những nét đặc biệt của cá tính. Cố nhiên, hoạt động của con người, trong đó đặc biệt là hoạt động sáng tạo, mà thiếu sự đam mê, hứng thú thì sự sáng tạo của con người cũng không thể đạt được kết qủa cao. Bởi hứng thú đối với hiện thực - thế giới, xã hội, nghệ thuật và các giá trị nghệ thuật - đó là cơ chế tâm lý của sự “chiếm lĩnh” chúng bởi một cá nhân riêng lẻ, của sự biến các nhu cầu xã hội trở thành nhu cầu của các cá nhân.
Nghệ thuật với tính cách là một môi trường rộng lớn và “đậm đặc” tình cảm – lý trí, xúc cảm của con người, cho nên nó chính là nơi tạo ra nguồn cảm hứng, sự say mê, hứng thú có tính chất bền vững và trực tiếp đối với hoạt động sáng tạo nói chung của con người. Nhưng cảm hứng và sự hứng thú của con người không thể tách khỏi mối quan hệ với các liên tưởng và trí tưởng tượng như những năng lực sáng tạo của con người.








Hạnh phúc
Copyright 2009 - Blog Đào Duy Thanh All Rights Reserved. Powered by Blogger
Blogger Template by Deluxe Templates | WordPress theme by9th sphere