Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Tư, ngày 30 tháng 7 năm 2014

Những hiện tượng lạ lùng xảy ra khi ngủ

Giấc ngủ thỉnh thoảng đi kèm với những hiện tượng lạ lùng như mộng du, nói mơ, cơ thể tê liệt hay thậm chí là quan hệ tình dục khiến không ít người bối rối.Nếu may mắn, bạn sẽ trải qua một đêm yên bình với giấc ngủ không mộng mị. Không ít trường hợp mọi người tỉnh giấc với cảm giác lúng túng xen chút hoảng loạn vì những gì xảy ra trong giấc ngủ đêm qua thật chẳng bình thường.
Bạn không nên lo lắng quá nhiều vì những trải nghiệm đó tuy hơi điên rồ nhưng không quá bất thường như bạn nghĩ. Dưới đây là một số hiện tượng và lời lý giải của tiến sĩ W. Christopher Winter, cố vấn giấc ngủ nam giới, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu giấc ngủ Bệnh viện Martha Jefferson, Mỹ.
1. Cảm giác rơi tự do
Co giật cơ có thể xảy ra sau một ngày làm việc căng thẳng, quá sức hoặc do thiếu ngủ. Ảnh: au.lifestyle
Co giật cơ có thể xảy ra sau một ngày làm việc căng thẳng, quá sức hoặc do thiếu ngủ. Ảnh: au.lifestyle.
Hiện tượng này còn được biết đến với tên gọi "giật cơ lúc ngủ" (hypn jerk). Thông thường khi mơ, cơ bắp sẽ tạm thời bị tê liệt để kiểm soát các hành động trong giấc mơ. Nhưng cũng có lúc giấc mơ đến nhanh, trước khi cơ thể kịp kích hoạt trạng thái này.
Tiến sĩ Winter cho rằng điều này lý giải cho cảm giác như đang rơi khỏi vách đá hay vấp ngã khiến bạn giật mình và tỉnh giấc. Nguyên nhân chắc chắn của hiện tượng này vẫn chưa ngã ngũ, song các nhà nghiên cứu nhận định rằng nó có thể xảy ra sau một ngày làm việc căng thẳng, quá sức hoặc do thiếu ngủ. Khi đó, não gấp rút đi vào giấc ngủ trong khi cơ thể chưa bắt nhịp kịp.
2. Cơ thể tê cứng
Thỉnh thoảng một số người trong chúng ta hốt hoảng khi buổi sáng tỉnh giấc không thể cử động chân tay hoặc tệ hơn là không thể nói. Nhiều người còn cảm thấy không thở nổi và mô tả cảm giác này hệt như một con voi đang ngồi lên ngực mình. 
Hiện tượng khiến nhiều người hoảng loạn này có thể kéo dài từ vài giây tới vài phút. Cơ chế của nó trái ngược với giật cơ khi ngủ được đề cập ở trên, xảy ra khi não bộ thức dậy trước khi tình trạng cơ bắp tê liệt đi kèm với giấc ngủ sâu kết thúc nhiệm vụ của mình.  
3. Mộng du
Hầu hết hành vi liên quan tới giấc ngủ là vô hại nhưng mộng du không được tính đến trong số đó bởi nó khá nguy hiểm, đặc biệt khi người mộng du di chuyển hoặc lái xe trong vô thức.
“Khi mộng du, bạn đang ra khỏi giấc ngủ ở mức vừa đủ để cơ thể hoạt động trở lại nhưng lại chưa đủ cho não tỉnh táo”, tiến sĩ Winter cho biết. Điều này lý giải vì sao chẳng ai nhớ được gì về chuyến “du ngoạn” lúc nửa đêm của mình sau khi tỉnh dậy.
Mộng du là hiện tượng khá nguy hiểm do con người di chuyển hoặc thậm chí lái xe trong vô thức. Ảnh: the guardian.com
Mộng du là hiện tượng khá nguy hiểm do con người di chuyển hoặc thậm chí lái xe trong vô thức. Ảnh: the guardian.com.
Ngoài ra, một số loại thuốc ngủ có thể gây tác dụng phụ kỳ quặc như nấu nướng, lái xe hay thậm chí chè chén ngay trong lúc đang mộng du. Khi đó, dù bạn có thức dậy vào ban đêm nhưng tác dụng của thuốc vẫn còn ảnh hưởng tới não bộ khiến các hành động được thực hiện một cách vô thức.
Do vậy tiến sĩ Winter khuyến cáo người dùng thuốc nếu gặp phải hiện tượng này nên gặp bác sĩ để được tư vấn kịp thời.
4. Nói mơ khi ngủ
Khoảng 5% người trưởng thành nói lơ mơ khi ngủ là thống kê của Viện hàn lâm nghiên cứu giấc ngủ Mỹ. Trung bình hầu hết những lời tâm tình bên gối vô thức này chỉ kéo dài khoảng 30 giây.
“Thường hiện tượng nói mơ diễn ra trong vòng 1-2 giờ đầu của giấc ngủ. Đây là giai đoạn cơ thể đang bắt đầu đi vào giấc ngủ sâu, nhưng các cơ vẫn còn lực để sinh ra âm thanh hoặc cử động đi kèm giấc mơ”, tiến sĩ Winter cho hay.
5. Giấc mơ trở đi trở lại
Giấc mơ là cách não bộ sắp xếp những điều cần đánh giá lại và xử lý trước khi lưu trữ lại bằng ký ức. Giấc mơ lặp đi lặp lại nhiều lần có thể xảy ra với nhiều vấn đề tâm lý chưa được giải quyết mà não vẫn đang cố gắng phân loại.
Theo tiến sĩ Winter, thông thường các giấc mơ loại này dựa vào một phần thực tế. Vậy nên nếu bạn bị cướp khi mua sắm, giấc mơ này sẽ lặp lại nhiều lần cho tới khi bạn có thể hiểu được và chấp nhận. Ngược lại, nếu chỉ tới cửa hàng để mua sữa, bánh mì, não sẽ xử lý ngay và sẽ chẳng có mộng mị nào ám ảnh bạn hàng đêm.
Giấc mơ lặp đi lặp lại nhiều lần có thể xảy ra với nhiều vấn đề tâm lý chưa được giải quyết mà não vẫn đang cố gắng phân loại. Ảnh: mo-am.com
Giấc mơ lặp đi lặp lại nhiều lần có thể xảy ra với nhiều vấn đề tâm lý chưa được giải quyết mà não vẫn đang cố gắng phân loại. Ảnh: mo-am.com
6. Sex trong khi ngủ
Bạn không nên quá sợ hãi hay mặc cảm tội lỗi nếu tỉnh giấc và thấy cuộc yêu đang nửa chừng. Trong một nghiên cứu của ĐH Toronto (Canada) trên 800 bệnh nhân tại Trung tâm rối loạn giấc ngủ, 8% thừa nhận mình có những hành vi liên quan tới hội chứng sex trong khi ngủ (sexmonia). Đây được xem là một dạng rối loạn giấc ngủ với biểu hiện là có hành vi “yêu” trong lúc ngủ. 
“Trong quan sát của tôi, những hành vi, lời nói… đi kèm với hiện tượng này của bệnh nhân thường rất khác biệt so với lúc họ hoàn toàn tỉnh táo”, tiến sĩ Winter trình bày.
Là một hiện tượng cận giấc ngủ, sex trong khi ngủ có điểm tương đồng với mộng du khi cơ thể đang dần rời khỏi giấc ngủ sâu đủ để cử động và có thể nói chuyện được nhưng não bộ chưa hoàn toàn tỉnh táo.
“Nhiều người chỉ loáng thoáng nhớ về những gì đã xảy ra hay tỉnh dậy khi mọi việc đang dang dở. Điều này có thể xảy ra khi bạn có mong muốn được thỏa mãn hay đi ngủ với ham muốn mạnh mẽ”, tiến sĩ Winter giải thích.
Khánh Hà (Theo Men’s Health)

