Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Bảy, ngày 27 tháng 9 năm 2014

Nhà văn Nguyễn Công Hoan với tên gọi Bến xe, Bến tàu

Lâu nay, chúng ta thường nói “bến ô tô, bến tàu điện”. Nếu chúng ta chỉ hiểu bằng nghĩa đen của tiếng bến - là nơi tàu thuyền đỗ ở bờ sông - thì có thể coi là ô tô chạy trên mặt nước, tàu thuỷ chạy bằng điện.
Năm 1938, nhà văn Nguyễn Công Hoan ở đảo Trà Cổ, thường nghe người làng nói rằng thỉnh thoảng họ vẫn trông thấy tàu chiến Nhật lảng vảng ở ngoài khơi. Ông rất muốn được nhìn thấy tàu Nhật. Một hôm, ông nghe có tiếng kháo nhau rằng ở ngoài biển có chiếc tàu. Ông vội vàng chạy ra xem. Nhưng chẳng thấy gì. Ông hỏi một cụ già đứng ở đó. Cụ trỏ tay vào cái thuyền đỗ ở gần. Nhà văn ngờ ngợ. “Đấy là cái thuyền chứ?” Cụ bảo: “Đấy là cái tàu”. Rồi cụ già nọ giảng cho ông biết thuyền và tàu khác nhau thế nào. Rằng, tàu thì mũi thẳng dọc xuống, hai bên phình dần ra. Thuyền thì mũi vuông ngang, phía dưới bẹt dần vào. Nhà văn Nguyễn Công Hoan nghĩ, vì hình thù như thế là cái tàu, cho nên những cái có hình thù ấy bằng máy, chạy trên mặt nước đều được gọi là tàu. Rồi sau, những vật dụng tương tự dùng để chở khách, cũng lại gọi là tàu. Sau cùng, tiếng ấy lan nghĩa ra đến những vật dụng khác, nhưng không phải ở trên mặt nước. Do đó, gọi là xe lửa, xe điện vì chúng được đặt trên bánh xe chạy trên cạn. Rồi tàu hoả, tàu điện. Thậm chí bay trên trời, cũng được gọi là tàu: tàu bay.
Muốn phân biệt với tàu hoả chạy trên đất thì tàu chạy trên sông được gọi là tàu thuỷ. Do tiếng tàu, cụ già nọ còn cho nhà văn Nguyễn Công Hoan biết là bọn kẻ cướp vẫn dùng chiếc tàu có ngăn ra từng ô, để thực hiện hành vi phạm pháp, gọi là giặc tàu ô.

Mấy chục năm về trước, ở quãng sông Hồng chảy đến Hà Nội, do có bãi cát ở giữa cho nên sông rẽ ra làm hai dòng, một dòng ở phía Gia Lâm, một dòng ở phía Hà Nội. Bờ phía Hà Nội là bến rất sầm uất. Các tàu thuỷ đi Hải Phòng, Nam Định, Tuyên Quang, Chợ Bờ tập trung cả ở gần phố chợ Gạo - nơi bán gạo từ các tỉnh chở về bằng đường thuỷ.
Từ khi có nhiều xe chở khách, ở Hà Nội xe đỗ lộn xộn. Sở đốc lý qui định xe đỗ một chỗ. Các xe phải qua cầu Long Biên thì đỗ trên khoảnh đất rộng ở bờ sông, sát chân cầu, nơi người ta vẫn bán nứa. Nơi ấy nhiều năm qua vẫn là cái bến, gọi là Bến Nứa. Vì xe ô tô đỗ ở bến Nứa, người ta gọi tắt là bến ô tô. Tiếng bến từ đó trở thành tiếng chỉ nơi tập trung của ô tô. Nơi ô tô tập trung không phải ở cạnh sông cũng gọi là bến. Chỗ đỗ của xe điện - chỗ không phải tập trung - cũng được gọi là bến: bến xe điện, bến tàu điện.
Phan Điển Ánh (Theo Kiến Thức Ngày Nay 568)

Phong cách Nguyễn Tuân

Nhà Văn Nguyễn Tuân
Hồi những năm 60 của thế kỷ trước, cửa hàng bia hơi mậu dịch Cổ Tân ở xế cửa Nhà hát lớn thành phố Hà Nội là một trong những hàng bia hơi đông khách nhất và được mang danh là “quán bia nghệ sĩ” vì có nhiều văn nghệ sĩ đến uống bia, trong đó có mấy vị thường xuyên “trồng cây si” ở đây như cố nhà văn Nguyễn Tuân, cố hoạ sĩ Hoàng Vĩnh Quý (con trai cố Bộ trưởng Bộ văn hoá Hoàng Minh Giám)...






Thời bao cấp, phương thức bán bia của cửa hàng này là: mọi người đến xếp hàng. Khi đến lượt, người mua trả 6 hào và được cô thu tiền tách ra 2 đồng sèng (nút chai bia đã đập phẳng), đục lỗ ở giữa rồi xâu vào một sợi dây thép căng từ nơi thu tiền đến chỗ lấy bia. Người mua đưa tay giữ và kéo 2 đồng sèng đó tới cuối dây. Người giao bia nhận sèng rồi đưa cho khách 2 vại bia đầy (cốc thuỷ tinh 500ml), khách tự bê bia ra bàn và tìm ghế ngồi uống. Về mùa đông, khách tương đối vắng, mỗi lần xếp hàng và lấy xong bia mất chừng 5 phút, nhưng mùa hè phải mất tới 15-20 phút. Hôm nào không may, xếp hàng gần đến nơi thì nhà hàng báo hết bia, vậy là khách tự giải tán với khuôn mặt ỉu xìu!

Riêng mấy vị “lão làng” như Nguyễn Tuân thì trên bàn nơi cụ ngồi, lúc nào cũng có vài vại bia đầy. Đó là bia của những vị khách mến mộ nhà văn, mua được 2 cốc bia đem đến “kính mời” nhà văn một cốc. Ai mời, nhà văn cũng nhận. Khi có người quen đến chào, nhà văn lại chỉ một cốc bia trên bàn và bảo:

- Uống đi rồi đi xếp hàng.

Một buổi chiều, tôi đến chào nhà văn rồi bảo:

- Thưa bác, bác mới có bài “Cốm”?

Nguyễn Tuân chỉ một cốc bia và phán:

- Thế mày thấy thế nào?

Uống xong ngụm bia, tôi thưa:

- Dạ, hình như không được bằng bài “Phở”.

Nguyễn Tuân chỉ vào cái ghế nhựa bảo:

- Ngồi xuống, tao nói cho mà nghe. Ngày xưa, để viết được bài “Phở”, tao phải mất 30 buổi tối. Cứ khoảng 9 giờ, lúc khách ăn phở đã vãn mà các rạp hát chưa tan, tao đến quán phở ở đầu ngõ Tạm Thương hàng Bông, gọi 3 xu cút rượu cuốc lủi (rượu nếp nấu lậu) và 2 xu xương (đã hầm nhừ làm nước phở). Tao ngồi ngất ngưởng, vừa nhăm nhi, vừa moi ông chủ gánh phở những bí quyết của cái nghề nấu món đặc sản Nam Định ấy. Uống hết rượu, tao gọi bát phở chín 5 xu, vị chi mỗi tối mất 1 hào. Sau 30 tối, tức mất 3 đồng tao mới viết được bài “Phở” để rồi được nhuận bút một đồng hai! Còn bây giờ, món cốm Vòng (một làng làm cốm nổi tiếng ở ngoại thành Hà Nội) đã mai một rồi, tao nhớ lại để viết bài “Cốm” lấy 8 đồng uống bia. Thế thì làm sao mà bằng bài “Phở” được!

Cuối năm 1972, Mỹ dùng máy bay B.52 ném bom, bắn phá Hà Nội, các cơ quan và nhân dân triệt để sơ tán, nhưng vẫn còn những bộ phận ở lại chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Chiều 24.12, tôi đạp xe từ nơi sơ tán về, xem Hà Nội đánh trả B.52 ra sao. Tổng thống Mỹ R.Nixon đã tuyến bố ngừng đánh phá nhân lễ Noel. Vượt cầu phao Bắc Cổ, tôi đạp xe tiếp. Đến gần Nhà hát lớn, thấy quán bia Cố Tân mở cửa, tôi rẽ vào. Nhà văn Nguyễn Tuân đang ngồi cùng anh Hoàng Vĩnh Quý. Vừa chào xong, bác Tuân chỉ vào ghế bảo:

- Uống đi, hôm nay không phải xếp hàng đâu! Tao vừa đến Hội nhà văn. Tao bảo ông thường trực: “Ông cho tôi mượn sổ danh sách hội viên”. Ông ta hỏi lại: “Thưa, để bác làm gì ạ?”. Mày biết tao trả lời ra sao không? Tao bảo: “À, để tôi gạch tên những đứa nào không đáng đi đưa đám tôi!”

Phong cách Nguyễn Tuân như vậy đó.

Hôm nay ghi lại hai mẩu chuyện nhỏ này để thắp một ném tâm nhang tưởng nhớ nhà văn “Vang bóng một thời” nhân dịp đầu Xuân.



Nguyễn Kim Hoạt (Theo Kiến Thức Ngày Nay 562)

Nhạc sĩ Phạm Duy và đôi điều, ngày ấy...

