Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Hai, ngày 21 tháng 4 năm 2014

Lặng người với bài văn miêu tả bố và ông nội của học sinh lớp 2

Mới làm quen với bài tập làm văn miêu tả, những bài văn của học sinh lớp 2 khiến cho nhiều người đi từ ngạc nhiên đến buồn cười và không khỏi phải suy nghĩ...
Vào lớp 2, học sinh bắt đầu làm văn miêu tả ngắn, và dưới đây là sưu tầm của phóng viên, phần bài làm của các em trước các dạng đề cơ bản. Đọc xong, quý vị có thể rút ra được nhiều bài học cho mình, đặc biệt là trong việc chia sẻ, dạy dỗ trẻ kỹ năng, khả năng quan sát, cảm nhận trước cuộc sống.
Đề: Tả ông nội
Nhà em có nuôi một ông nội, ông nội suốt ngày chẳng làm gì cả chỉ trùm chăn ngủ, đến bữa ăn ông ló đầu ra hỏi: Cơm chín chưa bây?
Đề: Miêu tả về bố
Bố em có một hàm răng vàng, hàm răng vàng luôn chỉ bảo em những điều hay lẽ phải.
Đề: Tả cây chuối
Nhà em có cây chuối rất to, chiều nào em cũng leo lên cây chuối ngồi hóng mát. Khi em leo lên, cành chuối rung rinh.
Lặng người với bài văn miêu tả bố và ông nội của học sinh lớp 2Ảnh minh họa
Đề: Tả người thầy em yêu quý nhất
Thấm thoắt đã ba mùa hoa ban nở, thầy giáo phải tạm biệt chúng em để về xuôi. Cả làng cả bản đứng tiễn thầy vô cùng ngậm ngùi. Riêng em đứng nhìn theo thầy cho đến khi thầy xa dần, xa dần, đến khi nhỏ bằng con chó em mới quay lại bản.
Đề: Tả anh bộ đội
Anh bộ đội cao khoảng 1,20 m, súng AK dài 1m rưỡi.
Đề: Tả buổi chào cờ đầu tuần
Sáng thứ hai tuần nào cũng vậy, trường em lại tổ chức chào cờ. Đầu tiên là thầy hiệu phó phụ trách lao động lên mắng mỏ một tí. Sau đó đến lượt thầy hiệu trưởng lên mắng. Khi thầy hiệu trưởng mắng, cái cục ở cổ thầy cứ chạy đi, chạy lại.
Đề: Tả cây bàng
Ở cạnh nhà em cách một quán phở có một cây bàng. Cây bàng đã sống trên 10 năm nên nó đã già và nó đã biến thành cây đa.Đề: Em hãy tả một con vật mà em yêu thích nhất
Nhà em có một con chim chích bông, nó nhỏ và xinh, lông nó màu vàng óng, em thấy nó không ngừng nhảy và mổ mồi. Em rất yêu con gà của ông em.
Đề: Tả con trâu (của một học sinh thành phố)
Nhà em có nuôi một con trâu. Nó đáng yêu lắm. Hàng ngày, mẹ xích nó ở góc hiên. Trên cổ nó có đeo một cái nơ màu hồng thật xinh xắn. Nó ăn rất ít cơm. Nó có khuôn mặt trái xoan thanh tú.
Đề: Tả một buổi học
Tùng tùng tùng, tiếng trống vang lên báo hiệu đã đến giờ vào lớp. Không còn cảnh nô nghịch, chạy nhảy nhốn nháo nữa. Các bạn, ai ai vào vị trí của người đó. Sách vở để ngay ngắn trên bàn. Cô giáo bước vào lớp. Học sinh đứng dậy chào cô. Cô mặc chiếc áo dài hoa rất đẹp. Tóc cô thẳng mượt thả đến ngang lưng. Cô đặt chiếc cặp đen lên bàn và cất tiếng dịu dàng: "Hôm nay có ai đóng tiền không?"
Đề: Tả con lợn nhà em
Con lợn nhà em đầu tròn như quả bóng da, người nó hình cái hộp các-tông còn cái đuôi thì giống cái chân chống xe máy!
Đề: Tả đêm giao thừa
Em bước ra sân để chuẩn bị thắp hương giao thừa. ánh trăng tròn vằng vặc soi rõ khu tập thể, làm những chiếc lá sáng lên loang loáng…
Đề: Tả con gà trống nhà em
Chú trống choai nhà em lớn nhanh như thổi, càng lớn chú càng giống gà mái...
  • Theo Giáo dục Việt Nam

Bí ẩn về người phụ nữ làm Tào Tháo ân hận cả cuộc đời

Linkin - theo Trí Thức Trẻ | 12/07/2013 09:00

(Soha.vn) - Cả cuộc đời lừng lẫy, nhưng Tào Tháo đã phải trăn trở rằng thấy bại lớn nhất của ông là không thể giữ lại được người vợ hiền bên cạnh mình.

Mối tình ai oán Đinh - Tào
Không có nhiều sử sách viết về mối tình của kẻ gian hùng Tào Tháo với Đinh thị trước khi ông rước bà về làm vợ cả. Tuy nhiên, những câu chuyện kể về tình yêu của Tào Tháo dành cho người vợ này lại nhiều không kể xiết.
Là người phụ nữ đầu tiên bước vào nhà Tào Tháo với tư cách là vợ cả, Đinh phu nhân được nhận khá nhiều ưu ái từ chồng của mình.
Bí ẩn về người phụ nữ làm Tào Tháo ân hận cả cuộc đời
 
Nhiều tài liệu ghi lại cho biết, dù Đinh phu nhân không thể có con nhưng không vì thế mà Tào Tháo sinh ghét bỏ. Mặc khác, kẻ gian hùng vẫn hết sưng cưng chiều và yêu thương vợ mình. Tào Tháo còn để Đinh phu nhân nuôi dưỡng đứa con trai của Tào Tháo cùng một phụ nữ họ Lưu do sinh khó mà chết ngay sau khi sinh.
Mặc dù không phải con đẻ nhưng Đinh phu nhân hết sức yêu thương và chăm sóc đứa con Tào Ngang này. Không những thế, khả năng quán xuyến gia đình, quản lý mọi việc trong nhà chu đáo khiến cho Tào Tháo càng hết mực yên tâm.
Trong trận đánh năm 197, Tào Tháo đem quân đánh Trương Tú tạm thời chiến thắng nhưng lại bị "lật kèo" khiến trở tay không kịp. Sau trận này Tào Tháo thoát chết nhưng mất tướng yêu Điển Vi, con trai Tào Ngang và cháu ruột.