Thứ Ba, ngày 29 tháng 7 năm 2014

Bùi Giáng và mối tình si suốt 40 năm với "Kỳ nữ" Kim Cương

Đăng Bởi -

Bùi Giáng và mối tình si suốt 40 năm với "Kỳ nữ" Kim Cương
Nhiều người cho rằng chính vì yêu "Kỳ nữ" Kim Cương mà thi sĩ nổi tiếng Bùi Giáng bị điên tình. Dù không muốn nói về mối tình "đơn phương" này nữa, nhưng NSND Kim Cương vẫn khẳng định: "Bùi Giáng là một người rất đặc biệt, vì thế mà tình cảm của anh ấy cũng không giống ai”.
Đạp xe cầu hôn người đẹp
Có lẽ suốt cuộc đời của thi sĩ Bùi Giáng, ngoài chuyện văn chương ra thì mối tình đơn phương suốt 40 năm có lẻ với nghệ sĩ Kim Cương là kỳ lạ và cảm động nhất. Biết Bùi Giáng từ khi mới 19 tuổi, nghệ sĩ Kim Cương khi ấy đã được mệnh danh là bậc "kỳ nữ". Bùi Giáng chú ý đến bà trong đám cưới của đôi bạn thân, rồi ngỏ ý muốn tới thăm nhà người mình ái mộ.
Bùi Giáng khi ấy là thầy giáo dạy học, áo quần chải chuốt tươm tất và chưa… điên! Ông mời Kim Cương lên xe đạp ông chở đi chơi, rồi ngỏ lời cầu hôn nhưng người đẹp đều né tránh bởi sau vài lần tiếp xúc, bà thấy ở ông toát lên cái gì đó "kỳ dị", bất bình thường nên sợ!
Đeo đuổi mãi không được, Bùi Giáng thở dài nói: "Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô (Bùi Giáng lớn hơn Kim Cương hơn chục tuổi), vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi". Kim Cương ngần ngừ: "Thưa anh, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵng tính…" Mặc ý người đẹp muốn khéo léo chối từ, Bùi Giáng vẫn một mực dẫn đứa cháu tới. Kim Cương hết hồn: "Thôi rồi ổng đúng là không bình thường!" khi nhìn thấy đứa cháu mới hơn… 8 tuổi!
Từ đó, mỗi năm Bùi Giáng bệnh nặng hơn. Ông không có vợ con, suốt ngày đi lang thang, ngoài chùa chiền thì sau mỗi cơn say lại tìm đến nhà Kim Cương. Thời điểm ấy, con trai nghệ sĩ đã 5 tuổi thấy thi sĩ đầu bù tóc rối trên người lủng lẳng đủ thứ nào ống bơ, cờ quạt, vòng hoa… đôi khi treo cả nải chuối trước ngực thì cười khoe với mẹ: "Mẹ ơi, sao bác này giống cái xe hoa quá?".
Nếu người đẹp không mở cửa, thi sĩ sẽ la hét, đập cửa khiến hàng xóm náo động. Buồn bực mãi rồi quen, rồi động lòng thương xót, nghệ sĩ Kim Cương nhiều lần lo cho gia cảnh cù bất cù bơ: "Sợ ổng chết. Tướng tá vầy có thể chết bất cứ lúc nào. Mà điều, không nỡ bỏ ổng lăn lóc ngoài đường, thấy tội quá".
Cách đây chưa lâu, khi ngỏ chuyện cùng tôi, nghệ sĩ Kim Cương mắt ngân ngấn lệ: "Cô biết không, có lần tôi đã hỏi cố nhân: Vì sao mà anh thương Kim Cương dữ như vậy?, ổng đáp: Vì lúc gặp cô trong tiệc cưới, cô mặc cái áo dài lụa trắng, tôi thấy hào quang chiếu ra cho tới bây giờ. Đó là lúc tôi 19 tuổi".


Nghệ sĩ Kim Cương thời trẻ 
Điên vì say đắm
NSND Kim Cương còn giữ rất nhiều bài thơ, hình ảnh của thi sĩ viết tặng riêng bà nhưng từ lâu bà từ chối mọi lời yêu cầu của các tờ báo, nhà xuất bản xin được phát hành, đặc biệt sau khi Bùi Giáng vừa qua đời.
Ngoài những vần thơ mượt mà, Bùi thi sĩ còn dùng cách biểu đạt dị kỳ để thể hiện nỗi "ám ảnh dị thường" của hình bóng Kim Cương đang ngự trị trong tâm trí ông: "Ngàn năm điêu đứng đọa đày/ Thiên thu sử lịch cau mày về sau/ Thưa em đời mộng dạt dào/ Tình yêu vô tận yêu đào vô biên".
Cả đời Bùi Giáng chỉ nhớ mỗi số điện thoại nhà Kim Cương, khi ông làm náo loạn trật tự, bị công an "hỏi thăm" cũng chỉ biết đọc lên số điện thoại này; lúc bị ngã xe vào cấp cứu bệnh viên, tỉnh lại cũng mang số điện thoại ra để trả lời bác sĩ.
Cầm trong tay những kỷ vật của thi nhân, nghệ sĩ Kim Cương bùi ngùi nhớ lại: "Hình như kiếp trước tôi có nợ gì với ổng… Năm nào cũng vậy, sáng mùng một Tết là ổng đến xông đất. Ổng tuy điên, nhưng mà là cái điên của người trí thức, nói nhiều câu rất sâu sắc”.
Có lần Kim Cương tặng Bùi Giáng một cặp kính lão, nhưng sau đó ông bị người ta đánh vỡ mất một tròng kính. Kim Cương dỗ: “Để tôi mua kính mới cho anh nha!”. Ông lắc đầu: “Thôi khỏi, nhìn đời bằng một con mắt là đủ rồi”. Hệt như câu thơ ông viết “Bây giờ riêng đối diện tôi/ Còn hai con mắt khóc người một con”.
Một ngày tháng 8.1998, Bùi Giáng bị ngã gây chấn thương sọ não, Kim Cương là người đầu tiên được gia đình báo đến Bệnh viện Chợ Rẫy. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Kim Cương thấy Bùi Giáng sạch sẽ nhất: Râu tóc gọn ghẽ quần áo phẳng phiu… Kim Cương cũng đồng ý cho phẫu thuật dẫu rằng hy vọng rất mong manh. Và rồi Bùi Giáng đã trút hơi thở cuối cùng. Khoảng nửa tháng trước đó, ông đã viết cho Kim Cương những vần thơ như một lời báo trước: “Ông đi đau xiết vui buồn/ Một mình ở lại muôn trùng em yêu”.
Bên linh cữu Bùi Giáng trước khi hạ huyệt, Kim Cương thưa rằng: “Tôi xin cảm ơn anh ba điều: Một là cảm ơn anh đã để lại cho đời những tác phẩm văn chương độc đáo. Thứ hai là cảm ơn anh đã dành cho tôi một tình yêu suốt hơn 40 năm không suy suyển, không so đo tính toán. Thứ ba là cảm ơn anh đã cho tôi bài học rằng dù bất cứ ai dẫu điên hay tỉnh, giàu hay nghèo… đều phải có một mối tình để nương tựa”.
  • (Theo Gia Đình)

Thứ Hai, ngày 28 tháng 7 năm 2014

Nguồn gốc tháng cô hồn và những điều cấm kị trong tháng 7

Trong tháng 7 âm lịch, cửa địa ngục mở ra, giải phóng cho ma quỷ. Với người miền Bắc chủ yếu được coi là ngày xá tội vong nhân, còn với người miền Nam lại có ý nghĩa chính là Vu lan báo hiếu.
Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ túa ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục. Bởi vậy, vào đêm 14/7, người ta thường đốt nến, hóa vàng bạc hoặc giết gà vịt cúng quỷ đói để cầu được bình an và những điều tốt đẹp, không bị ma quỷ hại phá, đó chính là nguồn gốc của tên gọi Tết Quỷ. 
Ở Việt Nam, rằm tháng bảy với người miền Bắc chủ yếu được coi là ngày xá tội vong nhân, còn với người miền Nam lại có ý nghĩa chính là Vu lan báo hiếu. Tuy cùng một ngày nhưng hai lễ này mang ý nghĩa khác nhau.