Nhạc sĩ Phạm Duy đã về lại quê hương, những ngày cuối tháng 7, Cục nghệ thuật biểu diễn ký quyết định cho phép phổ biến trên toàn quốc 9 ca khúc của ông gồm: Bà mẹ Gio Linh, Tình ca, Nương chiều, Áo anh sứt chỉ đường tà (thơ Hữu Loan), Ngậm ngùi (thơ Huy Cận), Mộ khúc (thơ Xuân Diệu), Thuyền viễn xứ (thơ Huyền Chi), Ngày trở về, Quê nghèo. Qua những trang hồi ký của ông xin kể lại với độc giả đôi điều về lai lịch của một số nhạc phẩm nói trên.
Khúc hát Nương chiềuGiai đoạn tham gia kháng chiến, Phạm Duy gặp nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát ở Bắc Kạn, ông mô tả nhạc sĩ Khoát hơi gầy gò, chân đi đôi giày to tổ bố. Phạm Duy rất thích một số bản nhạc của Nguyễn Xuân Khoát như Tiếng chuông nhà thờ và đặc biệt là bài Gọi nghé (viết năm 1947) nó đẹp như 1 bức tranh sơn cước. Phạm Duy rất thích câu “a be nghé ơi...” nghe như tiếng gọi của đồi nương ban chiều và sau này khi viết nhạc phẩm “Nương chiều” ông đã nghĩ rất nhiều đến tiếng hát gọi nghé của nhạc sĩ Khoát. (Chương 15 Hồi ký II)

Trong thời kỳ lưu diễn ở vùng Cao-Bắc-Lạng (khoảng năm 1947-1948) Phạm Duy viết nên nhiều nhạc phẩm dân ca, trong đó có Nương chiều

“Chiều ơi. Lúc chiều về mọc ánh trăng tơ
Cho ngày mùa bài hát nên thơ, ơi chiều
Chiều ơi, mái nhà sàn thở khói âm u
Cô nàng về để suối tương tư, ới chiều...”
Chuyện Người mẹ Gio Linh:

Năm 1948, Phạm Duy đính hôn với Thái Hằng mà người ủng hộ nhiệt tình chính là tướng Nguyễn Sơn, vị tướng nổi tiếng tại khu IV thời bấy giờ. Lúc ấy Phạm Duy công tác trong đoàn văn nghệ của trung đoàn 304. Sau chuyến công tác ở Hà Tĩnh, đoàn chia thành hai nhóm. Phạm Đôn dắt một nửa trở ra bộ tư lệnh quân khu IV. Phạm Duy cùng Bửu Tiến, Ngọc Khanh, Vĩnh Cường và một số đội viên khác đi về phía Nam, vào vùng đất Bình-Trị-Thiên khói lửa. Qua một vài nơi thuộc Quảng Bình, đoàn của Phạm Duy theo đường núi đến Quảng Trị. Vì dưới đồng bằng bấy giờ quân Pháp xây rất nhiều đồn canh, ban ngày cho quân lùng sục các làng mạc để khủng bố dân chúng, ban đêm lính Pháp ở trong đồn bắn ra bừa bãi. Sau khi ở trên núi vài ngày, nhóm của Phạm Duy đề nghị với chính quyền địa phương cho xuống đồng bằng, và một địa danh sẽ đi vào nhạc phẩm để đời của Phạm Duy, đó là một ngôi làng thuộc huyện Gio Linh.

Khi đến làng thì dân chúng không muốn tiếp xúc vì họ tưởng nhầm những người cộng tác với Pháp, dân làng mới vừa bị quân Pháp đến khủng bố. Sau khi biết được đoàn văn nghệ do tỉnh uỷ phái đến họ mới đón tiếp và kể cho nghe câu chuyện về 12 người mẹ. Trước đó lính Pháp đi tuần và bị vướng mìn, ăn đạn du kích làm chết một số tên. Chúng đã kéo tới làng để trả thù. Chúng tập trung dân làng lại và thấy 12 người mẹ bế trên tay 12 đứa con thơ. Chúng bắt dân làng phải khai ra nơi trú ẩn của du kích vừa gây thiệt hại cho chúng nếu không sẽ giết 12 người mẹ này. Vì không ai chịu khai cả cho nên chúng lôi 12 người mẹ đang bồng con thơ đó ra bờ sông, và ra lệnh cho 12 người mẹ ném con của họ xuống nước. Tất nhiên không ai làm theo cái lệnh dã man đó, vì vậy chúng đã bắn chết cả 12 người mẹ cùng con của họ. Ngoài chuyện 12 người mẹ hy sinh, dân làng còn kể cho Phạm Duy nghe câu chuyện của một bà mẹ ở làng kế bên có người con tham gia kháng chiến bị Pháp bắt chặt đầu treo giữa chợ. Không ai dám lấy đầu của anh xuống. Chỉ riêng bà mẹ của anh dám đến bỏ đầu con vào khăn mang về chôn cất. Nghe xong câu chuyện, Phạm Duy nhờ một anh dân quân đưa đến gặp người mẹ ấy. Đó là một người đàn bà với khuôn mặt nhăn nheo khắc khổ nhưng lúc ấy Phạm Duy cảm ở bà nét đẹp như một vị thánh. Phạm Duy viết trong hồi ký rằng: “Tôi đã rợn người khi nghe bà kể lại câu chuyện của bà bằng một giọng nói rất bình thản. Rồi bà dẫn tôi đi qua một rặng tre để ra tới chợ là nơi ngày nào bà đã tới để lấy đầu con đem đi chôn... Tôi trở về nằm lăn trên một cái giường nứa ở một cánh rừng không tên trên chiến khu Quảng Trị, tôi đã khóc rưng rức và rồi ngồi dậy viết ra những câu ca đầu tiên của bài hát. Lúc đó tôi nghĩ tới mẹ tôi”. Câu chuyện về bà mẹ Gio Linh được Phạm Duy kết rằng sau khi hy sinh người con độc nhất cho kháng chiến, bà mẹ sẽ có hàng trăm người con nuôi là bộ đội.

Tôi yêu tiếng nước tôi...
Năm 1949, Phạm Duy cưới Thái Hằng làm vợ, giấy hôn thú ghi tên đầy đủ của bà là Phạm Thị Quang Thái. Đám cưới tổ chức tại chợ Neo, Thanh Hoá. Đến dự đám cưới có tướng Nguyễn Sơn, chính trị viên Nguyễn Kiện, văn sĩ Nguyễn Đức Quỳnh, kỹ sư Nguyễn Dực (con của nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh)... Sau đám cưới Phạm Duy, được nghỉ ngơi hoàn toàn để hưởng tuần trăng mật. Một buổi tối trăng sao vằng vặc, hai vợ chồng son đi dạo bên nhau trên con đường quê yên tĩnh. Phạm Duy ước mong cho cuộc kháng chiến sớm thành công để đưa người vợ mới cưới về khoe với mẹ (mẹ ông lúc ấy ở Hà Nội). Tác phẩm Ngày trở về đã lung linh hiển hiện trong tâm thức ông đêm ấy (chương 30 Hồi ký PD II).

Năm 1951, Phạm Duy cùng gia đình vào định cư ở Sài Gòn, trong một căn nhà nhỏ gần chợ khu vực Thị Nghè. Ông cộng tác với Đài phát thanh Pháp - Á và thành lập ban nhạc Thăng Long với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh (Băng Thanh), Thái Hằng. Bản nhạc Tình ca được Phạm Duy viết trong giai đoạn này. Đó là thời kỳ mà ban Thăng Long rất được khán giả hâm mộ, lương của đài Pháp - Á cũng rất cao, 1200 đồng/tháng trong khi 1 bao gạo 100kg chỉ có 80 đồng. Ngày ấy, không những ghi đĩa, hát cho đài phát thanh mà Phạm Duy cùng với quái kiệt Trần Văn Trạch, Lê Thương cùng cộng tác tổ chức lối hát phụ diễn chiếu bóng. Nhóm các ông trình bày những chương trình tạp lục như đơn ca, hợp ca, ca hài hước... trước khi chương trình chiếu phim bắt đầu. Bản Tình ca được ca sĩ Anh Ngọc hát lần đầu tiên tại rạp Thanh Bình:
“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời, à à ơi tiếng ru muôn đời...”

Bài Tình ca rất được mọi người yêu thích, nói đến quê hương, đất nước, con người, giọng nói. Cũng giai đoạn này, Huyền Chi, một cô gái bán vải ở chợ Bến Thành, tác giả của bài thơ Thuyền viễn xứ giao bài này cho Phạm Duy phổ nhạc. Những ngày cuối năm 1953, Phạm Duy qua con đường âm nhạc đã tích luỹ một lưng vốn để ung dung đi du học (1954). Thời ấy do nhiều yếu tố không chỉ thuần tuý kinh tế nên 1 đồng Đông Dương có mệnh giá tương đương với 17 Francs (gấp đôi hối suất thông thường). Ông đã gởi được nhiều đồng Franc qua Pháp và quyết định một chuyến viễn du.

Từ Sài Gòn ông đáp tàu La Marseillaise đến cảng Marseille nước Pháp. Những giờ phút trên tàu, tình hoài hương chợt đến để Phạm Duy soạn ra một bài hát với ý tưởng lãng du và tinh thần dân ca đó là Ngày trở về.

“Ngày trở về, anh bước lê
Trên quãng đường đê đến bên luỹ tre
Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè
Cười đón người về...”

Trong hồi ký III, ông có cho biết thêm chi tiết ngộ nghĩnh: ông soạn bài Ngày trở về khi tàu La Marseillaise đến gần Hồng Hải, ông viết bản thảo khi ngồi trên chuyến xe lửa xanh (Train Bleu), mà lại tưởng tượng đâu đó có dãy núi trắng (Mont Blanc). Tác phẩm Ngày trở về mang một tâm tư sâu đậm của tác giả. Lần thứ hai ông nói về hình tượng người thương binh. Xương máu đổ xuống cho nền độc lập có đóng góp của những con người cụ thể. Đó có thể là tâm tư những ngày ông sống trong lòng kháng chiến.
Nhạc sĩ Phạm Duy là người đa đoan, đa tài và dĩ nhiên... đa tình. Cái hay là ông bộc trực, thẳng thắn trong trang hồi ký. Ông kể về vết thương lòng thời tuổi 30..., về cô gái hai dòng máu Việt - Anh, về những điều làm bất cứ con người nào cũng biến thành niềm xúc cảm nếu được chút máu văn nghệ sĩ trong người hay xét cho cùng là con người đích thực. Từ Helene (Hệ Liên) rồi Alice là những tình yêu cao thượng. “Đừng lay tôi nhé cuộc đời xung quanh”. Giai đoạn ấy một người bạn của Phạm Duy gởi từ Pháp về một bài thơ mà chắc rằng ông đã phổ thành nhạc (Kiếp nào có yêu nhau - Hoài Trinh).