 Đến cuối đời Tào Tháo vẫn bị day dứt vì không giữ được vợ yêu. ảnh minh họa
Đến cuối đời Tào Tháo vẫn bị day dứt vì không giữ được vợ yêu. ảnh minh họa
Sau khi đại bại. Tào Tháo lập đàn thờ và than vãn: “Ta mất con trưởng và đứa cháu yêu, không thương tiếc là mấy, chỉ khóc thương Điển Vi mà thôi”. Những điều này đến được tai Đinh phu nhân đang trong nỗi đau đớn mất con lại càng trở nên thống khổ hơn. Vì quá đau đớn, Đinh phu nhân đã mắng mỏ Tào Tháo thậm tệ vì việc ông quá vô tâm với nỗi đau mất con. Có lẽ, bà cũng là người phụ nữ đầu tiên dám mắng chửi Tào Tháo trước mặt ba quân thiên hạ.
Cảm thấy bị mất mặt trước thuộc hạ, Tào Tháo bèn quyết định đuổi Đinh phu nhân về nhà mẹ đẻ. Tuy nhiên, ít ai ngờ rằng đây lại là quyết định làm ông hối hận cả đời.
Ân hận đến lúc lìa đời
Cuộc đời Tào Tháo có không ít mỹ nhân, cũng không ít trong số đó trở thành vợ của kẻ phong lưu này. Tuy nhiên, chẳng mấy ai khiến Tào Tháo phải day dứt đến tận lúc chết như Đinh phu nhân. Nửa năm sau khi Đinh phu nhân về nhà mẹ đẻ, Tào Tháo nghĩ vợ mình đã nguôi bớt giận liền đi đón về nhưng với bản lĩnh có sẵn  Đinh phu nhân không mảy may xúc động.
Bí ẩn về người phụ nữ làm Tào Tháo ân hận cả cuộc đời
 
Nhiều sử sách ghi lại rằng Tào Tháo đã dùng mọi cách từ ép buộc đến van nài và xuống nước với người vợ của mình nhưng Đinh phu nhân vẫn kiên quyết không trở lại. Dùng mọi cách Đinh phu nhân vẫn không trở lại, Tào bèn quay về dinh phủ và nghĩ rằng vợ mình đã tìm được người khác. Trái ngược hẳn với cá tính của Tào Tháo, nếu bình thường ai đó phản bội mình sẽ nhận kết thúc không mấy lại tốt đẹp. Tuy nhiên, vì thật sự yêu thương người vợ bản lĩnh này nên Tào quyết định cho Đinh phu nhân cải giá.
Tuy nhiên, Đinh phu nhân vẫn sống cùng bố mẹ dệt vải và qua đời bị bạo bệnh. Sau khi Đinh phu nhân mất, Tào Tháo tự tay chọn nơi chôn cất cho người vợ yêu của mình.
Tạm kết
Trong nhiều tài liệu viết về Tam quốc hay cuộc đời Tào Tháo của lịch sử Trung Quốc đều có ghi lại rằng cuối đời khi sắp lâm chung kẻ gian hùng một thời chia sẻ rất nhiều điều trăn trở về người vợ của mình. Tào nói rằng nỗi ân hận lớn nhất cuộc đời ông là để mất đi người vợ yêu Đinh phu nhân và đó là điều ông day dứt đến cả khi chết.
Trang điểm Tam quốc của sử gia Nguyễn Khanh còn ghi chép lại đoạn trăn trở của Tào Tháo: “Nhìn lại trong suốt cuộc đời ta, người khiến ta không nỡ rời xa nhất đó chính là Đinh phu nhân. Ta chưa bao giờ phụ bạc nàng nhưng những sai lầm đã khiến chúng ta không thể như xưa, khiến ta và nàng trở nên xa cách.”
Suy cho cùng, dù là kẻ gian hùng hay người dân áo vải thì trong cuộc đời họ cũng lưu giữ một hình ảnh ai đó mà suốt đời họ không thể nào quên.

Lên Ý Tý ngắm “biển mây” huyền ảo như cõi tiên cảnh

Ý Tý - là vùng đất hoang sơ và đầy cảm xúc! Du khách đến đây vào bất kỳ mùa nào cũng thấy nơi đây đẹp đến nao lòng. Vào thời điểm tháng 3, lên Ý Tý ngắm mây, ngỡ ngàng như đang đứng trước… biển! Mây Ý Tý không xanh như mây Sa Pa mà trắng xóa, xốp mềm như dải lụa, có lúc cuộn lên như sóng, lúc như tấm khăn khổng lồ phủ xuống bản làng những người Hà Nhì…

 Những “biển mây” lúc ẩn lúc hiện qua những bản làng.
Những “biển mây” lúc ẩn lúc hiện qua những bản làng.
Đường lên Ý Tý nay không còn quá khó khăn như trước. Từ TP Lào Cai đi ngược sông Hồng khoảng 3 giờ đồng hồ là có mặt tại Ý Tý. Vùng đất này đang trở thành điểm đến đến vô cùng hấp dẫn với những người đam mê du lịch bởi ngoài hoa đào, mận, cuộc sống hoang sơ, phong cảnh hùng vĩ, Ý Tý còn có vô vàn mây...

Ngọc Triển

Ngọc Triển

Ngọc Triển

Ngọc Triển

Ngọc Triển

Ngọc Triển

Ngọc Triển

Ngọc Triển

Đỏ mặt xem những động vật có hình dạng giống ‘của quý’

Thế giới động vật luôn ẩn chứa bao điều thú vị. Bên cạnh những loài vật có hình dạng đáng yêu thì thiên nhiên cũng tồn tại nhiều loài vật có hình dạng khá kì quặc. Nó đặc biệt đến nỗi khiến cho nhiều người khi nhìn thấy nó ngay lập tức liên tưởng đến "cái ấy" của đàn ông.

rắn mù
rắn mù
Rắn mù, cá dương vật, ốc vòi voi... là những loài động vật có hình dạng khiến người xem liên tưởng đến "của quý" đàn ông.
Cùng điểm lại một vài loài động vật có sức "ám ảnh" người xem như thế qua bài viết dưới đây.
1. Rắn... mù
Loài rắn này được một số kỹ sư phát hiện tại đập thủy điện bắc qua sông Maderia nối với rừng rậm nhiệt đới Amazon tại Rondonia, Brazil. Loài rắn được các nhà khoa học đặt tên là "floppy snake" (rắn mềm).



Điểm đặc biệt của loài rắn này là chúng không có mắt, dài chừng 1m, đầu bẹp, bên cạnh đó làn da “mềm nhũn” khiến nhiều người liên tưởng đến… “của quý” đàn ông. Loài vật kỳ lạ này hít thở qua da, có thể ăn cá nhỏ, sâu, côn trùng. Tuy nhiên, nhà sinh vật cũng khẳng định vẫn còn nhiều bí ẩn liên quan đến loài rắn này chưa được khám phá.
2. Ốc vòi voi
Nhìn qua ốc vòi voi (geoduck), hẳn nhiều người sẽ liên tưởng ngay đến hình ảnh của "cái ấy" chứ không biết rằng, đây là một loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, sống trong nước mặn. Ngoài cái tên ốc vòi voi, loài sinh vật này còn được biết đến với tên gọi là tu hài hay con thụt thò.



Ốc vòi voi thường sống nơi cát ngầm, thềm cát có san hô ở vùng biển ấm. Đây là loài nhuyễn thể sống lâu (160 năm) và lớn nhất trong hang cát, có giá trị dinh dưỡng cao và đặc biệt "bổ dưỡng" cho phái mạnh.
Loài sinh vật này sống ở nhiều nơi và tùy vào điều kiện khí hậu, nước biển mà kích cỡ của chúng cũng khác nhau. Tại châu Mỹ, người ta gọi tu hài là sò vương, mỗi con dài khoảng từ 15 - 20cm, nhưng phần vòi vươn tới gần 1m. Ở Canada, tu hài thuộc dạng "khủng" nặng từ 2,5 - 4kg, cùng chiếc vòi dài 1 - 2m. 
3. Sâm đất
Sâm đất (tên khoa học: Sipunculus nudus) có vẻ bề ngoài khá “nhạy cảm”, trông giống như dương vật của phái mạnh cả về hình dáng, màu sắc lẫn kích thước.