Ngày xá tội vong nhân 
Xá tội vong nhân trong quan niệm của Đạo giáo dựa trên truyền thuyết cho rằng, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở cửa địa ngục – Quỷ môn quan - từ ngày 2/7 để ma quỷ được trở lại cõi trần, và đến rằm tháng 7 thì tất cả ma quỷ đều phải trở về, cửa địa ngục đóng lại.
Trong dân gian Việt Nam, các quan niệm, truyền thuyết của Phật giáo và Đạo giáo hòa lẫn với nhau. Vì vậy, người ta không chỉ đề phòng ma quỷ trong ngày rằm tháng 7 mà gần như suốt nửa đầu tháng, nên tháng 7 được gọi là tháng cô hồn. Họ cho rằng đây là tháng quỷ ma đầy đường nên con người hay gặp chuyện đen đủi.
Theo truyền thuyết, một đại đệ tử của Phật là đức A Nan Đà một buổi tối đang ngồi trong tịnh thì thấy một con ngạ quỷ người gầy quắt, cổ dài, miệng nhả ra lửa bước vào, nói rằng 3 ngày nữa A Nan Đà sẽ chết và cũng trở thành quỷ miệng lửa (diệm khẩu) như nó. Quỷ nói: “Nếu muốn tránh thì ông phải bố thí cho lũ ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc đồ ăn, và cúng dường Tam bảo giúp chúng tôi, để chúng tôi được tái sinh vào cõi trên thì ông cũng được tăng thọ”.
Hình ảnh: Nguồn gốc tháng cô hồn và những điều cấm kị trong tháng 7 số 1
Tôn giả A Nan Đà đem chuyện này nói với đức Phật. Phật bèn làm một bài chú tên là “Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ đà la ni”, đem tụng trong lễ cúng tam bảo để cầu siêu thoát cho quỷ đói miệng lửa. Về sau, dân gian hiểu rộng ra thành lệ cúng và cầu phúc cho vong nhân nói chung, nhất là những cô hồn không có thân nhân cúng tế, phải vật vờ không nơi nương tựa.
Lễ cúng vốn mang tên “phóng diệm khẩu”, tức thả quỷ miệng lửa, dần dần thành xá tội vong nhân – tha tội cho mọi người đã chết.
Ngày lễ Vu Lan báo hiếu
Truyền thuyết về Vu lan liên quan đến tôn giả Mục Kiền Liên, một trong các đại đệ tử của đức Phật Thích Ca, một người sớm đắc quả A La hán thoát khỏi vòng luân hồi. Không còn bị vô minh che mắt, ngài có thể nhìn thấu hàng vạn tiền kiếp của mình cũng như mọi điều trong các cõi. Là một người con chí hiếu, đức Mục Kiền Liên muốn nhìn xem người mẹ đã khuất của mình bây giờ đang ở cảnh giới nào.
Thế nhưng tuy đã tìm ở nhiều tầng địa ngục, Mục Kiền Liên vẫn chưa thấy mẹ. Chỉ đến khi soi thiên nhãn đến tầng ngục sâu nhất, dành cho những người sinh thời phạm những tội ác ghê gớm nhất, ngài mới thấy mẹ mình đang bị đày đọa ở đó trong hình hài của ngạ quỷ (quỷ đói) với hình dạng quỷ đói hết sức đáng sợ: bụng to như núi, mà cổ họng chỉ nhỏ như cây kim, không thể ăn uống gì được, thân thể hai người chỉ còn da bọc xương mà thôi.
Mục Kiền Liên thấy vậy vô cùng đau xót bèn cầm một bát thức ăn dùng thần lực mang xuống âm phủ cho mẹ, nhưng thức ăn vừa đưa sát miệng liền hoá thành tro bụi.
Mục Kiền Liên dù tu hành đắc đạo, nhiều phép thần thông nhưng chẳng thể làm gì giúp người mẹ đang phải trả giá cho tội lỗi của mình. Ngài bèn trở về cầu cứu Phật Thích Ca.
Đức Phật nói: “Cha mẹ ngươi thời còn sống đạ tạo ra vô số tội lỗi, cho nên sau khi chết phải bị đoạ vào địa ngục làm quỷ đói để chịu quả báo, một mình ngươi không thể đủ sức cầu độ cho họ được, mà phải dựa vào uy lực của tăng chúng mười phương mới mong giải thoát nổi. Vào ngày rằm từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm, tất cả tăng chúng đều cùng tụ họp tinh tiến tu hành, đến ngày rằm tháng 7 thì kết thúc và trong ngày này sẽ có nhiều tăng chúng đắc chánh quả.
Ngày ấy, nếu ngươi muốn cứu song thân khỏi khổ quỷ đói, phải cúng dường cơm chay cho tăng chúng, như vậy công đức rất lớn, không những việc làm đó có thể giải thoát cho song thân ngươi khỏi khổ quỷ đói, mà thậm chí còn có thể khiến 7 kiếp của song thân người còn được hưởng phúc trên trời. Giá như cha mẹ ngươi còn tại thế, thì việc cầu cúng ấy cũng có thể khiến họ được thêm phúc đức và trường thọ”.
Mục Kiền Liên làm theo, quả nhiên bà mẹ được siêu thăng. Phật dạy, những người khác muốn báo hiếu cho cha mẹ đã khuất cũng có thể làm theo cách này. Từ đó, ngày rằm tháng 7 trở thành ngày lễ Vu lan (từ gốc tiếng Phạn là Ullambana, nghĩa là giải thoát khỏi sự khốn khổ vì bị treo ngược, ý nói cảnh đọa đày của mẹ Mục Kiền Liên).
Để người thân đã khuất giảm tội nghiệt và hưởng phúc lành, nhiều gia đình mời tăng sĩ về nhà lập đàn cầu siêu rất linh đình. Tuy nhiên theo kinh Địa Tạng, lợi ích của việc này có 7 phần thì 6 phần là cho người sống, chỉ 1 phần cho người chết. Việc người chết hưởng phúc hay chịu khổ vẫn tùy thuộc chủ yếu vào việc họ làm lúc sinh thời.
Ngoài ra, nếu chỉ ỷ lại cho tăng ni đọc kinh hộ thì cũng ít tác dụng nếu như người nhà không làm các việc thiện, kiểu như làm công đức hộ cho người chết, thì việc đọc kinh cũng đem lại ít kết quả. Nếu họ làm được nhiều việc thiện thì cũng không nhất thiết mời tăng ni về tụng kinh, bởi bản thân những việc thiện đó sẽ được hồi hướng cho người chết, hóa giải một phần nghiệp chướng của họ.
Trong tháng cô hồn, ngoài việc sắm lễ cúng, người ta còn truyền tai nhau rất nhiều điều nên kiêng kỵ trong "tháng cô hồn" này.
18 điều cấm kỵ được lan truyền
1. Không treo chuông gió ở đầu giường vì tiếng chuông sẽ thu hút sự chú ý của ma quỷ, khi ngủ sẽ dễ bị chúng xâm nhập quấy phá.
2. Người yếu bóng vía không nên đi chơi đêm vào tháng này, nếu không sẽ dễ gặp điều không may.
3. Không được nhổ lông chân vào ngày này, vì dân gian cho rằng “một sợi lông chân quản ba con quỷ”, người càng có nhiều lông chân thì ma quỷ càng ít dám đến gần.
4. Không tùy tiện đốt giấy, vàng mã vì như vậy sẽ khiến ma quỷ bu đến.
5. Không ăn vụng đồ cúng, vì đó là đồ dành cho ma quỷ, nếu chưa cúng và cầu xin mà lấy ăn sẽ rước tai hoạ vào mình.
6. Không phơi quần áo vào ban đêm, vì ma quỷ trông thấy sẽ “mượn” và để lại “quỷ khí” trong các quần áo ấy.
7. Những người khi đi chơi đêm không được réo gọi tên nhau, nếu không ma quỷ sẽ ghi nhớ tên người được gọi, đó là điềm xấu.
8. Không nên bơi lội, vì ma quỷ sẽ cùng đùa với bạn, nếu không cẩn thận, bạn sẽ bị chúng làm trẹo chân.
9. Không hù doạ người khác khiến họ giật mình “hồn bay phách lạc”, dễ bị ma quỷ xâm nhập.
10. Cây đa trước nhà là nơi hội tụ âm khí, ma quỷ rất thích những chỗ như vậy, cho nên kỵ đứng, ngồi, nằm, trốn… ở đó.
11. Không nên thức quá khuya, vì như vậy tinh thần sẽ hao tổn suy nhược, dễ nhiễm “quỷ khí”.
12. Nơi góc tường xó tối là những chỗ ma quỷ thường tụ tập nghỉ ngơi, không nên đến gần những chỗ ấy.
13. Không nhặt tiền bạc rơi vãi trên đường, vì có thể đó là tiền người ta cúng mua chuộc bọn quỷ đầu trâu mặt ngựa, nếu người nào phạm kỵ, sẽ gặp tai hoạ không chừng.
14. Khi đi đến qua những nơi vắng vẻ, không ngoái cổ quay đầu nhìn lại phía sau, dù có cảm giác hình như có người đang đi theo mình hoặc gọi tên mình. Vì đó có thể do ma quỷ trêu chọc.
15. Khi lên giường ngủ không để mũi dép hướng về phía giường, nếu không ma quỷ nhìn thấy sẽ đoán rằng có người sống đang nằm trên giường và chúng sẽ lên giường ngủ chung với bạn.
16. Không cắm đũa đứng giữa bát cơm, vì đó là hình thức cúng tế, cũng giống như kiểu thắp hương, dễ dẫn dụ ma quỷ vào nhà ăn chung.
17. Không nên ở một mình trong thời gian này, nếu không sẽ dễ bị ma quỷ dẫn dắt hoặc quấy phá.
18. Không chụp ảnh vào ban đêm, bởi ma quỷ luôn lảng vảng chung quanh đó sẽ “vô hình” vào ảnh chung với người sống, đó là điều không tốt.