Thời ấy Phạm Duy cũng phổ rất nhiều bài thơ. Thành công lớn nhất có lẽ là bài “Ngậm ngùi, phổ thơ Huy Cận”. Ông ghi trong Hồi ký rằng Ngậm ngùi đã từng được nhạc sĩ Lê Thương cảm nhận và phổ nhạc từ những năm 1943-1944 và đặt tên là Tiếng thùy dương. Rất tiếc thời ấy không nhiều người biết đến!. Phạm Duy thì may mắn hơn (hay người yêu nhạc may mắn?). Ngậm ngùi khi được ông phổ nhạc năm 1961, qua tiếng hát Anh Ngọc rồi đến ca sĩ Lệ Thu đã được công chúng đón nhận say mê. Ngậm ngùi là một bài thơ giao thoa giữa Đường thi và lục bát Việt Nam. Nhiều thế hệ đã bị chinh phục khi nghe

“Nắng chia nửa bãi chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu (sầu?)

.........................

Ngủ đi em, mộng bình thường
Ru em sẵn tiếng thùy dương đôi bờ
Ngủ đi em, ngủ đi em...”
Năm 2000, trong một lần về nước Phạm Duy đã tặng Huy Cận một CD đặc biệt ghi âm bản nhạc Ngậm ngùi qua 16 giọng hát khác nhau làm Huy Cận rất cảm động.
  • Tạ Xuân Quan (Theo kienthucngaynay.vn)

Hai mặt của sự đố kỵ


Gần nhà tôi có ngôi chùa cổ. Chùa nhỏ, dân nghèo nên chỉ có một sư trụ trì mà thôi. Nghe nói trước đây sư tu ở một ngôi chùa to nhất nhì nước, tiếng tăm, đức độ của sư đang lên nhưng rồi không rõ nguyên do gì, sư được điều về trụ trì ngôi chùa nhỏ ở làng tôi...
Tôi không ăn chay niệm Phật, nhưng thỉnh thoảng có chuyện vui, chuyện buồn vẫn thường ra hưởng ly nước vối nhà chùa và đàm đạo chuyện đời với sư. Khi đã thân quen, có lần tôi hỏi: "Đang ở chùa lớn, ở nơi đô hội nườm nượp người vào ra, giờ về trụ trì chùa vắng này, sư có buồn không?". "Có buồn, nhưng mọi sự ở đời, đừng ngồi mà nhâm nhi nỗi buồn, vì càng buồn thì nỗi buồn lại càng lớn hơn, vạn vật đều thay đổi từng giây, từng sát - na một, điều quan trọng là mình làm được điều gì có ích nhất trong điều kiện hiện tại". "Buồn sao sư lại về đây?". "Vì sự đố kỵ, nhưng không phải để tránh sự đố kỵ mà về để tu đắc đạo hơn". "Chẳng lẽ nhà chùa cũng có sự đố kỵ sao?". "Không ở đâu là không có sự đố kỵ. Nhiều người đi tu nhưng Phật có cho gọi hết họ đến bên mình đâu". Hôm đó, câu chuyện của chúng tôi xoay quanh sự đố kỵ. Và sư như là người dẫn lối cho tôi vượt thoát được khỏi sự đố kỵ của chính mình và của người khác dành cho mình.
Thường thì chẳng ai thích mình bị người khác đố kỵ, nói xấu, vì vậy khi bị người khác đố kỵ, nói xấu, phản ứng đầu tiên là trách cứ, giận dỗi người nói xấu mình. Người nhuần tính thì không thèm nhìn "cái mặt không chơi được" của kẻ đố kỵ, nói xấu mình. Người nóng tính, nông nổi có khi còn vác nắm đấm đi nói chuyện cho nó ra ngô ra khoai. Cả người nhuần và nóng tính sau đó thường đi than thở, thanh minh với người này người khác là mình không phải thế này, mình không phải thế kia, nhưng bị thằng này (con kia) đố kỵ, ghen ghét nên nó đi nói xấu thế này thế khác. Lời nói đã nói ra như vệt dầu loang trên biển, càng cố vớt, sóng càng đánh tản ra, càng loang xa chẳng có cách gì có thể gom lại được hết. Kết cục là tình cảm sứt mẻ, mua thêm sự bực bội vào lòng, vò đầu bứt tai ấm ức suốt ngày chỉ đi than thở và có thể nói xấu lại người đã đố kỵ, nói xấu mình. Nếu sự việc cứ tiến triển như thế, thường xuyên sống mà phải để ý như thế thì khổ lắm, chẳng còn làm được việc gì mà nhan sắc ngày càng héo hon ủ dột, tài năng ngày càng sa sút vì không còn bụng dạ nào để mà chú tâm sáng tạo và chú tâm chăm chút đến bản thân.
Trong đời người chắc ít có ai không một vài lần bị người khác đố kỵ, ganh ghét, nói xấu nhưng không phải ai khi bị đố kỵ, ganh ghét, nói xấu cũng đều bị mặt ủ, mày chau, sa sút tài năng nhan sắc tàn tạ cả. Có người càng bị đố kỵ họ càng thăng tiến, càng chứng tỏ bản lĩnh và tài năng của mình. Những người như thế thường là người có bản lĩnh, hiểu đời, hiểu người và nhất là hiểu mình. Người đó biết mình đang ở một tư thế mà người khác phải ghen tị, đố kỵ. Điều đó có thể làm cho họ buồn, nhưng cũng có nghĩa là họ càng vững vàng tin vào vị thế của mình. Chỉ có những người có vị thế mới hay bị đố kỵ. Khi bị đố kỵ, họ có dịp để xem lại mình và để phấn đấu. Họ như không để ý đến những điều tiếng xung quanh mà miệt mài sáng tạo, miệt mài đi đến cái đích mà họ đã chọn. Càng bị đố kỵ họ càng phấn đấu để chứng tỏ tài năng và vị thế của mình. Bằng chính tài năng và sự nỗ lực của chính mình họ đã chứng minh cho mọi người biết họ là người thực tài. Khi đã chứng minh được cho một lớp người biết thực tài của mình tất yếu sẽ sinh ra một lớp người đố kỵ mới, lớp người đố kỵ tầm cao hơn và họ lại tiếp tục phấn đấu và chứng minh. Kết quả là sau mỗi lần bị đố kỵ, gièm pha, nói xấu họ càng trưởng thành, tiến bộ và tỏa sáng tài năng. Họ là người được lợi từ những lời đố kỵ. Còn người đi đố kỵ là những người luôn có tâm địa hẹp hòi, có cái nhìn thiển cận, không tự biết mình biết người, không chịu phấn đấu, suốt ngày đâm bị thóc, chọc bị gạo, bới móc những chuyện đâu đâu, chính lại là những người luôn luôn tụt hậu. Khi đi đố kỵ với người khác chứng tỏ mình bắt đầu, hay đã cảm thấy thua người khác. Khi bị đố kỵ người khác cố phấn đấu đi lên còn mình thì do không tự biết mình biết người nên không chịu phấn đấu, không chịu để thời gian, để tâm cho làm việc, sáng tạo nên tụt hậu là điều tất yếu. Mà càng tụt hậu, càng thấp kém lại càng hay đố kỵ. Cái quy luật đó tưởng dễ những chắc không phải ai cũng suy ngẫm về nó? Tưởng dễ những không phải ai, cả người đố kỵ và người bị đố kỵ làm được


  •   Nguyễn Thế Hùng

Ta ơi!

Ta có nghĩa là chính mình, là cái tôi, cái hữu ngã – bản ngã trong hư vô của Ngũ uẩn. Cái ảo giả do Vô minh luôn hiện hữu trong cuộc đời như một dấu hỏi về cuộc đời. Đó là được và mất, về tự do hay xiềng xích, về hạnh phúc hoặc khổ đau… Xét cho cùng, con người đấu tranh và tự đấu tranh không chỉ để tồn tại, để mưu sinh mà hướng đến sự hiện hữu của những giá trị nhân sinh của « Cái Tôi ».


1.                        

Ta là mình
– mình là ta
Vần xoay xuôi ngược cũng là cái Tôi
Riêng chung cũng một kiếp người
Buồn vui nhân thế đầy vơi chữ Tình

            2.                        

Khi nào
ta đánh “mất" tự do
Khi ta loay hoay kiếm tìm hạnh phúc
Khi ta chợt thấy đàn bà mến phục
Họ tôn vinh:
  và bồng bế tình ta?

3.                        

Ta thử hỏi
khi nào ta đánh mất
Yêu ghét buồn vui thật giả trên đời
Đó là khi Thần rượu ngỏ lời mời
Rượu uống ta:
– rượu say ta không biết?

4.                        

Khi nào
ta là kẻ đáng thương
Khi bộc bạch những điều chân thật
Khi rượu nếm ta và ta hôn rượu
Rượu khóc cười:
- ta chợt thấy mình vui?

5.                        

Khi nào
ta là người hạnh phúc
Khi ta tự lừa dối chính mình
Đời ban tặng ta một trái tim câm
Ta đang sống:
– mà tưởng mình đã chết?

6.                        

Khi nào
ta là kẻ thông minh
Khi ta biết nói điều lừa dối
Có thể mọi người tin lời ta nói
Chỉ riêng ta:
– không tin nổi chính mình?

7.                        

Khi nào
ta tự dưng muốn khóc
Là lúc ta khát vọng nụ cười
Khi ta chỉ yêu ghét một người
Không biết:
– yêu ghét nhiều người một lúc?

8.                        

Khi nào
ta được gọi là say
Khi ly rượu cùng buồn vui nhân thế
Đó là lúc hình như mình tử tế
Thành thật:
– vị tha và lớn khôn hơn?

9.                        

Khi nào
ta vừa thương vừa ghét
Đó là khi môi ta chạm môi em
Vòng tay ta xiết chặt em hơn           
Và thật bất ngờ:
- em tặng ta cái tát?

10.                   

Khi nào
trái tim ta ca hát
Đó là khi uống rượu ngắm hoa
Đó là khi em nhích lại gần ta
Bàn tay nhỏ: 
-  nhưng lại là vũ trụ?