Sâm đất có hình dạng na ná như một con giun khổng lồ đầy màu sắc, dài 40cm, đường kính khoảng 20cm, nặng 1 - 3kg. Chúng sống trong những hang đá, khe cát ở dưới đáy biển sâu từ 10 - 30m.
Khi bị bắt lên khỏi mặt biển, sâm đất thu mình ngắn lại, cái miệng bé ở phía đầu trông như lỗ van bơm hơi. Da sâm đất thay đổi màu sắc tùy theo môi trường ở, lúc sậm, lúc nhạt màu.
4. Cá mút đá
Cá mút đá hầu như chỉ xuất hiện ở Đại Tây Dương nhưng ngày nay, với khả năng thích nghi cao, loài cá này đã di cư, phát triển nhanh trong môi trường nước ngọt. Chúng dần trở thành thủ phạm gây ra sự suy giảm số lượng của rất nhiều loài cá khác ở vùng hồ Great Lakes, Mỹ.



Để tồn tại, loài cá mút đá đã sống kí sinh trên các loài động vật khác và hút máu của chúng. Cá mút đá có cái miệng tròn với rất nhiều răng mọc xung quanh miệng. Chúng dùng miệng của mình bám vào da của các loài cá khác, đưa lưỡi sắc, nhọn của mình qua vảy để hút máu. 
5. Loài "cá dương vật"
Loài “cá dương vật” được nhắc tới trong bộ phim "Vì sao đưa anh tới" thực chất không phải thuộc họ nhà cá mà là một loài giun thìa có tên khoa học Unicinctus Urechis.



Unicinctus Urechis có màu hồng thịt, làn da trơn tuột, có vài phần phình to trên thân người. Nhìn xa, Unicinctus Urechis trông không khác nào… dương vật của phái mạnh.
Loài giun này có tập tính khá kì lạ, chúng rất thích đào hang dưới cát và bùn giống như chuột chũi ở trên cạn nhưng lại "bơi" giỏi. Loài "cá dương vật" sống chủ yếu ở phía Bắc Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và là món ăn yêu thích của nhiều thực khách ở các quốc gia này.* Bài viết sử dụng tư liệu tham khảo từ các nguồn: National Geographic, Huffington Post, Listverse...

Thứ Năm, ngày 27 tháng 3 năm 2014

Ấn tượng bộ ảnh ánh sáng của cuộc sống

Uy Vũ - theo Trí Thức Trẻ | 25/03/2014 22:20
(Soha.vn) - Cùng chiêm ngưỡng 10 bức ảnh về vũ điệu ánh sáng tuyệt vời nhất.
Trên khắp thế giới này một trong những khoảng khắc làm người ta yêu thích chính là thời khắc ánh mặt trời bao trùm lên cả vạn vật.
Mới đây, một cuộc thi độc đáo quy tụ rất nhiều bức ảnh chụp khoảnh khắc ánh nắng mặt trời ấm áp phủ lên toàn cảnh đã được tổ chức.
Dưới đây là hơn 10 bức ảnh được chọn lọc trong danh sách 1500 bức ảnh gửi tới cuộc thi. Sau trong số 10 bức ảnh đó được chụp từ Anh và trong đó có Cannock ở West Midlands và Bridport, Dorset. Trong số những bức ảnh lọt vào danh sách 10 bức ảnh cuối cùng có cả những nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và có những người nghiệp dư.
Được biết, người chiến thắng sẽ giành giải thưởng là một chuyến đi tới Na Uy trong mùa hè này.
 
 
Winter sunrise over West Dorset, taken in Bridport by finalist Stephen Banks
Early Light, at Newlands Wood Cannock by finalist Graham Colling, from Walsall, West Midlands
Watching the tide roll away (II) at Alloa, Scotland taken by finalist Brian Smith, from Tullibody, Scotland
Untitled in Newcastle, Co Down, taken by finalist Brian Mccready, from Banbridge Northern Ireland
Showers taken in The Hague, Netherlands by finalist Rogier Steyvers, from The Hague, Netherlands
Sunset Cliffs taken in San Diego, USA by finalist Thomas Zagler, from South Tyrol, Italy
Lighting up Langstrath taken in Borrowdale by finalist Paul Fenech-Soler, from Baildon, West Yorkshire

Thứ Tư, ngày 12 tháng 3 năm 2014

Những cách phê bình độc đáo





Các nhà văn, nhà thơ vốn được xem là những người giàu chữ nghĩa. Chính bởi thế mà trong một số trường hợp, để tỏ thái độ bất ưng của mình với một tác phẩm nào đó, họ không "ngang bằng sổ thẳng" mà tìm ra những cách nói khá độc đáo, khiến người đối thoại không khỏi... bất ngờ. Một số mẩu chuyện sau đây là những ví dụ...
Các nhà văn, nhà thơ vốn được xem là những người giàu chữ nghĩa. Chính bởi thế mà trong một số trường hợp, để tỏ thái độ bất ưng của mình với một tác phẩm nào đó, họ không "ngang bằng sổ thẳng" mà tìm ra những cách nói khá độc đáo, khiến người đối thoại không khỏi... bất ngờ. Một số mẩu chuyện sau đây là những ví dụ...