13 điều nên làm
1. Làm lễ cúng các cô hồn vào bất cứ ngày nào trong tháng, nếu vào ngày mùng 2 hoặc 16 âm lịch thì càng tốt để tỏ lòng thành chính mình.
2. Thăm mộ phần của người thân trong gia đình ở ngoài nghĩa địa hay trong trong chùa chiền, nơi lưu giữ các hũ hài cốt. Vì trong tháng cô hồn còn gọi là Tết của những người Âm.
3. Trước khi dọn đồ ra cúng cô hồn, nếu chưa kịp thắp nhang khấn vái mà có những người tranh nhau giật các đồ cúng từ trên tay bạn thì ngay lập tức nên buông thả đồ cúng ra khỏi tay. Nếu bạn giật lại thì hậu quả nhận được là những điều tệ hại. Nếu khi bạn chưa làm lễ cúng mà đã có người chầu chực để giật có nghĩa là tín hiệu tốt.
4. Nên hạn chế sát sinh các con vật.
5. Nên cúng xe ô tô dù có kinh doanh hay không kinh doanh.
6. Nên ăn chay để tránh điềm dữ.
7. Nên làm phúc thiện mạnh mẽ trong tháng này.
8. Nếu biết tụng kinh thì nên trì tụng (Chú Đại bi, chuẩn đề, vu lan báo hiếu, Địa tạng).
9. Nên ăn nói nhã nhặn, vui vẻ trong gia đình hay trong bạn bè đối tác.
10. Nên tránh xa các cuộc xung đột.
11. Nên cứu người khi gặp nguy cấp.
12. Nên đi chùa chiền thắp nhang cầu xin sức khỏe, cầu siêu…
13. Khi các bạn cúng cô hồn xong thì 1 ngày sau đó hoặc cuối tháng 7 nên dùng bột trừ tà ma tiêu khử, tránh trường hợp các âm hương linh phảng phất vào nhà mình tụ ở lại. Đồng thời vào đầu tháng 8 âm lịch thì nên dùng bột tẩy uế mà tẩy hoàn toàn trong căn nhà mình để có tác dụng cân bằng sinh khí trong ngôi nhà mình ở.
Những điều nên làm hay không nên làm trong tháng cô hồn đều là những tín ngưỡng dân gian mà không ai hay một ngành khoa học nào có thể kiểm chứng đúng sai.  Nhưng với quan niệm rằng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” nên người dân vẫn chú trọng làm theo. Hơn nữa, người Việt cho rằng cúng cô hồn là một hành động nhân đạo, mang tính nhân văn cao cả của con người, thể hiện lòng kính trọng, tôn nghiêm của người còn sống đối với người đã khuất, đề cao việc báo hiếu và làm phúc bố thí…

Thứ Ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

Cầu Móng - Cây cầu vắt qua ba thế kỷ



 Trong số những cây cầu cũ xưa còn sót lại ở Sài Gòn, có lẽ Cầu Mống là cây cầu mang hình bóng của một thứ thời gian lắng đọng nhất trong tâm tưởng của rất nhiều người yêu quý thành phố có những cây cầu in vóc dáng của năm tháng đã qua đi trên một dòng sông. 
     Cầu Mống là loại cầu sắt thiết kế kiểu Pháp và do Pháp xây dựng nên in đậm nét “văn hóa cầu” phương Tây, thành cầu uốn cong, có những khoảng trống, sơn đen bắc qua kinh Tàu Hũ nối quận 1 và quận 4 (đất Khánh Hội xưa). Chân cầu phía quận 1 nằm chếch công viên Diên Hồng đối diện đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Công Lý cũ ). Sở dĩ gọi là công viên Diên Hồng vì phía sau đó là Hội trường Diên Hồng mà báo chí trước năm 1975 còn gọi là “Viện Bô Lão” vì đây là trụ sở Thượng Nghị Viện của chế độ cũ. Chân cầu phía quận 4 nằm trên đường Bến Vân Đồn thuộc địa phận phường 12, quận 4.
     Cầu nầy do công ty vận chuyển Hàng hải Pháp Messageries maritimes bỏ vốn mướn công ty xây dựng Levallois Perret (tức Eiffel cũ) xây cất – có thể là trong cùng một giai đoạn với việc xây cất Cầu Quay Khánh Hội – do đó người Pháp cũng gọi cầu nầy là cầu “Công ty Messageries maritimes” (Công ty Đầu Ngựa) và người Việt Nam từ trước tới nay thường gọi là là cầu Móng Vĩnh Hội vì đây có thể là chiếc cầu đầu tiên có trụ móng. Cũng có thể vì hình dáng vòng cung của chiếc cầu giống như chiếc cầu vòng mống trời cho nên người dân bình dị Sài Gòn ngày xưa gọi nó là cầu Mống chăng? Cũng may là chiếc cầu Mống lịch sử nầy cho đến nay vẫn còn sống sót trong khi hình bóng chiếc cầu Quay Khánh Hội của Sài Gòn năm xưa đã không còn nữa.
       Có hai khung đường xe chạy, một để đi lên cầu sang Vĩnh Hội và một để từ cầu phía Bến Vân Đồn/ Vĩnh Hội đi qua để xuống bến Chương Dương . Trước 30 tháng 04 năm 1975, bờ kinh Tàu Hủ ở dưới gầm cầu Mống phía bến Chương Dương là hai khuôn viên ấm cúng, thơ mộng và kính đáo cho những cặp tình nhân trẻ, già đưa nhau xuống đó tình tự ngày cũng như đêm.
       Một điều ít người được biết đến: Cầu Móng là chiếc cầu đầu tiên của công ty Messageries Maritimes xây cất ngang qua con kinh Tàu Hủ và toà nhà Ngân Hàng Quốc Gia của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà (thời Pháp thuộc là Banque de l’Indochine / Ngân Hàng Đông Dương) chỉ mới được xây cất sau khi Cầu Móng đã được sử dụng.