            11.                   

Tiền duyên
ta chưa gặp
Kiếp sau ta chưa hay
Chỉ biết trên đời này
Yêu em hơn tất cả.

12.                   

Sống như
lữ khách qua đường
Chết là về cố hương cội nguồn
Cuộc đời “sắc sắc không không”
Hợp tan cũng bởi Vô thường – Nhân duyên.

Thử lý giải hai "nghịch lý" ở nàng Kiều


Tranh của họa sĩ Ngọc Mai minh họa cảnh nàng Kiều bị đánh đập tàn nhẫn.
Ở "Truyện Kiều" của Nguyễn Du tiên sinh, ta thấy trong 15 năm lưu lạc, nàng Kiều có một lần sắp bị đánh; ba lần bị đánh thậm tệ và ba lần nàng tự tử. Ta không bàn đến hai lần bị đánh thậm tệ là lần Thúc ông đưa nàng ra cửa quan (Thúc ông về quê. Thúc Sinh tìm cách chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, lấy làm vợ lẽ. Thúc ông bắt nàng trở lại lầu xanh. Thúc Sinh xin, Thúc ông bực mình...). Quan cho nàng chọn: "Một là cứ phép gia hình/ Một là lại cứ lầu xanh phó về", nàng chọn "... vâng chịu trước sân lôi đình" và lần thứ hai là lần bị Hoạn phu nhân nhiếc móc rồi sai người đánh nàng ("Nào là gia pháp nọ bay/ Hãy cho ba chục biết tay một lần").
Ta cũng không bàn đến nàng "gieo đầu một bên" khi thấy Từ Hải chết đứng và lần nàng nhảy xuống sông Tiền Đường. Ta chỉ lý giải những sự việc xảy ra khi nàng đang ở nhà Tú Bà. Sau một tháng đi đường, Mã Giám Sinh đưa nàng về nơi Tú Bà ("Những là lạ nước lạ non/ Lâm Tri vừa một tháng tròn đến nơi").
Sau một hồi căn vặn, Tú Bà biết rõ sự thật đã gào lên nhiếc móc và "Giật bì tiên rắp sấn vào ra tay", nghĩa là chưa động đến thân thể nàng thì Kiều đã kêu lên "...Trời thẳm đất dầy/ Thân này đã bỏ những ngày ra đi/ Thôi thì thôi có tiếc gì/ Sẵn dao tay áo tức thì giở ra". Tú Bà thấy thế không dám đánh nàng nhưng nàng đã "Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần". Rõ ràng thân thể nàng chưa bị đau đớn bởi đòn roi của Tú Bà, thế thì tại sao nàng lại tự hủy hoại thân mình? Hành xử của Tú Bà chỉ là một giọt nước làm tràn-ly-đau-khổ chứa chất bao ngày trong tâm hồn nàng. Ta hãy điểm lại vài nét chính làm cho ly-nước-đau-khổ ấy ngày càng đầy ra sao?
Cuộc đời nàng, kể từ tiết Thanh Minh, mở đầu một tình yêu khi gặp chàng Kim Trọng. Rồi hai người yêu nhau. Trước lời tỏ tình của Kim Trọng, nàng nói với người yêu "Đã lòng quân tử đa mang/ Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung".
Tình yêu đôi lứa đang nồng thắm, đang hứa hẹn một kết cục tốt đẹp thì một tình huống bất ngờ xảy ra: Chàng Kim Trọng theo lệnh cha phải về hộ tang chú ở Liêu Dương. Chàng chỉ kịp nói rõ hoàn cảnh của mình và mong nàng "Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời". Nàng cũng chỉ kịp nói cho chàng yên tâm "Đã nguyền hai chữ đồng tâm/ Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai".
Thế mà chàng Kim vừa chia tay nàng đi Liêu Dương, nàng vừa về đến nhà, chưa kịp hàn huyên với đoàn mừng thọ thì đột ngột "Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao" và thế là cảnh cha và em trai bị gông cổ và mọi thứ bị bọn sai nha vét sạch cho đầy túi tham đã diễn ra trước mắt nàng. Tình huống đặc biệt ấy đã đẩy nàng phải chọn một trong hai con đường: cứu cha hay giữ lời thề với người yêu. Nàng đã chọn chữ "hiếu", tức là phải bán mình để chuộc cha, cùng nghĩa là đành bội ước với người yêu.
Mối tình đẹp đẽ, thơ mộng, tự nhiên tuột mất, không thể cứu vãn được, ai mà chẳng đau xót! Ly-nước-đau-khổ đầy lên, ta hãy nghe tiếng kêu xé lòng của nàng: "Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang/ Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây". Người mua Kiều là Mã Giám Sinh. Buổi chiều hôm, họ Mã rước nàng về nhà trọ (trú phường) để hôm sau theo tục lệ, Vương Ông làm lễ tiễn đưa. Việc gì đến sẽ phải đến. Đêm ấy, Mã Giám Sinh "vào" với nàng Kiều. Thế là hết! Nàng đau khổ, chán chường thốt lên: "Thôi còn chi nữa mà mong/ Đời người thôi thế là xong một đời!".
Với người phụ nữ xưa, việc trinh tiết còn quan trọng hơn mạng sống của mình nên nàng đã cầm dao toan quyên sinh, nhưng nàng đã kịp nghĩ đến sự liên lụy cho cha mẹ. Sự không tự tử lúc này không phải là nguôi sự đau khổ, sự giận duyên, tủi phận mà vẫn còn đó, chờ một dịp nào sẽ thực hiện.
Một tháng sau thì Mã đưa nàng về đến Lâm Tri. Vào nhà, nàng thấy ngay mấy ả mày ngài, thấy khách làng chơi, thấy cả hương án và thần mày trắng, tất cả lộ rõ là một ổ lầu xanh. Nào đã hết đâu! Nàng Kiều càng rõ khi mụ Tú Bà bắt nàng "lạy mẹ đây" rồi "lạy cậu mày bên kia" (tức Mã Giám Sinh). Nàng hiểu rõ sự việc: Không phải là vợ lẽ mà là một món hàng kiếm tiền cho mụ.
Khi nghe nàng nói rõ sự thật thì Tú Bà gào lên... rồi "Giật bì tiên, rắp sấn vào ra tay". Trong lòng đang chứa chất bao đau khổ (xa cha mẹ, bội ước với người yêu, mất cái "ngàn vàng"...) nay lại rõ một sự thật phũ phàng: làm gái lầu xanh. Tất cả làm cho ly-nước-đau-khổ tràn đầy. Sự tử tự của nàng Kiều là tất yếu. Đó chỉ là việc xảy ra tiếp theo lần định tử tự trước để thoát khỏi sự đau khổ tột cùng, sự chán chường tràn ngập trong lòng nàng.
Ta cũng cần phải kể đến một yếu tố quan trọng không kém, đó là yếu tố thời gian. Nếu những việc vừa nêu trên mà diễn ra trong một thời gian dài thì có lẽ chưa chắc đã đẩy nàng đến chỗ quyết liệt như vậy, đằng này sự việc lại đến dồn dập, đau khổ chồng lên đau khổ chỉ trong một thời gian rất ngắn. Như vậy, ta đã lý giải rõ ràng vì sao nàng Kiều chưa bị đánh, chưa bị đau đớn về thể xác mà lại tự tìm đến cái chết. Điều đó đúng với sự phát triển tất yếu của tâm lý con người, của tâm lý nhân vật mà Nguyễn Du tiên sinh đã dựng lên một cách tài tình biết bao!
Còn vì sao khi bị đánh thậm tệ thì nàng lại không tự tử? Các tình huống xảy ra hoàn toàn khác và tính chất của sự việc cũng khác hẳn. Việc tự tử của nàng Kiều không thành. Trong cơn mê, nàng thấy Đạm Tiên báo cho biết "Số còn nặng nghiệp má đào/ Người dù muốn quyết, trời nào đã cho/ Hãy xin hết kiếp liễu bồ/ Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau".
Nàng Kiều hiểu rằng: Trời đã định, số phận đã định thế, muốn chết cũng không được. Niềm tin vào lời "thần mộng" này rất quan trọng, liên quan đến ứng xử của nàng sau này. Còn mụ Tú Bà thì sao? Mụ đã từng gào lên "Màu hồ đã mất đi rồi/ Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma" - sau khi biết rõ sự thật nàng Kiều nói ra. Mụ không chịu để mất vốn liếng đã bỏ ra!
Trước tình thế đó, mụ ngon ngọt thuyết phục nàng Kiều, chỉ cho nàng rõ một sự thật "Một người dễ có mấy thân", lại chỉ rõ lứa tuổi tươi đẹp của nàng "Hoa xuân đương nhụy, ngày xuân còn dài", mụ lại còn tỏ ra thẳng thắn nhận cái sai về mình "Cũng là lỡ một lầm hai" và lại còn hứa "Đá vàng sao nỡ ép nài mưa mây". Mụ cho rằng: Việc nàng Kiều đến chỗ mụ, chẳng qua "Lỡ chân trót đã vào vào đây" nên đành phải "Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non" (nghĩa là: gìn giữ để chờ ngày lấy chồng xứng đáng). Cuối cùng mụ khẳng định: Làm thế (tự tử) chỉ "thiệt mình" mà hại đến mụ thì hay gì?
Để Kiều tin hơn và hoàn toàn xóa bỏ sự nghi ngờ của nàng, mụ thề thốt: "Mai sau ở chẳng như lời/ Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi". Tất cả những điều đó đã tác động đến nàng "Đành lòng nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần". Nếu nói theo cách nói ngày nay thì mụ Tú Bà đã thành công trong "công tác tư tưởng" đối với nàng Kiều. Sự khôn ngoan, khéo léo ấy đã mở cho nàng Kiều một viễn cảnh không còn ảm đạm nữa. Bằng thực tế, mụ không bắt nàng Kiều tiếp khách mà cho nàng ra ở cái lầu có tên là Ngưng Bích.
Ở đây, nàng nhớ đến người yêu, nhớ đến cha mẹ đã già, buồn nhìn cảnh vật chiều hôm ở cửa bể với những con thuyền xa xa, với cánh hoa trôi vô định... Trong tâm trạng buồn trước cảnh vật và số phận của mình, nàng đã thốt lên mấy câu thơ. Nàng lại nghe "có tiếng đâu họa vần". Người họa vần là Sở Khanh. Sở Khanh có vẻ là một thư sinh, tỏ ra quyến luyến nàng, khen nàng "sắc nước hương trời" và tỏ tình cảm "Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng" rồi khẳng định "Thuyền quyên ví biết anh hùng/ Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi".
Một người đang trong cảnh cá chậu chim lồng, đang trong cảnh tương lai mờ mịt "Kiếp phong trần biết bao giờ mới thôi" thì lời nói quyết đoán của Sở Khanh không thể không tác động mạnh mẽ đến nàng. Thế là nàng "đánh liều" nhắn lời rồi viết thư kể rõ tình cảnh của mình. Thư đi, Sở Khanh có thư lại, hẹn ngày giờ bỏ trốn. Họ Sở lại "bốc" cho nàng yên tâm: Nếu thế nào thì "Có ta đây cũng chẳng cơn cứ gì". Sở Khanh đưa nàng Kiều "Song song ngựa trước ngựa sau một đoàn" bỏ trốn giữa đêm thu.
Nàng Kiều ngây thơ và quá tin nên đi theo họ Sở, ngờ đâu "Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào". Lúc này chỉ có một mình nàng "khôn biết làm sao" khi đoàn người đổ đến vây bắt. "Tú Bà tốc thẳng đến nơi/ Hầm hầm áp điệu một hơi lại nhà/ Hung hăng chẳng hỏi chẳng tra/ Đang tay vùi liễu dập hoa tơi bời". Con người chứ có phải gỗ đá đâu! "Thịt da ai cũng là người/ Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau". Trong tình hình đó, Kiều phải nhận tội và cầu xin tha thiết "khẩn cầu" "Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa".
Như vậy, xem ra có cái gì đó không bình thường: sắp bị đánh thì tìm cách tự tử, bị đánh thì lại không tự tử, phải chấp nhận điều tồi tệ nhất mà nàng không muốn! Nhưng xem xét kỹ thì vấn đề thật hợp lý. Tự tử là vì đau đớn về tinh thần, không còn cách nào làm giảm đi được. Sự đau đớn này không phải tự nàng Kiều gây ra, chỉ có cái chết mới chấm dứt được nỗi đau khổ đó. Còn khi trốn không thành, bị bắt rồi bị đánh thậm tệ, muốn giảm sự đau đớn về thể xác thì chỉ còn cách nhận tội và xin từ bỏ tấm lòng trinh bạch của mình. Tự mình thấy mình có tội thì còn oan ức cái nỗi gì nữa!
Sau này, nàng Kiều (cũng như người đọc) được Mã Kiều nói rõ mối quan hệ giữa Tú Bà và Sở Khanh "Đà đao sắp sẵn chước dùng/ Lạ gì một cốt một đồng xưa nay/ Có ba mươi lạng trao tay/ Không dưng chi có chuyện này trò kia!" thì mới rõ ra mọi điều. Tú Bà đã  dùng "đà đao kế" ("đà đao" là giả thua, kéo lết đao rồi bất ngờ quăng đao lại chém") để xử lý nàng Kiều, làm cho nàng mắc lừa và dựa vào đó trị tội nàng. Qua phân tích những vấn đề trên, ta không những rõ lý do tự tử và không tự tử của nàng Kiều mà còn một lần nữa thấy rõ bộ mặt thật nham hiểm, đểu cáng của mụ Tú Bà và từ đây, từ cái lò lầu xanh của mụ mà nàng Kiều chịu "nhiều lưu lạc" lại "nhiều gian truân" trong suốt mười lăm năm khổ ải sau này
  Nguyễn Duy Hiển