Nói gần nói xa chẳng qua... nói thật
Sinh thời, nhà thơ Chế Lan Viên không thuộc trong số những người đánh giá cao bài thơ "Ngói mới", dù rằng có thời kỳ nó được đưa vào giảng dạy trong nhà trường và được xem như một bước tiến của thơ Xuân Diệu sau Cách mạng. Theo ghi chép của nhà phê bình văn học Hà Minh Đức thì trong một cuộc trao đổi về thơ, Chế Lan Viên có nêu nhận xét: "Bài thơ Ngói mới có ý hay, nhưng nếu cứ thế thì thêm hàng trăm câu cũng không khác".
Còn theo cuốn "Chuyện vui các nhà văn Việt Nam hiện đại" (NXB Thanh niên, 1990) của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi thì một lần, sau khi Chế Lan Viên đi công tác khu 4 về, Xuân Diệu hỏi người dân ở đó họ thích thơ ai nhất. Chế Lan Viên bình thản đáp: "Tôi có hỏi nhiều người thuộc nhiều tầng lớp. Ai người ta cũng bảo họ thích nhất thơ Bút Tre".
Xuân Diệu nghe vậy giãy nảy: "Trời ơi, thích nhất thơ Bút Tre! Cái thứ thơ "Mời bạn về thăm núi Con Voi/ Đủ cả đầu đuôi đủ cả vòi/ Voi cũng như người voi sản xuất/ Đầu thì nương sắn, đít nương khoai" ấy ư? Thị hiếu văn chương hỏng hết rồi". Tới đó, Xuân Diệu hỏi dồn, rằng sao Chế Lan Viên không hỏi trong thơ Bút Tre, người dân thích bài nào nhất.
Đến đây, Chế Lan Viên mới hóm hỉnh "thả" một câu: "Họ bảo họ thích nhất bài... Ngói mới". Thì ra, Chế Lan Viên muốn mượn câu chuyện hài hước ấy để... chê khéo bài thơ "Ngói mới" của Xuân Diệu. Xuân Diệu, mặc dù biết mình bị "bẫy" song chắc cũng chỉ... cười xòa.
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh, Nhà văn Nguyễn Tuân.
Từ khen xuống chê cách nhau có... một chữ
Tác giả "Tây tiến" - nhà thơ Quang Dũng - thời kỳ làm biên tập viên Nhà xuất bản Văn học đã có cách từ chối bản thảo của một tác giả khá bất ngờ và độc đáo: Trước đó, ông cất lời... khen, nhưng là khen những thứ râu ria không liên quan đến chất lượng nghệ thuật.
Ông nói với tác giả: "Tôi đã đọc rất kỹ bản thảo của anh. Bản thảo có nhiều ưu điểm. Chữ đẹp, viết cẩn thận, sạch sẽ. Nói chung, các truyện anh viết đều... (nói đến đây, ông dừng lại rót nước mời khách. Trong khi vị khách ngỡ Quang Dũng khen mình viết... đều tay thì nhà thơ nói tiếp) không dùng được". Có thể nói, chỉ trong một câu nhận xét, tác giả "Tây tiến" đã khiến ông tác giả kia như đang từ trên trời rơi tõm xuống mặt đất vậy.
Chưa đủ để khen
Sinh thời, nhà phê bình văn học Hoài Thanh nổi tiếng là tao nhã, tế nhị trong việc phê thơ. Ông thường lựa lời để người bị chê ít cảm thấy thương tổn. Ấy là việc viết ra giấy trắng mực đen. Còn trong giao tiếp đời thường, khi cần ông cũng thể hiện rõ sự nghiêm khắc của mình.
Chuyện kể rằng, hồi ông còn làm Viện phó Viện Văn học, nhân đọc bản báo cáo tình hình văn học trong năm của một cán bộ trong Viện (người này có học vị Phó tiến sĩ), Hoài Thanh đã nhận xét: "Bài viết của anh có nhiều điểm đúng và nhiều điểm mới. Nhưng... những điểm đúng thì người ta đã nói, còn những điểm mới thì lại... sai".
Quả là một cách phê bình mang nét dí dỏm rất Hoài Thanh.
Chê để khen và khen để... chê?
Nhiều người đã biết, Nguyễn Tuân là nhà văn rất khó tính trong thẩm định văn chương. Để có được một lời khen của ông quả thật không hề dễ dàng. Ngay với nhà văn Tô Hoài, người có vị thế văn học và từng nhiều năm tháng quen thân nhau, song phải mãi sau này, nhân đọc một truyện ngắn mới của Tô Hoài trên Báo Sài Gòn giải phóng, ông mới viết thư cho tác giả, thể hiện sự ưng ý, tâm đắc của mình.
Trong hồi ký "Cát bụi chân ai", Tô Hoài có trích in một đoạn thư của Nguyễn Tuân gửi cho ông: "Tô Hoài. Mình thường ít khen ông - về cả con người, cả nhà văn. Nhưng đọc Sài Gòn giải phóng, 13 tháng giêng 1985, mình thấy có một cái gì mơi mới ở ông. Nhưng phải khen cái truyện ngắn khá dài, khá sâu rộng này. Người thật việc thật trong chuyện này có thật không, hoặc có thì tới mức nào, đối với tôi không quan trọng. Cái quan trọng là nó như thật".
Có người đọc trích đoạn thư này, xem như Nguyễn Tuân "chê để khen", để nhấn mạnh cái cảm xúc khi ông đọc được một truyện mà ông tâm đắc. Song cũng có người lại cho rằng, đó đồng thời là một cách khen để... chê của ông, bởi vốn dĩ, như Tô Hoài nhận xét, giữa Nguyễn Tuân và ông có "nhiều cái không bằng lòng", kể cả trong tính cách và trong thẩm mỹ văn chương.
Không chê kém mà chê... hỗn
Trong những cây đại thụ của làng thơ Việt Nam, Xuân Diệu vẫn được xem là một trong những người cẩn trọng (thậm chí còn rất khe khắt) trong việc khen - chê. Nếu như Chế Lan Viên còn chịu khó biểu dương phong trào thì hầu như Xuân Diệu chỉ đi vào nghiên cứu tìm hiểu tác giả, mà chủ yếu là những tác giả cổ điển.
Đối với anh em trẻ, cũng có khi ông viết nhận xét về họ qua các cuộc thi thơ, nhưng chủ yếu là nhìn từ góc độ những chỗ chưa đạt để nhắc nhở anh em nghiêm túc hơn khi vào nghề viết. Phải nói, những lời phê bình của ông rất có ý nghĩa vì đa phần đều xác đáng.
Trong cuộc thi thơ 1972- 1973, báo Văn Nghệ in bài "Bà" của một cây bút trẻ. Xuân Diệu nhận định: "Tác giả bài Bà vì quá vô ý mà phạm phải nhiều lần vô lễ (ở trong thơ) đối với bà".
Khi cây bút trẻ nọ viết:
Đất màu nâu, da bà cũng màu nâu
Xuân Diệu phê: "Bà nội, bà ngoại đâu có phải một chiếc ấm đất mà nói cộc lốc như vậy. Anh lại càng vô lễ khi nói với bà rằng: mặt của bà nếp nhăn nhiều như mặt lúa khô queo".
Đến câu:
Giờ cây lúa đổi mùa thay hạt
Bà ơi, bà có trẻ thêm
Xuân Diệu bực bõ nhận xét: "Nếu cháu có hiếu thì cháu cứ khẳng định: cây lúa đổi mùa thay hạt, bà của cháu như cũng trẻ thêm ra. Chứ theo tôi nghĩ, hỏi như tác giả hỏi, là xấc láo với bà".
Câu "Ủ cho cháu là rừng cây đằm thắm/ Phải tay bà quàng đến sau lưng", Xuân Diệu than thở: "Chao ôi, tại người viết quá ư vô ý tứ chứ không phải tại tôi muốn sinh chuyện. Đáng lẽ có thể nói "ấm áp như tấm lòng của bà vẫn theo cháu mà ấp ủ", chứ cháu trai đã 19, 20 tuổi, có thể nói "bà mừng rỡ quá ôm chầm lấy cháu", chứ sao lại viết tỉ mỉ "Bà quàng cánh tay qua sau lưng".
Mới thấy, ở đây, Xuân Diệu không cần nói nhiều về nghệ thuật dựng tứ hay dùng từ, ông chỉ nói về cách xử sự đời thường, chỉ cần vậy thôi mà bài thơ bị ông phê đã hoàn toàn... đo ván.
Hơn cả phê bình
Năm ấy, tập thơ "36 bài tình" của hai tác giả nọ ra đời. Nhiều anh em làng văn tỏ ra rất khó chịu, cho rằng đây là một cuốn sách lập dị, tắc tị, mà sự chồng chất các câu chữ vô nghĩa lý của nó là một sự xúc phạm với thi ca. Nhiều bài phê bình đã được các báo in ra.
Và vấn đề lại tiếp tục được nêu lên tại cuộc họp bàn về thơ ở 19 Hàng Buồm- trụ sở Hội Văn nghệ Hà Nội. Tôi còn nhớ hôm ấy có nhà phê bình đã đọc cả bài viết rất cặn kẽ của mình để chỉ trích tập thơ ấy. Đến gần cuối buổi, nhà thơ Trần Ninh Hồ bỗng đứng dậy phát biểu. Câu nói của anh làm tất cả mọi người đều ngạc nhiên:
- Vừa rồi, tôi nghe đâu công nhân nhiều nhà máy in đang đòi sang làm việc ở cơ sở in tập thơ kia.
Mọi người ngơ ngác chưa hiểu ra sao, thì Trần Ninh Hồ giải thích:
- Là vì họ bảo họ rất thích được in những tập như thế này. Họ có thể xếp chữ nhầm lẫn lung tung, chữ nọ ghép với chữ kia chẳng ra nghĩa gì, mà cũng không sao cả. Vì bản thân chữ nghĩa của tác giả cũng vốn đã như vậy...
Mọi người cười ồ, thầm khen sự thông minh của nhà thơ.
Chê thơ bằng cách chơi chữ qua... tên sách
Trong các nhà thơ đương đại, Trần Đăng Khoa là người có biệt tài trong việc thể hiện sự khen - chê của mình qua một cách nói hết sức độc đáo. Anh từng nhận xét về cái ưu và cái nhược của một tác giả lớp trước: "Khi cần ngắm ông ở thể loại này, lại thấy ông lấp lánh sáng ở thể loại khác. Cũng vì thế, có nhà phê bình chẳng biết xếp ông vào đâu".
Với nhà thơ Trúc Thông, tác giả hai tập thơ "Chầm chậm tới mình" và "Maratông" (trong đó có bài thơ lục bát "Bờ sông vẫn gió" được nhiều bạn đọc yêu thích), Trần Đăng Khoa đã có cách chơi chữ rất dí dỏm, thông minh, qua đó phần nào thể hiện được sự "đong đếm" của anh: "Sau Chầm chậm tới mình, Trúc Thông bắt đầu chạy Maratông.
Có lẽ do mặc cảm, lại lo ngại đường xa, nên anh chạy quá nhanh. Nhanh đến mức tất cả thành lòa nhòa. Anh chẳng còn nhìn thấy ai, và cũng chẳng để ai nhìn rõ anh. Có điều, cái đích mà anh cần tới lại nằm xa dần ở phía... sau lưng: Bờ sông vẫn gió" (theo "Chân dung và đối thoại" - NXB Thanh niên, 1999). Những cách phê bình như thế không chỉ hấp dẫn độc giả mà còn gửi gắm được quan điểm của tác giả, và điều quan trọng là chính cách nói vui vui ấy khiến người bị phê cũng dễ... tiếp nhận hơn
Tường Du