video

Thứ Hai, ngày 21 tháng 7 năm 2014

Trẻ em vùng cao vừa trông em vừa đi học



Thứ năm 17/07/2014 17:46
(VTV Online) -
Tại các tỉnh vùng cao Tây Bắc nói chung và ở huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên nói riêng, hình ảnh các em nhỏ cõng theo em đến lớp học không phải là hiếm gặp, bởi hàng ngày, bố mẹ phải đi rẫy nên các em vừa đi học vừa phải trông em.
Được biết, Sở GD-ĐT tỉnh Điện Biên cũng đã có quy định là học sinh không được mang theo em vào lớp học, nhưng các thầy cô giáo tại đây vẫn đành phải chấp nhận việc này vì nếu không sẽ có nhiều học sinh phải nghỉ học.
Mời quý vị cùng theo dõi phóng sự dưới đây để cảm nhận rõ hơn về tinh thần hiếu học của các em học sinh miền núi!

video

Thứ Ba, ngày 15 tháng 7 năm 2014

"Cấm" nông dân chế tạo lò đốt rác phát điện: Côn đồ khoa học hay côn đồ dư luận

(Tinmoi.vn) Câu chuyện chiếc “lò đốt rác phát điện” do một nông dân chế tạo bị Sở Khoa học Công nghệ Thái Bình cấm hoạt động đã gây “sóng” trong dư luận. Một blogger có tiếng thậm chí đã gọi xem việc cấm đoán này là “côn đồ khoa học”. Tinmoi/Nguoiduatin đã tìm hiểu nội tình vụ việc.
Lò đốt rác tạo ra điện đủ cho 20 hộ gia đình ?
Chủ nhân của lò phát điện trên là ông Bùi Xuân Kiên (trú tại Thái Thụy, trình độ học vấn lớp 4, nghề nghiệp nông dân). Ông chia sẻ, đã có ý tưởng sản xuất một “nhà máy điện” từ lâu. Để thực hiện ước mơ, ông mất 6 năm dành dụm số tiền 100 triệu đồng, đi các nhà máy nhiệt điện ở Lạng Sơn, Quảng Ninh… tham quan, mua sách về tự học hỏi kiến thức.
Cuối cùng, ông ra ở một ngôi nhà hoang gần chợ vì nơi đó có nhiều rác thải để làm nguyên liệu cho lò “nhiệt điện” của mình.
Theo ông Kiên mô tả: Lò đốt này được thiết kế gồm 2 cửa. Cửa trên là lò đốt chính, cửa dưới có tác dụng hỗ trợ. Khi đưa rác vào lò, nhiệt độ đốt rác bao giờ cũng phải được đảm bảo ở mức cao từ 1.600 - 2.000 độ C.
Hình ảnh Cấm nông dân chế tạo lò đốt rác phát điện: Côn đồ khoa học hay côn đồ dư luận số 1
Ông Bùi Xuân Kiên và chiếc lò phát điện của mình (Ảnh: sưu tầm)
Toàn bộ rác thải sẽ được đốt sạch tới mức không còn tro than. Nhiệt độ này đảm bảo cho lượng hơi nước bay hơi nhanh trong nồi hơi, tạo nên áp lực làm quay tua-bin. Hơi nước đó được tuần hoàn và quay về bể ngưng.
Tại đây, nhiệt độ nước khoảng 90 độ C. Với lượng nước chờ bốc hơi này, ông Kiên thiết kế một máy bơm khiến nước quay trở lại nồi hơi. Nước sôi và bốc hơi ngay lập tức và đảmbảo nhiệt không hề suy giảm. Nguồn điện được sản sinh ra trong chuỗi tuần hoàn các thao tác vừa rồi và được đấu thẳng vào điện nguồn của hộ gia đình sử dụng.
Cũng theo ông Kiên, lò này có thể biến 1kg rác thành 1,5kW điện, 1kg gỗ sẽ được 4-5kW điện. Với lò đốt rác phát điện này, giá điện sẽ rẻ hơn 80% điện lưới. Ngoài ra, chỉ cần vài người để vận hành lò này,  thậm chí chỉ cần một người.
 "Nếu vận hành hết công suất, một lò phát điện mini có thể cung cấp điện cho 20 hộ dân" - ông Kiên cho biết.
Sở KHCN Thái Bình cấm, người dân bức xúc
Sau khi chế tạo thành công, ông Kiên có mong muốn mời nhà khoa học, cơ quan chức năng về thẩm định để “nhà máy điện” của ông để đưa vào sử dụng.
Tuy nhiên, trái với kỳ vọng, Sở Khoa học Công nghệ Thái Bình đã không cho phép ông Kiên tiếp tục chế tạo, hoàn thiện lò này.
Quyết định này, đã vấp phải sự phải ứng dữ dội từ dư luận nhiều ngày qua. Một blogger có tiếng đã có hẳn bài viết với tiêu đề khá bức xúc: Gửi những "côn đồ" khoa học.
Hình ảnh Cấm nông dân chế tạo lò đốt rác phát điện: Côn đồ khoa học hay côn đồ dư luận số 2
Bài viết thể hiện sự bức xúc của blogger. (Ảnh chụp màn hình)
“ - Việc Sở Khoa học công nghệ Thái Bình các ông quyết định nhắm mắt dẹp bỏ sáng chế lò đốt có khả năng đốt triệt để rác thải ở nhiệt độ cao và dùng nhiệt năng để phát điện của người nông dân Bùi Khắc Kiên (xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) chỉ vì những lý do vớ vẩn, những lý do mà nghe ra đứa con nít cũng thừa biết các ông không chỉ là quan liêu, không chỉ là vô cảm, không chỉ là máy móc, không chỉ là bừa bãi mà là dấu hiệu của sự ngu dốt, dấu hiệu của sự đố kị, dấu hiệu của sự cửa quyền...
-Ngu dốt vì trước một sáng chế được coi là rất lớn lao như thế, đến thế giới đọc thông tin còn ngạc nhiên, mà các ông phẩy tay, dẹp, đó là cái phẩy tay của những kẻ tô son má hồng hai chữ khoa học nhưng hoàn toàn là kẻ mù điếc về khoa học, hay nói chính xác hơn các ông là những kẻ chà đạp khoa học…” trích trong bài viết của blogger NQV.
Bài viết còn cho rằng, khi đoàn kiểm tra của cơ quan chức năng đến, những chỉ số về nhiệt độ, lượng bụi, khí thải… đều rất thuyết phục nhưng không hiểu sao sản phẩm của ông Kiên vẫn bị cấm.
Hình ảnh Cấm nông dân chế tạo lò đốt rác phát điện: Côn đồ khoa học hay côn đồ dư luận số 3
Đại diện công ty Nhật Bản đến thăm quan lò phát điện (ảnh trên) và những chỉ số khoa học của lò (ảnh dưới). (Ảnh chụp màn hình)
Như để ủng hộ ông Kiên và phản đối  “cấm lệnh” của Sở Khoa học và Công nghệ Thái Bình, tờ Đất Việt đưa tin: Ngày 7/7/2014, một công ty của Nhật Bản đã đến thăm quan lò đốt rác phát điện của ông Kiên.
Theo thông tin từ ông Bùi Khắc Kiên, nếu sự hợp tác giữa ông và người Nhật Bản bị chính quyền làm khó khăn thì công ty Nhật ấy sẵn sàng đưa ông sang Nhật Bản để chế tạo cho họ công nghệ đó.
Vụ việc nhanh chóng trở thành vấn đề nóng, gây tranh cãi trong dư luận nhiều ngày qua. Trước những chỉ trích của người dân hướng tới các nhà học, thậm chí bị chửi là “côn đồ”, là đố kỵ với công trình sáng tạo của người nông dân.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, vụ việc không được thông tin đầy đủ và ông Kiên đang trở thành nạn nhân của truyền thông. Tin mới/Người đưa tin sẽ tiếp tục lấy ý kiến của các chuyên gia cùng quan chức Sở Khoa học và Công nghệ Thái Bình để tìm hiểu vụ việc.
Còn tiếp…
  • Na Sầm