Thứ Tư, ngày 17 tháng 9 năm 2014

Trái Đất đẹp mê hoặc khi nhìn từ vệ tinh

Các vệ tinh của NASA đã quay được những cảnh đẹp mê hoặc của Trái Đất trong năm 2013 mà chúng ta không nhìn thấy được.


video
  • Nguồn: telegraph

Thứ Ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014

Chất lãng mạn đang ngày một ít đi


Mácxen Aymê là nhà văn hiện đại người Pháp. Ông sinh năm 1902 và mất năm 1967. Tác phẩm của ông từng được giới thiệu rộng rãi ở Liên Xô và các nước XHCN khác với lời đánh giá rất cao: "Truyện ngắn của Mácxen Aymê bừng sáng lên ánh tinh tế của cái cười châm biếm, sức sống của một trí tuệ tươi trẻ, sự trong trẻo lành mạnh ở cách nhìn đời và chất muối hài hước sâu đậm trong văn phong…".
Năm 1983, tập truyện ngắn "Người đi xuyên tường" của ông đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt và lần đầu tiên xuất bản tại Việt Nam qua Nhà xuất bản Tác phẩm mới.
Trong "Người đi xuyên tường" có truyện ngắn "Người về bét". Truyện mở đầu bằng: "Có một tay đua xe đạp tên là Máctanh bao giờ cũng về bét và người ta cười khi thấy anh tụt lại quá xa sau những tay đua khác. Chiếc áo may-ô của anh màu xanh lam rất dịu với một nhánh hồng hoang đính ở ngực áo bên trái. Gò lưng trên ghi đông với chiếc khăn tay ngậm giữa hai hàm răng, anh đạp cũng kiên cường như người về nhất. Những lúc leo dốc chật vật, anh ráng sức mắm môi mắm lợi đến mức đôi mắt anh long lanh rực lửa. Và khi thấy con mắt sáng và những bắp thịt cuồn cuộn do phải nỗ lực của anh, ai nấy đều nói:
 - Kìa, Máctanh có vẻ to khỏe ra. Thế thì càng hay… Lần này, anh ta sẽ tới đích ở giữa tốp.
Nhưng lần ấy cũng như mọi lần khác, Máctanh vẫn về bét…".
Trong "Người về bét", còn có một đoạn rất đáng chú ý:
"Một ngày hè, anh đương đua xe… anh thấy xe bị xẹp lốp. Khi anh đang thay săm bên vệ đường, có hai người đàn bà lại gần. Một trong hai người đó, tay bế một đứa bé vài tháng tuổi, hỏi anh:
- Ông có biết một người tên là Máctanh đua xe đạp không?
Anh trả lời như một cái máy:
- Chính tôi, Máctanh đây. Chính tôi là người về bét. Lần khác sẽ khá hơn.
- Tôi là vợ thầy nó đây, Máctanh ạ.
Anh ngẩng đầu lên, vẫn tiếp tục lắp săm vào vành và âu yếm nói:
- Tôi rất hài lòng… Tôi thấy con cái cũng chóng lớn - Anh nói thêm và nhìn đứa bé ngỡ là con mình.
Một vận động viên đua xe đạp (ảnh chỉ mang tính chất minh họa).
Vợ anh có vẻ ngượng nghịu và trỏ người thiếu phụ trẻ cùng đi:
 - Máctanh à - Chị nói - con gái thầy nó đây, giờ cao lớn bằng thầy nó rồi. Nó đã lấy chồng và các thằng cu của thầy nó cũng đã có vợ…
 - Tôi rất hài lòng… Tôi cứ tưởng chúng nó còn trẻ hơn. Thời gian đi mau thật… Thế bu nó đang bế cháu nội của tôi đấy à?
Thiếu phụ trẻ quay mặt đi, còn bà mẹ trả lời:
 - Không, Máctanh ạ, không phải cháu nội ngoại gì đâu. Con trai tôi đấy… Tôi nghĩ thầy nó không trở về…".
Loại trừ những chuyện khác, theo tôi, Máctanh chính là một người yêu nghề, luôn hết mình vì nghề đến mức sẵn sàng quên mọi thứ để "tử vì đạo". Và anh cũng là người rất phi thực tế.
Riêng tôi coi Máctanh thuộc típ người lãng mạn và tôi đánh giá cao phẩm chất lãng mạn trong con người Máctanh. Hay nói một cách khác: "Máctanh là người đua xe đạp lãng mạn nhất trần gian".
Trong bóng đá, người Pháp có giai đoạn từng lãng mạn như thế.
Ở mùa World Cup năm 1982 tại Tây Ban Nha, trong một trận đấu quan trọng theo thể thức knock-out với người Đức, ở hiệp phụ, người Pháp đã dẫn trước 3 - 1. Vậy mà do lãng mạn (kể cả chơi đẹp, chơi tấn công, chơi cống hiến…) mà bị người Đức loại sau khi phải đá luân lưu 11m.
Ở ta, trong chốn văn chương, cũng từng có một số thi sĩ, văn sĩ như thế. Có khi chỉ vì quá lãng mạn, quá đắm đuối với nghề mà cuộc sống của cá nhân (có khi của cả gia đình) lâm vào cảnh vất vả, đói khổ, chịu nhiều thua thiệt. Có phải vì thế mà có lần nhà thơ Xuân Diệu đã phải thốt lên: "Cơm áo không đùa với khách thơ!".
Cách nay mấy năm, tôi có quen biết một thi sĩ. Ông làm thơ từ lâu, có lần được nhà thơ lớn Chế Lan Viên khen và được coi là một người dám "tử về thơ". Rồi vì quá đắm đuối với thơ, ông và cả gia đình ông đều gặp khó khăn. Ông hiện vẫn trú ngụ trên một mặt bằng là trần của một cái bếp trong một biệt thự cũ bằng cách dựng một cái nhà tạm. Cho dù đã trên 70 tuổi, nhưng mãi đến năm 2012, ông mới trở thành hội viên Hội Nhà văn.
Đó là một ví dụ. Tôi tin trong đời thực, trường hợp nhà thơ trên, không phải là duy nhất. Nhưng tôi cũng tin: Những thi sĩ lãng mạn kiểu trên, nếu còn, đa phần là những người cao tuổi và kiểu người như họ, đa phần xuất hiện vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX đổ về trước. Còn bây giờ ư? Thật hiếm và hầu như không có nữa.
Cách nay chừng một thập kỷ, từ Sài Gòn, có một người gửi cho tôi một trăm nghìn đồng bảo là tiền nhuận bút cho một bài thơ phổ nhạc của tôi. Tôi cũng mừng. Sau đó, trong một lầ
n đi công tác, tôi muốn tìm gặp người đó để cảm ơn. Nhà thơ Cao Xuân Sơn bảo: Người phổ nhạc bài thơ của anh giờ đã bỏ nghề, đi ra miền Trung buôn đường dài rồi. Tôi hay tin mà cụt hứng.
Một lần tôi đặt ra câu hỏi với không ít băn khoăn: "Thế chẳng nhẽ chất thực tế, chất thực dụng đang lấn át chất lãng mạn? Và như thế thì đang tốt lên hay xấu đi?". Một nhà thơ cao tuổi, người rất giàu trải nghiệm, đã trả lời: "Chất lãng mạn ngày càng ít đi ở trong mọi lĩnh vực, mọi đời sống, mọi cuộc đời - đó là điều chắc chắn, dễ nhận thấy. Cũng chẳng tốt lên hay xấu đi. Đơn giản vì mọi thứ đều là sản phẩm của một thời. Xét cho cùng, con người cũng thế thôi. Riêng đối với những người làm văn chương mà thiếu đi phẩm chất này, dù với lý do gì, âu cũng là điều đáng buồn và đáng tiếc"