Chết, chưa phải là hết.


Sinh lão bệnh tử là lẽ thường tình, ai rồi cũng đến lúc "về cõi". Và đối với một số trường hợp - trong đó có các văn nhân, thi sĩ - chết không có nghĩa là… hết.
Trong vài mươi năm trở lại đây, có lẽ hiếm năm nào mà các văn nhân thi sĩ lại ra đi nhiều như cái năm 2007 này. Chỉ tính sơ sơ trong làng văn từ đầu xuân tới nay, chúng ta đã phải lần lượt cúi đầu giã biệt các nhà văn, nhà thơ: Xuân Thiều, Trần Bạch Đằng, Thanh Châu, Đào Xuân Quý, Võ Quảng, Hữu Mai, Kim Lân… rồi mới đây nhất là nhà nghiên cứu phê bình văn học Phan Cự Đệ.
Toàn những cái tên nghe… chắc nịch. Và, bên cạnh nỗi buồn đau thương tiếc, các tòa báo cũng nhiều phen phải xoay xỏa để có tin, bài phản ảnh kịp thời cũng như điểm xuyết những nét chính yếu trong cuộc đời và sự nghiệp của các bậc tài danh nói trên.
Đây đó đã có một đôi vị giữ chân thư ký tòa soạn của một vài tờ báo, tạp chí văn hóa văn nghệ phải thốt lên: "Cứ in cáo phó, bài phúng điếu nhiều thế này thì báo bán sao được!".
Thôi thì bỏ qua những lời ca thán thuần lý và có phần hơi… nhẫn tâm ấy, tôi bỗng nhận thấy cách đưa tin, viết bài về các nhà văn vừa quá cố của chúng ta thời gian qua có những điểm còn thiên lệch, cần phải bàn thảo.
Vì rằng, sinh lão bệnh tử là lẽ thường tình, ai rồi cũng đến lúc "về cõi". Và đối với một số trường hợp - trong đó có các văn nhân, thi sĩ - chết không có nghĩa là… hết.
Chẳng thế mà, trước khi trút hơi thở cuối cùng, thi sĩ Pháp lừng danh thế kỷ XIX là Anphrết đờ Muyxê đã thốt lên: "Chết! Ôi đến giờ tôi mới được ngủ ngon".
Còn nhà thơ Tố Hữu của chúng ta thì viết :"Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng/ Lòng khỏe nhẹ anh dân quê sung sướng/ Ngửa mình trên liếp cỏ ngủ ngon lành/ Và trong mơ thơm ngát lúa đồng xanh". Chết như thế làm sao có thể coi là… hết.
Trong khi đó, đọc những bài "nửa cáo phó, nửa chia buồn" xuất hiện đầy rẫy trên báo chí hiện thời (đa phần được chấp bút bởi những cây bút trẻ rất ít có cơ hội tiếp cận đối tượng mình đề cập), người đọc cảm thấy ngoài giá trị thông tin, nó ít đem tới cho người đọc những rung cảm sâu xa cùng những chi tiết gây được ấn tượng sâu sắc.
Nói một cách sòng phẳng thì đa phần những bài viết như thế chỉ gọi là "làm… cho có", chứ ít gây hấp dẫn người đọc. Thậm chí, nó còn tạo một cảm giác nặng nề, u ám.
Có thể tôi dùng hai chữ "hấp dẫn" ở đây, có người sẽ lấy làm thắc mắc, rằng tại sao trước việc một đồng nghiệp mất đi, chúng ta lại đặt vấn đề "hấp dẫn" hay không "hấp dẫn". Và chuyện tang gia, lấy đâu mà "hấp dẫn" được?
Sự thật là cách đây vừa đúng hai chục năm, khi tuần báo Văn nghệ ra một số báo gần như có tính chuyên đề xoay quanh sự kiện lão nhà văn Nguyễn Tuân từ trần, báo đã bán hết veo chỉ trong 1, 2 ngày.
Mọi người xôn xao tìm đọc để thêm hiểu về những khoảnh khắc riêng tư của lão nhà văn. Và điều đặc biệt đáng nói là, ở số báo này, người đọc không phải tiếp xúc nhiều với bầu không khí tang tóc được phơi trải trên mặt báo, bởi đây đó họ còn bắt gặp nhiều câu chuyện vui hóm...
Bên cạnh những bức vẽ ông cụ mắt nheo râu quặp trông rất đỗi "ngộ nghĩnh trẻ thơ" là những bài khá dí dỏm, trong đó, bài của nhà văn Kim Lân "Nguyễn Tuân, anh là người sung sướng nhất" được viết với giọng bông đùa (rất hợp với tính cách Nguyễn Tuân) đến nay vẫn được nhiều bạn đọc nhắc, nhớ.
Được biết, trong một lần trò chuyện cùng bạn hữu, nhà văn Nguyễn Tuân đã "di chúc" vui rằng, sau này, khi đưa ông về… nghĩa trang Văn Điển, thay vì việc mua hoa phúng, mọi người hãy dồn tiền vào mua một téc bia hơi, để bạn bè đi sau xe tang ông, vừa uống bia vừa tiễn đưa ông cho buổi lễ thêm phần… long trọng.
Phải chăng, từ thái độ bình thản đối với cái chết như thế, mà không khí ở những bài viết về Nguyễn Tuân trong số báo chuyên đề nói trên cũng nhẹ nhõm hơn, và các bài viết vì thế cũng hấp dẫn hơn?
Như vậy, không thể nói những bài báo viết để chia tay một số văn nghệ sĩ nào đó chỉ là những bài "phúng viếng" thuần túy, không thể hấp dẫn được? Vấn đề là ta chọn lựa cách thể hiện như thế nào. Không nhất thiết trong các bài tưởng nhớ, tất cả đều phải chung một giọng xa xót, buồn thương.
Chẳng đã có chuyện, khi tiễn đưa một nhạc sĩ tài danh trở về Đất Mẹ, người ta đã cùng hát vang một nhạc phẩm mà ông nhạc sĩ này sáng tác đó sao?
Ở đây, tôi chỉ xin được nêu một ý nhỏ là: Với người vừa ra đi, nếu ta không kéo họ gần lại được hơn với cuộc đời này thì cũng đừng nên đẩy họ xa thêm nữa. Và chỉ như thế, những bài viết tưởng niệm họ mới trở nên thực sự có ý nghĩa