Thứ Hai, ngày 14 tháng 7 năm 2014

Hi hữu và ngộ nghĩnh: mèo chăm vịt như con

Hi hữu và cũng thật ngộ nghĩnh: Mèo mẹ không chỉ chăm sóc những chú mèo con, mà còn chăm sóc những chú vịt con. Hn nó tưởng những chú vịt ấy cũng là con của mình. Sự việc khiến người xem cảm thấy lạ lẫm, thường thì mèo sẽ ăn thịt vịt con chứ không như trong clip này.
Theo Afamily.vn

video

Thứ Hai, ngày 07 tháng 7 năm 2014

Cố Tổng bí thư Lê Duẩn: "Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc"

Kỷ niệm 28 năm ngày mất Cố Tổng bí thư Lê Duẩn (10.7.1986 - 10.7.2014)

Đăng Bởi -
Bác Hồ và Cố Tổng bí thư Lê Duẩn năm 1960
Bác Hồ và Cố Tổng bí thư Lê Duẩn năm 1960

Trên cương vị là Bí thư thứ nhất và sau đó là Tổng Bí thư suốt 26 năm, ông Lê Duẩn đã để lại nhiều di sản cho lịch sử Việt Nam. Có thể người ta còn tranh cãi về ông ở vài vấn đề, nhưng công lao to lớn trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất dân tộc cũng như ý chí kiên cường và tinh thần cảnh giác cao độ trong việc chống lại chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, thì có lẽ ít người nghi ngờ…

Bài học lớn về Trung Quốc 
Trước hiệp định Geneva, ông Lê Duẩn là người lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền Nam. Như nhiều nhà lãnh đạo của Việt Nam khi ấy, ông thực sự tin Trung Quốc là người anh em, đồng chí thực sự của cách mạng Việt Nam.
Năm 1954, Hiệp định Geneva được ký kết đã bẻ ngoặt nhận thức của ông về mối quan hệ với Trung Quốc. Nhà thơ Việt Phương, thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng kể:
“Khi bàn thảo về Hiệp định Geneva, Bộ Chính trị của ta chỉ đồng ý lấy vĩ tuyến 16 là ranh giới cuối cùng của khu phi quân sự tạm thời giữa hai miền Nam – Bắc trong thời gian chờ tổng tuyển cử. Nhưng Trung Quốc với sự ảnh hưởng của mình, đã khăng khăng ép ta phải đồng ý chọn vĩ tuyến 17. Khi chúng ta bàn bạc vấn đề này với Trung Quốc, họ đã nói: “Chúng tôi là tướng ngoài mặt trận. Các đồng chí hãy để cho chúng tôi tùy cơ ứng biến”. Khi nói như thế, người Trung Quốc đã tự cho mình quyền định đoạt số phận của người Việt Nam”.
Thời điểm đó, ta đã kiểm soát phần lớn vùng Nam bộ, ngoại trừ một vài đô thị nhỏ. Ở miền Bắc, ta chiến thắng vang lừng ở Điện Biên. Nhưng Trung Quốc đã bắt ta phải ký một hiệp định chia cắt đất nước - một hành động mà sau này như nhiều người nói: “người anh lớn” đã phản bội lại “người em” của mình.
Sau khi hiệp định được ký,  trên đường từ Bắc vào Nam,  nhìn những quân dân miền Nam giơ 2 ngón tay chào nhau, vừa là biểu tượng victory  - chiến thắng, vừa là lời hẹn 2 năm sau sẽ đoàn tụ, ông Lê Duẩn đã khóc. Ông hiểu, sẽ không bao giờ có tổng tuyển cử, sẽ không bao giờ chỉ là 2 năm…Rồi đây đất nước sẽ còn bị chia cắt rất lâu vì Hiệp định Geneva năm đó.
Sau đó, khi chia tay Lê Đức Thọ ra Bắc tập kết, ông Lê Duẩn đã nói với người đồng chí của mình một câu rất nổi tiếng: “Anh ra nói với Bác, 20 năm nữa tôi mới được gặp Bác”. 
Rất trùng hợp, 20 năm sau, đất nước thống nhất. Nhưng quan trọng hơn, đó là lần ông Lê Duẩn thực sự thấy thấm thía nhất về nỗi đau chứng kiến đất nước ông đã bị người anh em Trung Quốc phản bội. Năm 1972, trong một cuộc trò chuyện với Chu Ân Lai, nhắc lại về Hiệp định Geneva, ông Lê Duẩn đã  không ngần ngại lên án: “Năm đó, người Trung Quốc các anh đã bán đứng chúng tôi trên bàn đàm phán”.
Dù là năm 1954 hay năm 1972 hay sau này, dù là lúc đang lãnh đạo cách mạng miền Nam hay khi đã ra Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, kể cả khi đất nước đã thống nhất, chưa một phút giây nào, TBT Lê Duẩn quên bài học đó.
“Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc”
Khi còn sống, TBT Lê Duẩn luôn cho rằng, hiểu Trung Quốc là chuyện sống còn của dân tộc Việt Nam, khi mà lịch sử địa lý, trớ trêu thay đã khiến ta mãi mãi phải là láng giềng của họ. Mà để hiểu người Trung Quốc nhất định phải hiểu được những đặc tính của dân tộc Việt Nam.
Đắm chìm vào trong dân tộc để hiểu cái ở ngoài dân tộc và giữ dân tộc là cách mà TBT Lê Duẩn đã làm khi ở cương vị người đứng đầu đất nước.
Trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhân danh việc chi viện, giúp đỡ chúng ta, rất nhiều lần Trung Quốc lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ. Có lần Trung Quốc đề nghị cho chúng ta 500 chiếc xe vào Trường Sơn với điều kiện kèm lái xe của họ. Nhưng TBT Lê Duẩn không nhận bất cứ một chiếc xe nào. 
Có người trong Bộ Chính trị đề nghị “sao ông không nhận một vài chiếc cho người ta vui?”, nhưng TBT Lê Duẩn vẫn kiên quyết giữ lập trường của mình: “Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này”.
Hẳn là  vì hiểu rõ dân tộc, mà ông đã không quên rằng, Trung Quốc từng mượn đường vào đánh Chiêm Thành thời nhà Trần, rồi từng lấy cớ vào giúp vua Lê Chiêu Thống để kéo quân vào Hà Nội. Như một nhà nghiên cứu về quan hệ Việt Nam với Trung Quốc đã từng nhận xét về ông: “Với TBT Lê Duẩn, cái gì nhịn được thì nhịn, nhưng ông tuyệt đối không bao giờ nhượng bộ những điều quá đáng, nguy hại cho an ninh quốc gia”.
 