  Đặng Huy Giang

Huy Cận và mối sầu "thượng đẳng như lai"

Nhà thơ Huy Cận
… A thân thể! một cái bình tội lỗi
Đất sơ sinh đã hóa lại bùn lầy…
Đọc hai câu thơ trên của ông, tôi thấy lạnh cả người .

Lần ấy, Hội Văn học nghệ thuật Hà Tĩnh tổ chức một buổi giao lưu thơ nhạc với những nhà thơ, nhạc sĩ người Hà Tĩnh đang sống ở Thủ đô. Tôi cũng được mời đến đọc thơ. Khi tôi bước vào hội trường đã thấy mọi người vây quanh nhà thơ Huy Cận ngồi ở hàng ghế đầu. Ông rất yếu, không lên đọc thơ được, một nghệ sĩ ngâm thơ của ông. Đến lượt tôi lên đọc thơ, đọc xong có vài người lên tặng hoa. Tôi ôm bó hoa được tặng xuống hàng ghế đầu đến chỗ nhà thơ Huy Cận ngồi, cúi đầu chào và tặng hoa ông. Ông ngước nhìn tôi, cái nhìn mệt mỏi. Một lúc, ông mới nhận ra tôi, ông thều thào nói: "Kỳ Anh, Dương Kỳ Anh…".
Chỉ mấy ngày sau, ông đã ra đi, đi về cõi vĩnh hằng…Tôi đâu ngờ, đó là lần cuối cùng được gặp ông.
Tôi đội tang đen và mũ trắng/Ra đi, không hẹn ở trên đường…Tôi lại nhớ đến hai câu thơ trên của ông.
Dạo ông còn làm Bộ trưởng (Bộ trưởng không bộ), có lần hình như là năm 1989 thì phải, tôi đi CHDC Đức họp Tổng biên tập báo thanh niên các nước XHCN (đó cũng là lần họp cuối cùng), lúc trở về Việt Nam, tại sân bay Berlin, mấy người bạn đi tiễn tôi bảo: "Này, nhà thơ, à, Bộ trưởng Huy Cận đang ở trong phòng an ninh của sân bay". "Lạ quá, sao có chuyện ấy được, Bộ trưởng đi hộ chiếu ngoại giao cơ mà!". Tôi không tin.
Khi lên máy bay, tôi gặp ông, thấy gương mặt ông không vui, hình như có chuyện hiểu lầm gì đó.
Sau này tôi hay gặp ông ở tòa soạn Báo Tiền Phong.
Chuyện không vui với ông khi con trai ông đến gặp tôi mấy lần đề nghị đăng bài "kiện" lại bố về chuyện nhà cửa, sân vườn gì đó!
Nhà thơ Huy Cận đến gặp tôi, gọi điện cho tôi nhiều lần. Ông bảo: "Ông Kỳ Anh ơi, thôi nhé, thôi đừng đăng nhé… Chuyện buồn trong nhà mình… Thôi nhé, ông Dương kỳ Anh… thôi nhé!".
Những lần như vậy, tôi thấy ông buồn lắm.
Có lần, ông gửi cho tôi một bài thơ mới làm để đăng báo. Tôi vốn rất yêu thơ ông, nhưng bài thơ ông gửi chưa tương xứng với tài năng của ông nên tôi có ý chần chừ. Ông đi xe ôtô đến tận tòa soạn gặp tôi mấy lần để hỏi bao giờ thì đăng? Khi thơ đã đăng, ông lại đến hỏi xin mấy tờ báo. Tôi nói với mấy anh em làm thơ trong tòa soạn: "Một nhà thơ lớn, nổi tiếng như thế mà còn… như thế, quan tâm đến tác phẩm của mình như thế… Đó chẳng phải là bài học cho chúng ta hay sao".
 …Một tấm linh hồn nhỏ/Mang mang thiên cổ sầu…
"Thơ Huy Cận vốn là sầu, nhưng là sầu thượng đẳng như lai" - Nói về nỗi sầu của Huy Cận, bất giác tôi lại nhớ tới nhận xét trên của Bùi Giáng.
Đúng là, Huy Cận có những nỗi sầu thượng đẳng, mà bài "Tràng Giang" là một ví dụ:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/Con thuyền xuôi mái nước song song/Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/Củi một cành khô lạc mấy dòng  
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều/Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/Sông dài, trời rộng, bến cô liêu  
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng/Mênh mông không một chuyến đò ngang/Không cầu gợi chút niềm thân mật/Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc /Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa/Làng quê dờn dợn vời con nước/Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Có một dạo, Huy Cận viết thơ vui. Thật lạ, thơ vui của ông đọc cũng rất hay: "Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm"

  Dương Kỳ Anh

Lời tựa tập thơ: "Ở giữa chông chênh"

Trong cuộc đời, đôi khi ta cảm thấy lòng mình bỗng dưng trống trải, chợt buồn vui mênh mang… Phải chăng những cảm xúc vô hình ấy là sự tiếp nối trong vòng xoay giữa tồn tại và hư vô, giữa thực và ảo của cái tôi, cái cảm giác sống?
Bìa dự kiến xuất bản 


Cảm giác sống, không chỉ là tính hiện thực của tồn tại người, mà còn là sự giao thoa giữa một bên là những mong muốn được thể hiện, được thỏa mãn bản năng sống của cái tôi với cái bên kia của sự đối lập là các định chế xã hội luôn phản ánh sự xung đột trong cái tôi.
Theo nghĩa đó, cảm giác sống là sự biểu hiện những giấc mơ đời ở những cung bậc cảm xúc khác nhau của cuộc sống, của sự lựa chọn theo nguyên tắc khoái cảm. Chẳng thế, nhà Phân tâm học người Áo, - Phơrớt đã có một nhận xét xác đáng về giấc mơ khi ông cho rằng: “Giấc mơ như một sự thỏa hiệp giữa những yêu cầu của cái bản năng bị dồn nén với sự kháng cự lại của một sức mạnh kiểm duyệt trong cái tôi”. Chính vì vậy, lý trí thường bị gục ngã một cách không tự giác trước sự cám dỗ của tính dục và khi tính dục đạt được khoái cảm nó sẽ thức tỉnh lý trí của con người. Đó cũng là khi con người chợt cảm nhận được cái gì đó chông chênh hoặc trôi nổi ở giữa chông chênh của dòng đời:

Làm thầy
đôi khi cũng khó
Khi không gặp cảnh trớ trêu
Khi học trò cảm nắng ngỏ “lời yêu”
Sự ngưỡng mộ - thầy hóa thành “thần tượng”.
                                                     (Cảm nắng)
Đâu đó, trong cuộc đời ta vô tình nhầm lẫn thật dễ thương giữa người đã yêu hoặc mới quen rồi chợt bừng tỉnh trong cơn mê khi hạnh phúc nỡ bỏ quên trong ngăn kéo của thời gian:

Em xin giọt đắng tình yêu,
Lãng quên nhầm gởi một người mới quen!
                                                    (Lãng quên)
Như thế, ta cũng thường cảm nhận mơ hồ về một cái gì đó đã, đang và sẽ mất… để rồi khi ngồi một mình chợt cảm thấy bâng khuâng của hoài niệm và hy vọng. Hy vọng thật mỏng manh như làn gió heo may tím biếc của nàng thơ:

Ta không nhau
anh sẽ tựa vào thơ
Viết tiếp bản tình ca dang dở
Ô cửa sổ gió heo may lặng lẽ
Thả vào thơ tím biếc giọt ngu ngơ.
                                                 (Ta không nhau)
Ở giữa chông chênh, ký ức, dòng chảy thời gian trong số phận mỗi con người khi thầm lặng, yên bình lúc cuộn trào thác lũ, tựa như tiếng nói thầm kín của tâm hồn trong hành trình cuộc đời mà mấy ai bày tỏ? Đôi khi được bày tỏ có thể là những tiếng thở dài khôn nguôi của sự nuối tiếc, nhưng có thể lại là ngọn lửa lòng thổn thức bởi khoái cảm của sự thăng hoa đang loay hoay khi con tim nằm ngược:

Làm thơ về em,
Như kẻ nô tỳ bỗng dưng ngoan ngoãn.
Nụ hôn loay hoay con tim nằm ngược,
Còn những câu thơ ở giữa chông chênh.
                                                  (Ở giữa chông chênh)