  Phạm Thành Chung

Thứ Ba, ngày 11 tháng 3 năm 2014

Làng phố



Em ơi anh về làng phố/Thăm cửa Ô xưa phố cổ Hà thành/Ngõ nhỏ nhà em vẫn hun hút tối tăm/Người béo phải nghiêng mình người cao phải cúi …

Em ơi
anh về làng phố
Thăm cửa Ô xưa phố cổ Hà thành
Ngõ nhỏ nhà em vẫn hun hút tối tăm
Người béo phải nghiêng mình
người cao phải cúi …

Hồn quê
nặng lòng làng phố
Thong thả trầm ngâm nói khẽ ít lời
Chia sẻ cùng nhau gác xép giếng trời
Bể nước lối đi cầu thang góc bếp…

Làng phố
khói lam chiều lơ đãng
Nghe tiếng đàn ai ô cửa nhỏ lên đèn.
Khuôn mặt muôn người ai cũng thân quen
Nhớ bước chân em đi về sớm tối

Em ơi
anh về làng phố
tìm lại hương quê khói bếp giếng trời
Chợt thấy buồn vui nghe tiếng ầu ơ
Cửa sồ nhà em giò phong lan thơm ngát.




Khi nào?

Chuyện bán buôn là chuyện của thương gia hay còn gọi "lái buôn - con buôn", nhưng vấn đề quan trọng là lời lãi ít hoặc nhiều. Chả thế, người ta có thể buôn bán bất cứ món hàng nào kể cả thần thánh lẫn lương tâm... Nhưng không có món hàng nào có giá trị trao đổi mang lại lợi nhuận cao nhất xét từ cổ đến kim mà các thương gia là không biết. Đó là chuyện buôn Vua và buôn Học thuyết. Điều đó không biết có đúng không?



Khi nào
ta là người giàu có
Đó là khi ta giỏi chuyện bán buôn
Hỏi món hàng nào từ cổ đến kim
Hơn chuyện:
– buôn vua và buôn học thuyết?

Về thăm rừng Sác

Ven thành phố Sài Gòn xưa, địa danh rừng Sác đã ghi nhiều dấu ấn lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. 30 năm sau chiến tranh, chiến khu rừng Sác đã được tái tạo lại thành một điểm tham quan hấp dẫn có giá trị giáo dục về truyền thống chiến đấu dũng cảm của quân dân Nam bộ.  
Biểu tượng cho uy danh và lòng quả cảm của các chiến sỹ đặc công rừng Sác đến hôm nay vẫn còn đây. Bức tượng đài tưởng niệm chính là bức thông điệp cho hôm nay và mai sau về sức sống và sức chiến đấu của dân tộc Việt Nam và con người Việt Nam. 860 trong tổng số hơn 1000 chiến sỹ đặc công rừng Sác đã ngã xuống vì ngày toàn thắng cuối cùng. 30 năm, âm vọng của lòng dũng cảm vẫn còn huyền diệu.
 
         Ta và em
tạm thời xa thành phố
Ghé về thăm rừng Sác Cần Giờ
Làng biển thanh bình bãi cát hoang sơ
Gặp những căn chòi như ai đứng gác.

Em đừng ngại
chân lấm lem bùn đất
Vỗ nhịp thuyền len lỏi giữa rừng sâu
Nếu em thích hãy thả những mồi câu
Và có thể cùng anh tát đìa bắt cá…

Bếp lửa hồng
khói bồng bềnh vòm lá
Ta cùng quây quần hát khúc quân ca
Dù cuộc chiến tranh nay đã đi qua
Các địa danh anh hùng sẽ còn sống mãi.

Những cửa sông
Đồng Tranh, Lòng Tàu, Thị Vải…
Tượng đài khắc ghi thấm máu cha ông
Rừng Sác Cần giờ những chiến sỹ đặc công
Ta chợt nhói lòng hỏi ai còn ai mất?

Ta và em
một lần trải nghiệm
Ghé về thăm rừng Sác Cần Giờ
Em trộm hôn anh – anh xin gởi vào thơ
Thơ nhuộm màu xanh của rừng và biển biếc.
 