Tổng bí thư Lê Duẩn thăm một đơn vị tên lửa phòng không bảo vệ Hà Nội
Điều mà TBT Lê Duẩn vẫn thường cố gắng cắt nghĩa là tại sao Trung Quốc đô hộ Việt Nam 1.000 năm mà không đồng hóa được ta? Bởi 1.000 năm là quá dài, và người Trung Quốc chưa bao giờ giấu diếm tham vọng ấy suốt những thời kỳ họ cai trị Việt Nam. Trong lịch sử, nhiều dân tộc khác bị đồng hóa rất dễ dàng chỉ với vài trăm năm, nhưng sự khác biệt của người Việt Nam đã khiến dân tộc này thoát khỏi quy luật đáng sợ đó.
Có rất nhiều thứ người Trung Quốc cho là chân lý, nhưng người Việt Nam không chấp nhận. Người Trung Quốc dùng đạo Khổng để giáo dục người dân. Người Trung Quốc dạy: “Tại gia tòng phụ”, nhưng người Việt Nam nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Người Trung Quốc nói “xuất giá tòng phu”, người Việt Nam lại cho rằng “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”.
Và ông Lê Duẩn luôn nhìn thấy, qua những khác biệt đó người Việt Nam vừa để dạy mình, vừa thể hiện sự phản kháng với tư tưởng đó, và sâu sa hơn là phản kháng sự đồng hóa mà người Trung Quốc cố tình áp đặt lên số phận của dân tộc Việt Nam. Sự phản kháng này nằm sâu trong mầm mống tồn tại của dân tộc, khiến sức mạnh đồng hóa của người Trung Quốc không đâm thủng được. Trung Quốc ngày đó bắt người phụ nữ bó chân, nhưng người Việt Nam không bao giờ đồng ý.  Với người Việt Nam, để sinh tồn thì bàn chân là phải vững chắc trên mảnh đất này. Đó là một nền tảng văn hóa vô cùng Việt Nam, tự thân người Việt Nam và nó đối chọi hoàn toàn với người Trung Quốc.
Dường như, khi hiểu được truyền thống ấy và sức mạnh phản kháng ấy của dân tộc, TBT Lê Duẩn đã luôn có tự tin khi đứng trước những nhà lãnh đạo Trung Quốc, đứng trước sức mạnh của người Trung Quốc, trong rất nhiều giai đoạn thăng trầm của mối quan hệ giữa hai nước.
Một lần, khi ra ngoài Bắc bàn về đấu tranh miền Nam, ông Lê Duẩn nói: “Thưa Bác, chúng ta muốn thắng Mỹ, có một điều rất quan trọng là chúng ta phải không được sợ Mỹ, nhưng cũng không được sợ Trung Quốc và không được sợ Liên Xô”.  
Có người trong Bộ Chính trị phản đối ý kiến đó. Nhưng ông Nguyễn Chí Thanh đã đứng lên ủng hộ: “Thưa Bác, việc anh Ba nói vậy là vô cùng cần thiết và nhất định phải như vậy chúng ta mới thắng được”. 
Cả Bộ Chính trị vỗ tay hoan hô ý kiến đó. Chỉ tiếc là đến giờ những văn bản họp Bộ Chính trị khi đó hầu như vẫn chưa được công bố, khiến những câu chuyện này không thực sự được biết rộng rãi trong dân chúng.
Điều khiến nhiều người suy nghĩ là những năm tháng đó, trong lúc khó khăn nhất, khi mà chúng ta đang dựa vào họ, thành bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc một phần không nhỏ vào sự ủng hộ của họ, nhưng TBT Lê Duẩn vẫn biết cách giữ được vị thế của mình với những nhà lãnh đạo Trung Quốc.
Ông cũng rất khéo léo giữ được độc lập của đất nước mà vẫn khiến Trung Quốc duy trì sự ủng hộ với Việt Nam trong một giai đoạn dài. Cái ý thức “không sợ Trung Quốc” ấy có lẽ đã khiến TBT Lê Duẩn dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng luôn ở thế ngang bằng với những lãnh đạo Trung Quốc như Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình. Nhưng cũng chính vì tư tưởng đó, TBT Lê Duẩn đã trở thành nhà lãnh đạo Việt Nam khiến Trung Quốc e dè, nếu không muốn nói là “gai mắt” nhất trong giai đoạn ấy.
Nhà thơ Việt Phương từng kể một câu chuyện: “khi Bác Hồ đang chữa bệnh ở Trung Quốc, TBT Lê Duẩn có chuyến thăm Trung Quốc và ở gần nơi Bác chữa bệnh. Bác Hồ lúc đó đã  bảo với ông Lê Duẩn: “Chú Ba đến ăn cơm với Bác. Chắc là họ chưa đến mức có ý định giết Bác. Bác đã rất nghi ngại việc TBT Lê Duẩn ở một mình có thể có những chuyện không hay và tìm cách giữ an toàn cho ông bằng mọi cách”.
Từ năm 1976, khi ta căng thẳng với Trung Quốc, mỗi lần sang Trung Quốc, khi những người lính cần vệ của TBT Lê Duẩn đưa dụng cụ đo phóng xạ vào phòng ông kiểm tra, bao giờ độ phóng xạ cũng ở mức kịch kim. Có người lính cận vệ đã đề nghị ông đổi phòng vào ban đêm một cách bí mật. 1 năm sau đó, người lính cận vệ đó bị ung thư máu qua đời, dù trước đó rất khỏe mạnh. Đó có thể chỉ là một sự trùng hợp, nhưng cũng có thể không…
2 tháng qua, khi Trung Quốc ngày càng tráo trở và ngang ngược ở biển Đông, với tham vọng bá quyền không giấu diếm, rất nhiều người dân Việt Nam nhớ về vị TBT mà lịch sử đã nhìn nhận là người có đường lối cứng rắn nhất với Trung Quốc. 
Có lẽ ngày hôm nay, với vấn đề biển Đông, người Việt Nam chúng ta sẽ phải nhớ lại câu nói của cố TBT Lê Duẩn và bài học mà ông đã để lại: “Chúng ta, bằng bất cứ giá nào, cũng không được phép sợ Trung Quốc”.
  •  Thảo Nguyên

Thứ Bảy, ngày 05 tháng 7 năm 2014

“Huyền thoại Thị Nở” màn ảnh Việt tiết lộ nguyên nhân dang dở mối tình đầu với nhà thơ Chính Hữu

GiadinhNet - Những ai từng xem bộ phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” (năm 1982) hẳn không thể quên cô Thị Nở vừa xấu, vừa ương ương, dở dở nhưng lại rất mộc mạc, chân thành trong tình yêu. Vai diễn thành công ấy đã làm cho người đóng - NSƯT Đức Lưu “một bước thành sao” nhưng cũng vô tình đẩy sự nghiệp của bà vào “ngõ cụt” khi “cái bóng” của Thị Nở quá lớn.

“Huyền thoại Thị Nở” màn ảnh Việt tiết lộ nguyên nhân dang dở mối tình đầu với nhà thơ Chính Hữu 1
Vai diễn Thị Nở của NSƯT Đức Lưu trong phim “Làng Vũ Đại ngày ấy”. Ảnh tư liệu.
 
Thậm chí, trong cuộc sống riêng, vai diễn này dường như cũng trở thành “cái duyên tiền định” của bà; 20 năm trước khi đóng vai “người phụ nữ xấu nhất màn ảnh” với cảnh quay bị Chí Phèo quát nạt làm rơi rổ cà chua, NSƯT Đức Lưu từng bị mối tình đầu tát “nổ đom đóm mắt” làm vỡ nát cả rổ trứng trên tay...
 
Tình đầu dang dở vì cái tát “nổ đom đóm mắt”

Khi tiếp nhận thông tin được gặp NSƯT Đức Lưu, tôi dự đoán cho mình những suy nghĩ mông lung. Bởi, Thị Nở ngoài đời khác với Thị Nở trên màn ảnh như thế nào mà sau khi vai diễn “nổi như cồn” ấy cũng là lúc sự nghiệp nghệ thuật của NSƯT Đức Lưu “chợt tắt”. Đem thắc mắc hỏi chính nhân vật và có thời gian tiếp chuyện bà, tôi mới thực sự hiểu rằng, cái “duyên” với nghệ thuật của bà tuy khép lại nhưng dòng chảy nghệ sĩ trong lòng một người yêu nghệ thuật vẫn vẹn nguyên.
 
Sau vai diễn Thị Nở, bà phải từ bỏ nghiệp diễn, về Thành ủy Hà Nội làm ở ban Đối ngoại, giữ chức thư ký thường trực của Ủy ban Đoàn kết với các nước. Bà đã dằn vặt về điều đó, nhưng hơn ai hết bà hiểu, “cái bóng” của Thị Nở quá lớn. Đã có lần bà ngỏ ý với đạo diễn Đặng Nhật Minh muốn đóng vai mẹ của Đặng Thùy Trâm nhưng đạo diễn sợ khi bà “ló mặt” ra màn ảnh người ta lại bảo: “Ô Thị Nở” thì hỏng hết phim... Vai diễn Thị Nở tự nhiên khép lại con đường nghệ thuật của bà như thế.