Sài Gòn một ngày tháng năm, 2014 - Đào Duy Thanh



Thứ Hai, ngày 08 tháng 9 năm 2014

Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam

Xác ướp có một vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển nền văn hóa của nhân loại bởi chúng thể hiện trình độ phát triển của một nền văn minh, cũng như chứa đựng rất nhiều thông tin có giá trị truyền lại cho hậu thế.  
Xác ướp bà phi dòng họ Trịnh
Ngôi mộ chứa xác ướp này bắt đầu được các nhà khảo cổ nghiên cứu từ năm 1957 tại tỉnh Thanh Hóa. Trước đó, mộ đã bị người dân địa phương đào, xác ướp bị đưa ra khỏi quan tài, vùi lấp tạm bợ giữa đồng ba ngày rồi chôn lại trong quan tài ngập nước gần một tháng.
Khi các nhà khảo cổ tiếp cận, xác ướp vẫn còn nguyên vẹn và bốc mùi dầu thơm. Sau đó, xác ướp được tắm lại bằng nước sạch năm lần vẫn không hết mùi thơm. Bộ xiêm y của xác ướp còn rất tốt dù đã bị người đào phá rách.
Bia mộ đề thời gian chôn cất thuộc niên hiệu Vĩnh Trị (1676 – 1680). Quan tài chứa xác ướp được đóng bằng gỗ ngọc am. Những hiện vật còn sót lại là sáu chiếc áo gấm thêu kim tuyến. Xác ướp được các chuyên gia xác định là một bà phi thuộc dòng họ Trịnh.
Điểm đặc biệt của ngôi mộ này là dấu vết của dung dịch bảo quản xác lan tỏa ra ngoài khiến vùng đất quanh mộ nhiễm mùi thơm một thời gian dài mới hết.
Xác ướp vua Lê Dụ Tông
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 1
Các chuyên gia xem xét xác ướp vua Lê Dụ Tông.
Mộ vua Lê Dụ Tông được tìm thấy từ năm 1958, tại thôn Bái Trạch, xã Xuân Giang, huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa. Đến năm 1964, mộ mới được khai quật.
Khi được khai quật, thi hài vua Lê Dụ Tông đã bị đét lại, có màu xám nhạt nhưng sau đó toàn thân chuyển thành màu xám đen. Các khớp xương của nhà vua vẫn còn có thể co duỗi mềm mại và nhiều vùng da thịt vẫn còn đàn hồi. Chất dầu thơm ngấm vào da, và qua da vào các tạng nên sực mùi thơm.
Quan tài của vua Lê Dụ Tông được làm bằng gỗ quý sơn son. Hiện vật gồm chăn bông, vải liệm, áo mặc, giấy bản… đẫm dầu thơm. Những chiếc áo hoàng bào, long bào có thêu nhiều hình rồng năm móng, khăn gấm thêu hình rồng cùng tấm bia đá khắc chữ Lê triều Dụ Tông hoàng đế đã khẳng định thân thế của nhà vua.
Việc tìm thấy xác ướp vua Lê Dụ Tông là một phát hiện chấn động trong ngành khảo cổ và sử học Việt Nam đương thời.
Xác ướp vua Lê Dụ Tông được bảo quản ở tầng hầm Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trong 46 năm và được hoàn táng tại tỉnh Thanh hóa vào tháng 1/2010.
Xác ướp bà Phạm Thị Đằng
Ngôi mộ chứa xác ướp nằm ở một gò đất của thôn Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cuộc khai quật diễn ra trong tháng 11/1968.
Ngôi mộ cổ này xây theo kiểu trong quan ngoài quách, được bảo vệ một cách rất chắc chắn và bí mật. Bên ngoài quan tài là lớp quách dày gần 30cm, được đổ bằng 13 mẻ hợp chất cứng, bền, rất khó phá. Quan tài dày gần 10cm, bằng gỗ ngọc am và gỗ lim ghép lại với nhau.
Tình trạng của xác ướp trong mộ khá hoàn hảo. Đó là người phụ nữ khoảng 60 tuổi, tóc dài chớm hoa râm, làn da toàn thân vẫn trắng mịn, mềm mại, các khớp chân, tay có thể co duỗi dễ dàng. Xác ướp của hốc mắt vẫn còn rõ lòng đen, trắng, hai hàm răng nhuộm đen cũng chưa rụng chiếc nào...
Xác ướp được mặc 35 chiếc áo thụng bằng gấm, lụa, 18 chiếc váy vải, lụa. Các hiện vật khác gồm hàng chục chiếc gối chèn lớn nhỏ, quạt nan giấy, túi trầu bằng gấm thêu với 10 miếng trầu đã têm và 10 miếng cau tươi, túi gấm đựng thuốc lào, khăn lau miệng bằng lụa, mũ lụa.
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 2
Chuỗi hạt trong mộ bà Phạm Thị Đằng.
Điều đặc biệt là trên ngực xác ướp còn được đặt một chuồi tràng hạt kết bằng 101 hạt gỗ đen, và một túi gấm đựng hai quyển Đại tạng kinh và Tu tinh thổ tiệp kinh.
Về sau, xác ướp được xác định là bà Phạm Thị Đằng, phu nhân của quan thượng phụ Đặng Đình Tướng (1649 - 1735).
Xác ướp bà Bùi Thị Khang
Mộ bà Bùi Thị Khang bị bom Mĩ quật lên vào năm 1971 tại gò Lăng Dứa, xã Thượng Lâm, huyện Mỹ Đức, Hà Tây. Cũng như Phạm Thị Đằng, bà Bùi Thị Khang cũng là phu nhân của quan thượng phụ Đặng Đình Tướng.
Thân thế của bà được xác định qua tấm minh tinh (tấm vải rất dài viết chữ Hán cho biết thân phận của người chết) trong quan tài.
Mộ bà Bùi Thị Khang cũng có cấu trúc tương tự mộ bà Phạm Thị Đằng, nhưng xác ướp của bà không được bảo quản tốt bằng, nguyên nhân do nấm mộ của bà Khang bị bom đạn làm nứt vỏ quách.
Những đồ vật táng theo bà Bùi Thị Khang cũng ít hơn bà Đằng, chứng tỏ bà mất lúc Đặng Đình Tướng chưa làm quan lớn. Còn bà Đằng mất vào lúc phu quân của mình đã công thành danh toại lẫy lừng.
Dù bị tổn hại và không có nhiều hiện vật, mộ bà Bùi Thị Khang chính là chìa khóa để giải mả những uẩn khúc xung quanh mộ bà Phạm Thị Đằng, ngôi mộ có xác ướp được bảo toàn hoàn hảo cùng hệ thống hiện vật phong phú.
Xác ướp Đại Tư đồ Nguyễn Bá Khanh
Ngôi mộ cổ được phát hiện vào cuối năm 1982, ở xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hải Dương. Dân làng phát hiện ra ngôi mộ này khi đào mương thoát nước và đã tự ý bật nắp ngôi mộ mà không thông báo cho chính quyền địa phương.
Khi các nhà khảo cổ tiếp cận hiện trường, xác ướp trong ngôi ngôi mộ đã bị oxy hóa, bốc mùi hôi thối.
Ngôi mộ này được xây theo kiểu trong quan ngoài quách, với lớp quách là hợp chất được làm từ vỏ sò đốt cháy trộn với mật đường và xơ giấy bản, quan tài làm bằng gỗ ngọc am.
Xác ướp được mặc 12 lớp áo, để bên ngoài 20 bộ. Số vải dùng để khâm liệm là 500m2. Các hiện vật khác gồm một hộp đựng dầu bằng gỗ và một cái quạt. Tấm minh tinh với 72 chữ có ghi chức danh mạ vàng vẫn còn nguyên.
Danh tính của xác ướp được xác định là Đại Tư đồ, quan Thái giám Nguyễn Bá Khanh mất vào thế kỷ 18, thọ 64 tuổi.
Ngôi mộ này đã làm sáng tỏ nhiều phương diện về phong tục tập quán, nghề cổ truyền, về văn hóa của người Việt thế kỷ 18.
Xác ướp vợ chồng Bá hộ Hạ Quang Quới
Tháng 12/1985, các nhà khảo cổ bắt đầu khai quật một ngôi mộ cổ ở tỉnh Bình Dương. Theo khẩu truyền, đây là mộ của một thương gia nổi tiếng, đã được phong chức Bá hộ vào thời chúa Nguyễn, có tên là Hạ Quang Quới.
Mộ có cấu tạo khá lạ. Quách mộ được đúc bằng hợp chất vững chắc và được chia thành hai khoang rỗng. Bên trong hai khoang quách có hai quan tài được ghép bằng gỗ xẻ và chốt bằng đinh sắt. Nắp thiên có dạng khun tròn, đáy áo quan bằng phẳng có tô lớp vôi bên ngoài.
Xác ướp trong hai quan tài được xác định là một người đàn ông và một người đàn bà, đều đã bị phân hủy khá nặng nề. Trong đó, xác người đàn bà vẫn còn giữ lại được mái tóc màu ngà đỏ. Quần áo mặc trên hai xác ướp cũng bị phân hủy, để lại gần 60 chiếc cúc áo bằng đồng, mã não.
Những hiện vật thu được trong mộ rất phong phú, gồm một chiếc mão có gắn biển mạ vàn, một khuyên màu vàn, một di vật sắt hình móng ngựa, giấy sách, khung gỗ, đồ đồng có nồi, mâm, thau, siêu... Đồ sứ có tô, tách, muỗng, bình trà, bình rượu... Những hiện vật này thể hiện một vị thế và tiềm lực của một thương gia có tiếng trên đất Bình Dương ngày xưa.
Dù xác ướp không còn nguyên vẹn nhưng mộ vợ chồng Bá Hộ Hạ Quang Quới là một mộ song táng hiếm hoi được khai quật ở Việt Nam. Ngôi mộ này chứa đựng nhiều thông tin về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng của miền Nam Việt Nam trong một thời kỳ lịch sử.
Xác ướp bà Nguyễn Thị Hiệu
Ngôi mộ chứa xác ướp được khai quật năm 1994, tại khu vực Xóm Cải, quận 5, TP HCM. Theo lời đồn đại từ xưa, đây là mộ của một nhân vật đặc biệt trong vương triều nhà Nguyễn.
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 3
Xác ướp bà Nguyễn Thị Hiệu.
Mộ được chôn rất sâu, phải mất 40 ngày, 15 thanh niên mới đục đến được đáy quách sâu gần 8m. Vỏ quách kiên cố như tường thành, được làm bằng hợp chất gồm vỏ sò nung, cát, than gỗ và mật ong. Quan tài lớn hơn bình thường, được ghép bằng hai lớp gỗ qu‎ý. Dưới nắp quan tài là hai lớp chiếu cói và một lớp giấy bản dày hơn 5 cm.
Ngập trong chất dầu thơm có màu đỏ, xác ướp được bọc trong chín lớp áo vải, lụa, gấm quý. Đây là một phụ nữ trạc 60 tuổi, tóc cắt ngắn chớm vai, da dẻ mịn màng và hơi có màu đỏ sạm của dầu thơm. Các khớp xương của xác ướp vẫn còn co duỗi rất tốt, da thịt mềm mại, rất ít có dấu hiệu bị phân hủy.
Ngoài các đồ tùy táng thông thường, hiện vật trong mộ có nhiều vàng bạc, trong đó, có một đôi giày bằng vàng. Đây là trường hợp đặc biệt, khác hẳn với hầu hết các xác ướp đã từng khai quật. Đây có thể là lý do khiến huyệt mộ được đào sâu và xây dựng hết sức kiên cố.
Từ tấm minh tinh có dòng chữ Hoàng gia và nhiều hiện vật khác, danh tính người trong mộ dược xác định là bà Nguyễn Thị Hiệu, một nhân vật hoàng thân quốc thích dưới triều vua Gia Long.
Xác ướp bà Nguyễn Thị Hiệu hiện được bảo quản và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP HCM.