Ao làng

Ao làng là một trong những hình ảnh đặc trưng của làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ. Ao làng được nói tới trong bài viết này chủ yếu là các dãy ao thuộc xóm Duyên, xóm Đình… gắn liền với những năm tháng tuổi thơ của tôi. Thời đó, mạn xóm tôi có hai dãy ao: Thứ nhất, dãy ao chạy theo con đường trục trong làng và thứ hai, dãy ao ở phía Bắc của làng, chạy theo con ngòi già nua, trên bờ là lũy tre xanh bao bọc xóm làng.
Các ao làng phân cách với nhau bằng một cái bờ, trên bờ có thể đi lại được. Bờ ao ngăn cách có tác dụng khi tát ao bắt cá, người ta dùng gầu sòng hoặc cọn nước, sau này là máy bơm… chuyển nước từ ao nọ sang ao kia.
Trên bờ của dãy ao dọc theo đường làng, vào khoảng năm 1961-1962, người ta trồng một hàng dừa, trông rất đẹp mắt. Bọn trẻ con chúng tôi, lúc đó là thiếu nhi, cũng được phân công trông nom, săn sóc rặng dừa này. Dãy ao dọc đường làng tạo cảnh quan tươi đẹp cho xóm làng. Đôi lần, nhân ngày hội làng 12 tháng Giêng, người ta tổ chức trò bắt vịt, thổi cơm thi cũng ở trên dãy ao này (khi mặt nước ao Đình bị thu hẹp, không còn đủ đường đua). Trên con thuyền bồng bềnh, người dự thi ở thắt lưng cắm một cần tre cong vượt qua đầu. Đầu cần tre là một cái quang treo bằng dây thép; cuối quang treo là một cái nồi nấu cơm nhỏ xíu. Người thi tay phải cầm bó đuốc đang cháy nỏ, tay trái giữ quang sắt, dùng ngọn lửa bập bùng ấy để nấu cơm, vừa nấu cơm vừa phối hợp với đồng đội chèo thuyền bắt vịt. Thuyền nào vừa nấu cơm chín lại vừa bắt được vịt thì thắng cuộc.
Hầu hết các ao đều có bến ao. Bến ao được xây ở bờ ao, thường có vài ba bậc lên xuống. Có chỗ không xây bến thì người ta bắc cầu ao. Bến ao, cầu ao là nơi người dân quê rửa rau, vo gạo, đãi đỗ; là nơi giặt giũ, rửa ráy thôi thì đủ thứ trong đời sống nhà nông. Trong các bến ao, bến ao bà Đào Pha thực sự là một tụ điểm câu lạc bộ của người dân xóm tôi, luôn đông vui, nhộn nhịp. Bến ao ông Dư gắn với những lần tắm ao đầy kì thú của tôi. Bến ao ông Cẩm thỉnh thoảng tôi vẫn xuống rửa nhờ, khi thứ nọ, lúc thứ kia cho nên cảm thấy sao mà thân thuộc…
Ao làng còn là nơi thả cá. Cứ cuối năm, hợp tác xã lại tát ao bắt cá chia cho các hộ gia đình ăn Tết. Nhà nhà ra sân kho hợp tác chia cá, nhận cá, vui như đi hội. Dưới ao cạn, trẻ con ào xuống hôi cá, sục tay xuống những lớp bùn, may ra kiếm được những con cá bị sặc bùn, bắt được con cá nào là hò hét vui sướng. Trên mặt ao, người ta còn thả bèo để làm thức ăn cho lợn. Phổ biến là loại bèo cái. Mỗi nhà chắn một ô rộng trên mặt ao, phân cách nhau bằng những cây nứa nổi. Nhiều nhà còn thả những bè rau muống  trên ao. Rau muống ao to ngọn, non nhẫy nhưng không ngon bằng rau muống trồng ở vườn nhà. Ao làng còn là nơi cung cấp nguồn nước để phòng hỏa hoạn, nguồn nước chống hạn cho ruộng đồng. Ao còn là một cái bồn tắm khổng lồ cho các chú trâu sau một ngày kéo cày mệt nhọc được đằm mình khoan khoái, thỏa sức vẫy vùng. Chúng ngụp lặn, nghếch mũi thở phì phì tóe nước. "Bạn của nhà nông" sau những lần đằm mình thơ thới như vậy, sẽ lấy lại sức chuẩn bị cho những buổi kéo cày nặng nhọc vào hôm sau…
Buồn thay, vào những năm 90 của thế kỉ trước, mỗi lần về quê, tôi thấy nước ao làng bị ô nhiễm nặng nề. Nước chuyển màu đen và bốc mùi tanh tưởi. Rồi vài năm sau, số phận của dãy ao làng tươi đẹp ngày nào đã được định đoạt. Người ta lấp ao và phân lô bán đất cho người dân để lấy tiền chi tiêu các việc công cộng. Còn dãy ao phía Bắc của làng, người dân ra sức đổ đất lấn ao, khiến các ao này nay chỉ nông choèn, méo mó. Tất cả đều phôi pha, tàn lụi theo thời gian…
Ao làng ở quê tôi nay chỉ còn trong kí ức

  Lê Hữu Tỉnh

Kỳ lạ tộc người trai gái "ưng cái bụng" là ngủ chung thoải mái

Giáo dụcNội soiY tếPhóng sự - Ký sựTình huống tranh luận
theo Gia đình và xã hội | 11/03/2014 13:02

Trong phong tục của người Mạ, các cặp đôi khi tìm hiểu nhau nếu “ưng cái bụng” họ sẽ được ngủ chung thoải mái