Xác ướp ở vườn đào Nhật Tân
Ngôi mộ cổ tại vườn đào Nhật Tân, (Hà Nội) được phát hiện cuối tháng 4/2005. Những người phát hiện ra mộ đã tự ý phá nắp quách, nắp quan khi chưa có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền.
Cấu trúc mộ cổ ở vườn đào gồm ba lớp. Lớp quách hợp chất ngoài cùng dày 1,5 cm làm bằng vôi vữa, mật, nước gạo nếp, giấy bản trộn. Kế tiếp là lớp quách gỗ bọc ngoài quan tài, dày 9 cm. Quan tài đóng bằng gỗ vàng tâm dày 10cm.
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 4
Xác ướp ở vườn đào Nhật Tân.
Xác ướp bên trong quan tài là một người đàn ông khoảng 60 tuổi, còn nguyên vẹn, được bọc trong nhiều lớp vải và ngâm dầu thơm. Xác ướp đã bị những người đào mộ làm xuất lộ trước khi có sự can thiệp của các nhà khảo cổ.
Các hiện vật trong mộ gồm có: gối đầu, gối chèn, đôi hia thêu, 4 áo lụa, 10 áo gấm, 9 áo liệm, hai túi vải (chứa các hiện vật có thể là trầu cau hoặc các vị thuốc). Các hiện vật cho thấy đây là một người giàu có, sống vào cuối thế kỷ 18.
Danh tính của xác ướp không được xác định. Xác ướp đã được liệm, đưa vào quan tài và chôn cất tại nghĩa trang Nhật Tân ngày 7/5/2005.
Theo nhận định của các nhà khảo cổ, đây là một trong số ít mộ có xác ướp và nhiều hiện vật còn nguyên vẹn ở miền Bắc Việt Nam.
Xác ướp Quận công ở Hưng Yên
Cuối năm 2007, doanh nghiệp tư nhân Phúc Nga đã phá hủy một ngôi mộ cổ nằm ở xã Trung Hưng, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, gây nhiều bức xúc trong dư luận.
Theo lời kể của những người tham gia phá mộ, quách của mộ là một khối hợp chất khổng lồ, dày đến nửa mét. Không thể phá bằng cách thủ công nên họ đã dùng khoan máy để phá. Dưới nắp quách nặng hàng chục tấn là một quan tài lớn phủ sơn ta đỏ au. Khi quan tài bật nắp, mùi dầu thơm lan tỏa cả một vùng rộng lớn.
Trong quan tài là xác ướp một cụ ông, còn nguyên vẹn như khi mới chôn, da dẻ mềm mại, hồng hào. Xác ướp được bọc trong nhiều lớp quần áo, chăn gối và ngập trong tinh dầu mầu nâu, đặc sánh.
Những người phá mộ dùng dao, kéo cắt hết quần áo của thi hài ra để tìm châu báu. Xác ướp bị bẻ gập chân, tay, đầu cho vừa với tiểu sành và được chôn ở một mộ mới mà doanh nghiệp Phúc Nga xây sẵn.
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 5
Những đồng tiền cổ chôn theo xác ướp.
Đồ tùy táng trong mộ gồm quần áo, chăn gối, những chiếc hài và hàng trăm đồng tiền cổ… bị những người phá mộ chia nhau và phân tán khắp nơi.
Theo lời kể của một người phá mộ, sâu khi quật mồ ông Quận công, tất cả nhưng người tham gia phá mộ và ông chủ doanh nghiệp Phúc Nga đều không ngủ được, vì cứ nhắm mắt vào là như có người dựng dậy.
Dân địa phương không có tài liệu gì ghi chép về ngôi mộ cổ này. Người dân chỉ được nghe truyền miệng lại rằng, đây là ngôi mộ cổ của một ông Quận công thời Hậu Lê.
Xác ướp được cho là danh tướng Lý Thường Kiệt
Tháng 5/2010, giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam xôn xao về một ngôi mộ được nhiều người tin là nơi an táng của Thái úy L‎ý Thường Kiệt.
Ngôi mộ vốn bị chôn vùi dưới một gò đất tại thôn Ngọc Quỳnh, thị trấn Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên, được người dân địa phương phát hiện vào năm 1979. Khi ấy, cho rằng trong mộ có vàng bạc châu báu, họ quyết định khai quật toàn bộ khu mộ với tâm lý tìm của cải.
Theo lời những người quật mộ kể lại, ngôi mộ là một khối rắn chắc như bê tông, rộng đến ba gian nhà, gồm hàng chục lớp kết thành. Ở bên trong là chiếc quan tài sơn 4 chữ Nho lớn, được người dân tạm dịch là “Đại thị công khanh” hay “Hoạn quan” trên ván quan.
Bên trong quan tài, dưới tấm vải liệm màu mỡ gà là xác ướp của một người đàn ông trong như đang nằm ngủ, đầu đội mũ cánh chuồn, râu tóc còn nguyên. Ban đầu, xác ướp lan tỏa mùi dầu thơm, nhưng sau đó nhanh chóng xạm đi và toả ra mùi xú uế.
Hiện vật kèm theo trong quan tài là 36 chiếc áo có chất liệu như vải lanh. Ngoài ra, còn một chiếc quạt, hai chiếc hộp gỗ đựng chất liệu giống sáp và khoảng 300m vải chèn trong quan tài.
Sau khi đào mộ, người dân địa phương đã dùng cào kéo xác xuống một hồ đất đào sẵn và lấp lại. Đến năm 1998, mộ lại được khai quật lần nữa. Lúc này xác ướp chỉ còn xương sọ và các xương lớn. Phần xương này được xếp vào tiểu và dân làng lập mộ xây cất để thờ cúng.
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 6
Con cháu họ Ngô viếng mộ ở thôn Ngọc Quỳnh vào cuối tháng 5/2010.
Bằng phương pháp tâm linh, những người đứng đầu dòng họ Ngô ở Việt Nam cho rằng ngôi mộ chứa xác ướp trên là mộ của tướng Lý Thường Kiệt (có tên sinh thời là Ngô Tuấn). Tuy nhiên, giới sử học vẫn còn nhiều ý‎ kiến khác nhau về vấn đề này.
Theo giới khảo cổ học, cho đến nay, những mộ táng có chứa xác ướp (thượng gọi là mộ hợp chất) được khai quật ở Việt Nam đều có niên đại ở thời Hậu – Lê và thời Nguyễn. Những ngôi mộ này được kiến tạo rất công phu và tốn kém với quy mô rất đồ sộ, thường dành cho tầng lớp hoàng gia quý tộc, những người giàu có và quyền thế trong xã hội.
Mộ hợp chất có đặc điểm “Trong quan ngoài quách”. Lớp quách bên ngoài được đúc bằng một hỗn hợp gồm nhiều vật liệu khác nhau như vôi sống, vôi tôi, vỏ nghêu sò hay san hô nghiền vụn, cát, chất kết dính như mật, mật đường, mật ong, nhựa dây tơ hồng, ô dước, giấy gió, than hoạt tính… tạo nên một lớp bảo vệ kiên cố, không thấm nước. Các quan tài được đóng bằng gỗ quý, thường được ghép mộng, riêng ván thiên được đóng đinh rất chắc chắn.
Trong các mộ thường có một tấm ván 7 lỗ, được gọi là ván thất tinh. Dưới chiếc ván này thường được rải chè hoặc gạo rang. Phía trên ván thất tinh là thi hài. Các xác ướp thường được mặc rất nhiều lớp áo và chèn gối, vải xung quanh. Dưới tấm ván thiên thường phủ một tấm vải liệm thêu kim tuyến tên, tuổi và chức danh người chết, gọi là tấm minh tinh.
Các xác ướp được khai quật đều sũng một loại dầu thơm, là dung dịch bảo quản xác ướp của người xưa. Nhiều ý kiến cho rằng loại dầu này chính là tinh chất gỗ ngọc am mà người Trung Quốc gọi là san mộc.
Khi mới bật ván thiên các xác ướp đều có màu của da người tái nhợt và toả mùi dầu thơm. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau xác chuyển sang màu đen sạm, mùi thơm cũng ấy biến mất, nhường chỗ cho một thứ mùi cực kỳ kinh khủng. Đây được coi là một hiện tượng bình thường của quá trình oxy hoá.
Dù phần lớn xác ướp tìm thấy đều là quan lại, vua chúa hay người giàu có nhưng thường chỉ chôn theo những đồ dùng rất đơn giản, không có chứa vàng bạc, châu báu hay các đồ tuỳ táng có giá trị vật chất cao.

Trước khi khai quật mộ, các nhà khảo cổ thường thực hiện các thủ tục tâm linh một cách cẩn trọng và thành kính.
  • Theo Đất Việt