Tục yêu đương của người Mạ vốn rất mới mẻ. Trong chuyện yêu đương hay tự tìm bạn đời, cha mẹ không hề ngăn cấm hay ràng buộc. Nếu cảm thấy “ưng cái bụng”, đôi trai gái có thể dắt nhau vào rừng hay những nơi vắng vẻ để tìm hiểu.
 - Ảnh 1
Người Mạ (ảnh tư liệu).
Ngủ chung thoải mái trước khi cưới
Vượt hơn 180 km, dọc theo Quốc lộ 20 và băng qua chiếc cầu treo Tà Lài (dài 164m, rộng 4m) vắt ngang sông Đồng Nai, chúng tôi đã có mặt tại ấp 4, xã Tà Lài, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Nơi đây là địa bàn sinh sống từ lâu đời của cộng đồng người Mạ.
Trong chiều chạng vạng nơi góc rừng Cát Tiên, cuộc sống của người dân tộc thiểu số nơi đây vẫn quen thuộc với tiếng kẽo cà kẽo cọt của khung cửi. Bên ché rượu cần của già làng K’Gõ, 84 tuổi, vốn được mệnh danh là “kho tàng văn hóa sống” của người Mạ ở Tà Lài, chúng tôi được nghe kể nhiều câu chuyện độc đáo về phong tục, tập quán từ xa xưa. Trong đó, thú vị nhất chính là quan niệm khá mới mẻ của họ về hôn nhân.
Hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai theo chế độ phụ hệ, một vợ một chồng và tuyệt nhiên không có quan niệm trọng nam khinh nữ. Đặc biệt, khi con cái trong nhà đến tuổi trưởng thành, khoảng 15-17 tuổi, thì được thoải mái tự do tìm hiểu. Ngoại trừ những trường hợp bố mẹ có hôn ước cho con từ thuở nhỏ, đứa trẻ lớn lên sẽ phải tuân theo và không được tự do lựa chọn bạn đời.
Tập tục cũng quy định, nếu bên nào bội ước thì phải tiến hành “trả lễ” cho bên kia. Chẳng hạn, đằng trai lấy vợ trước, bên gái sẽ có quyền yêu cầu nhà trai “trả lễ”. Đây chính là một hình thức “phạt vạ” đã tồn tại từ lâu trong cộng đồng người Mạ. “Nếu bên nào đi lấy người khác trước thì bị phạt của cải rất nhiều, bằng số tiền cưới luôn. Lễ vật gồm hai con trâu, bốn con heo, nhiều rượu cần, chóe, gạo, thóc, gà vịt…”, già làng K’Gõ cho biết.
 - Ảnh 2
Già làng K’Gõ. Ảnh T.G
Tục yêu đương của người Mạ vốn rất mới mẻ. Trong chuyện yêu đương hay tự tìm bạn đời, cha mẹ không hề ngăn cấm hay ràng buộc. Nếu cảm thấy “ưng cái bụng”, đôi trai gái có thể dắt nhau vào rừng hay những nơi vắng vẻ để tìm hiểu. Thậm chí, sau khi G’bổ (thương nhau), họ có thể tầm-pài (ngủ với nhau) miễn là không cùng huyết thống và không được để có bầu trước hôn nhân. Đáng nói là, việc này không hề ảnh hưởng đến chuyện trăm năm của cô gái sau này.
Ngày xưa, người con gái mang bầu trước khi kết hôn thì sẽ bị bon (làng) phạt rất nặng như đuổi ra khỏi nơi cư trú, trừ phi có người nhận làm cha đứa bé trong bụng. Ngày nay, tục lệ này đã không còn. Nếu cái thai của con gái “vô chủ”, cha mẹ phải soạn lễ vật cúng trong nhà như heo, vịt, gà… để tránh xui xẻo.
Theo anh K’Lâm (cán bộ văn hóa xã Tà Lài), dù phong tục của người Mạ rất “thoáng” trong chuyện trinh tiết nhưng một cô gái không ăn ngủ cùng lúc với nhiều chàng trai sẽ được mọi người đánh giá có đạo đức hơn một cô gái có lối sống buông thả. Trường hợp một cô gái được hai chàng trai để ý, giữa họ phải có một cuộc thách đấu bằng xà gạc (dụng cụ đi rẫy và là vũ khí đi rừng của người dân tộc – PV). Ai đủ bản lĩnh giành chiến thắng sẽ được yêu cô gái.
Kỳ lạ không được tiếp tục ngủ chung sau đám nói
Khi hai người đồng ý sống cùng nhau, chàng trai sẽ về thông báo với gia đình để chuẩn bị sính lễ đến nhà cô gái làm đám nói. Cùng với những lễ vật đã được sắm rất chu đáo, bên nhà trai sẽ nhờ một người có uy tín trong họ hàng để làm ông mai dẫn đến nhà gái. Khi đi hỏi vợ, chàng trai người Mạ đã trở thành một người đàn ông thực thụ với ngọn lao cầm trên tay, chiếc dao dắt ngang lưng và trên vai là cây xà gạc.
Đồng thời, anh ta sẽ được mặc trang phục truyền thống của người Mạ, đó là đóng khố với nhiều sợi dây màu đỏ nổi bật, tay đeo trang sức đồng, búi tóc lên cao và cài một chiếc lược sừng sâu. Cô gái sẽ phục sức lên người một bộ váy với nhiều hoa văn đặc trưng rất đẹp mắt của người Mạ, kèm theo những phụ kiện như chiếc đai lưng màu sặc sỡ, đeo nhiều chuỗi vòng có đính hạt cườm. Cô gái cũng giống như chàng trai, búi tóc và cài lược sừng trâu nhưng được cắm thêm con dao nhỏ.
Khi vừa tới nhà gái, tự tay chàng trai sẽ cắm ngọn lao xuống đất, ngay trước cửa nhà gái và… đứng đợi. Một lát sau, người đại diện cho đàng gái có thể là cha hoặc cậu ruột sẽ trực tiếp ra đón nhà trai. Sau khi nghe lời trình bày lý do tại sao đến đây của chàng trai, nhà gái gật đầu đồng ý. Ngay lúc đó, chàng trai sẽ rút ngọn giáo và cùng mọi người vào nhà. Cũng giống như nhiều dân tộc thiểu số khác, việc đầu tiên mà chàng trai người Mạ phải làm khi bước chân vào nhà gái là đứng trước bàn thờ tổ tiên khấn vái rồi đem ngọn giáo gác lên xà nhà. Ngọn giáo sẽ được để nguyên tại nhà gái bảy ngày bảy đêm.
Sau những nghi lễ được hai họ cử hành, mọi người mới cùng nhau ngồi lại bên những ché rượu cần. Lúc tiệc rượu tàn, nhà trai ra về, riêng chàng trai sẽ ở lại nhà vợ chưa cưới để làm việc. Đặc biệt, một tập tục kì lạ chỉ có ở người Mạ là sau đám nói việc quan hệ nam nữ sẽ tuyệt nhiên bị cấm, dù trước đó hoàn toàn thoải mái. Trường hợp đôi trai gái muốn ngủ chung thì phải vào rừng và tự dựng túp lều để cùng nhau sống ở đó. Đến khi kết hôn các cặp đôi sẽ được ngủ chung.
Già làng G’Bổ bảo, trong quá trình sống chung, nếu đôi vợ chồng trẻ không hợp nhau hay cô gái không thể sinh con cho nhà chồng thì đằng trai có thể trả cô gái về nhà mẹ đẻ. Dù cô dâu có lỗi cũng không được đánh đập, đặc biệt trước mặt bố mẹ vợ và con cái, vì như thế chẳng khác nào đánh vào cha mẹ cô gái.
Theo quan niệm của người Mạ, nếu cô dâu được trả về nhà mẹ đẻ trong tình trạng bầm dập, thì cô đã là một người chết, nhà gái sẽ không nhận. Đồng thời, nhà gái sẽ phạt vạ nhà trai rất nặng. Chính vì vậy, để cha mẹ nhận lại con cái của họ thì cô gái phải được trả về “nguyên vẹn”.
Lễ vật thách cưới cả trăm triệu đồng
Khi màn đêm dần buông xuống, không khí yên ắng và không gian âm u, tịnh mịch thâm sâu của khu rừng Cát Tiên như được xua tan bớt bởi ánh lửa bập bùng trong những ngôi nhà sàn. Thi thoảng, tiếng cười giòn tan của trẻ thơ hay tiếng cười sảng khoái sau những câu bông đùa của người lớn lại vang lên, báo hiệu kết thúc chuỗi ngày làm mùa mệt nhoài trên nương rẫy.
 - Ảnh 3
Chị Ká Rển, nghệ nhân dân gian. Ảnh T.G
Cùng ngồi chuyện trò với chúng tôi, chị Ká Rển - nghệ nhân dân gian của người Mạ tâm sự: “Làng Tà Lài của người Mạ giờ đã có nhiều nhà gạch, nhưng người dân nơi đây vẫn thích được sống trong những nếp nhà sàn. Nhất là cùng ngồi bên nhau chuyện trò về những người đi trước bên bếp lửa và ché rượu cần”.
Chúng tôi được nghe chị kể câu chuyện ở rể của chàng trai Tà Lài khi không đủ tiền trả sính lễ cho nhà gái. Theo chị, trong quan niệm của người Mạ, người con gái khi đi lấy chồng chẳng khác nào… mất luôn. Vậy nên, nhà gái sẽ đòi hỏi sính lễ rất cao đối với nhà trai. Để được đính hôn với cô gái, chàng trai phải “cống nạp” lễ vật cho bố mẹ vợ tương lai là một ché rượu cần, một con gà, nhiều chuỗi hạt đeo cổ, lục lạc, lược sừng và nhiều món quà quý khác theo yêu cầu của nhà gái.
Trước khi tiến hành hôn lễ, nhà trai phải nạp nhiều lễ vật có giá trị khác như: hai con trâu, sáu con lợn, một cặp chiêng, ba mươi cái ché. Ngoài ra, họ phải đãi tiệc dân làng nhiều ngày liền. Chàng trai cũng có thể “khất” nhà gái phần sính lễ nếu chưa thể trả hết, với điều kiện phải đi ở rể. Chỉ khi nào sính lễ cho nhà gái được hoàn tất thì chàng trai mới được đưa cô gái về nhà mình làm dâu và những đứa con sinh ra mới được mang họ cha.
Chị Ká Rển chia sẻ: “Nếu tính theo thời giá hiện nay, tổng số lễ vật mà nhà trai mang đến nhà gái có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. Vì số tiền quá lớn, nhiều chàng trai có hoàn cảnh nghèo khó đành ở rể suốt đời. Như tôi đây, đến bây giờ vẫn mang họ của mẹ vì cha quá nghèo, đến lúc chết vẫn chưa trả hết lễ vật. Cha mẹ tôi sống cùng nhau bao năm, sinh đến 10 mặt con mà theo tục lệ người Mạ cha tôi vẫn chưa thể có… vợ”.
Đến bây giờ, việc lấy chồng của chị cũng theo quan niệm của người Mạ, nên hiện chồng Ká Rển vẫn phải ở rể vì gia đình anh quá nghèo. Tất nhiên, bốn đứa con của anh chị đều mang họ mẹ. Chỉ khi nào anh hoàn tất được sính lễ cho nhà gái thì con cái mới được “chính danh” mang họ cha.