“Thị Nở” trong phim “Làng vũ đại ngày ấy” đã được khai thác rất nhiều; NSƯT Đức Lưu cũng được người ta biết đến qua những bài báo viết về bà sau thành công của “vai diễn để đời”. Thế nhưng, “Thị Nở” ngoài đời vẫn có nhiều điều chưa kể, đặc biệt là mối tình đầu đầy say mê nhưng cũng nhiều cay đắng với tác giả của bài thơ Đồng chí – nhà thơ Chính Hữu.
 
NSƯT Đức Lưu tên thật là Nguyễn Thị Đức Lưu (SN 1939) quê ở Tây Đằng, Quảng Oai (Ba Vì - Hà Tây cũ). Người con gái xứ Đoài mây trắng có làn da trắng nõn nà, đôi mắt lúng liếng, miệng cười duyên dáng ấy đã làm trái tim bao chàng trai loạn nhịp khi chỉ mới tuổi trăng tròn. Sau một năm công tác ở Trung đoàn 151, bà được chuyển sang Đoàn ca múa II thuộc Tổng cục chính trị. Tại đây, bà gặp Đoàn trưởng, nhà thơ Chính Hữu; chính ông dìu dắt cô gái Đức Lưu trưởng thành và thấm nhuần lý tưởng cách mạng. Và giữa họ nảy nở một tình yêu đẹp, trong sáng. Đôi “trai tài, gái sắc” say đắm nhau trong lửa đạn chiến tranh, cùng hứa hẹn về một mái ấm hạnh phúc.
 
Năm 1955, hai người hẹn nhau cùng về thủ đô Hà Nội chuẩn bị lễ thành hôn. NSƯT Đức Lưu đã chuẩn bị nửa chỉ vàng cho nhà thơ Chính Hữu làm quà tặng, mẹ bà cũng chuẩn bị thêu đôi gối cho hôn lễ mùa thu tới. Nhưng cuộc đời khó ai đoán định chữ “ngờ”, mà chính những người trong cuộc không thể lường trước.

Năm 1959, NSƯT Đức Lưu trúng tuyển vào trường Điện ảnh Việt Nam, lớp diễn xuất khóa I cùng các nghệ sĩ: NSND Trà Giang, Thụy Vân, Thế Anh,… Trong đợt thực tập, bà cùng các diễn viên đi thực tế ở nông trường Rạng Đông (Nam Định). Là trưởng lớp diễn xuất khóa I nên ngày thứ bảy, chủ nhật bà phải ở lại đợi đến ngày thứ hai, cùng với ông Trung Tín (phát thanh viên của Đài phát thanh Việt Nam khi đó, học lớp diễn viên cùng khóa) ở lại xin giấy nhận xét của địa phương nên không về kịp gặp người yêu. Chờ đợi sau thời gian xa nhau, những tưởng nỗi nhớ sẽ làm tác giả “Đồng chí” cuồng si hơn… nào ngờ, chiều thứ hai lên phòng Văn nghệ đưa đồ, tay đang ôm rổ trứng, rổ quà của địa phương gửi tặng thì bà bị một cái tát trái nổ “đom đóm mắt” từ chính người đàn ông mà mình đang nhớ nhung, mong ngóng. Do bất ngờ, khiến rổ trứng và rổ quà rơi vung vãi, nghẹn ngào không biết chuyện gì xảy ra, bà vội lúi húi nhặt hết đồ vào rổ rồi chạy ra ngoài khóc tức tưởi. Đôi mắt lưng tròng, bà đi bộ hết đường Lý Nam Đế để về ký túc xá Cao Bá Quát, lòng không thôi uất hận và xấu hổ. Sau đó một tuần, nhà văn Hữu Mai (lúc đó là Trưởng ban Văn nghệ) đã đứng lên thay mặt Chính Hữu bày tỏ lời xin lỗi và hàn gắn tình cảm. Nhà văn Hữu Mai đã xóa bỏ sự nghi ngờ của anh chàng cả ghen Chính Hữu. Hóa ra, hành động bộc phát của Chính Hữu khi đó là do… ghen, do nghi ngờ Đức Lưu và Trung Tín có quan hệ tình cảm.

Sau đó, tuy hiểu lầm được xóa bỏ nhưng cái tát “vô cớ” trở thành rạn nứt khó hàn gắn giữa hai người. Khi sự việc vỡ lở, bố NSƯT Đức Lưu lúc đó là Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Nam định bảo cô con gái: “Bây giờ Chính Hữu chưa lấy con, đã tát, đã ghen như vậy, lấy con về rồi con sẽ phải bỏ nghề. Con hãy xác định cho kỹ, một là lấy Chính Hữu, hai là bỏ nghề”. Cuối cùng, bà chọn bỏ Chính Hữu để theo đuổi nghệ thuật. Mối tình đẹp khép lại, trong niềm tiếc nuối của bao người. Mấy năm sau, bà và Chính Hữu đều có con gửi ở một trường mầm non. Đó là lần duy nhất sau khi chia tay, bà gặp lại Chính Hữu. Do trời tối, lúc đó vào 6 -7 giờ tối nên bà đã đứng khuất bên cạnh bức tường để tránh cho ông nhìn thấy…
 
Hạnh phúc vững bền với nhà khoa học
 
“Huyền thoại Thị Nở” màn ảnh Việt tiết lộ nguyên nhân dang dở mối tình đầu với nhà thơ Chính Hữu 2
“Thị Nở” của thì hiện tại. Ảnh TG

Sau khi tình yêu đầu đổ vỡ, NSƯT Đức Lưu đã có một thời gian đau khổ tận cùng, nhưng rồi bà cũng lấy lại cân bằng. Bà vùi đầu vào công việc, tối đến tranh thủ học tiếng Anh tại Trường ĐH Tổng Hợp. Chính những buổi tối học thêm đó, bà quen và đón nhận tình yêu của nhà khoa học, GS.TS Trần Hạ Phương – sau này là chồng của bà. Nhắc đến người chồng, bà tủm tỉm cười: “Ông ấy là cán bộ giảng dạy Trường ĐH Tổng hợp, ở tại Khu ký túc xá phố Lò Đúc. Một lần, giữa sân trường, ông ấy mạnh dạn hỏi tôi: “Xin phép được đưa chị về nhà!”. Thời điểm đó, ông ấy mới ở Đức về, đi xe đạp. Vậy là hai người vừa trò chuyện, vừa đi dạo hết qua ĐH Tổng hợp rồi qua Ký túc xá Cao Bá Quát nơi tôi ở. Buổi tối thứ 7, mà 4 lần dạo quanh Lò Đúc đến Cao Bá Quát rồi ngược lại, cứ người đưa về, người tiễn ngập ngừng giây phút chẳng muốn rời xa…”. NSƯT Đức Lưu cho biết, GS.TS Trần Hạ Phương là người hiền lành, ít nói nhưng trân trọng nghệ thuật, đặc biệt là những người nghệ sĩ – chiến sĩ như bà.

Kết thúc mối tình đầu dang dở với nhà thơ Chính Hữu, GS.TS Trần Hạ Phương là mối tình trọn vẹn nhất cuộc đời NSƯT Đức Lưu. Hạnh phúc khi có người đàn ông luôn lắng nghe, chia sẻ mọi điều trong cuộc sống, bà đã vơi đi những tháng năm đau khổ, dằn vặt về mối tình đầu. Đám cưới đặc biệt của bà diễn ra đúng ngày Hiến chương Nhà giáo 20/11/1962 tại 57 Mã Mây. Bạn bè đến chung vui, mỗi người góp một câu chuyện vui vẻ, đám cưới diễn ra suốt 3 ngày liền.
 
Sống với nhau trọn vẹn 50 năm, tình cảm vợ chồng chẳng bao giờ có cãi vã, ông luôn bên cạnh động viên bà. Nâng niu tấm ảnh của người chồng chụp kỷ niệm buổi Họp mặt những người Việt Nam ra nước ngoài đầu tiên ở Liên Xô và Đức năm 1953, giọt nước mắt cảm động lăn dài trên má: “Chúng tôi chuẩn bị làm đám cưới vàng thì ông ấy đổ bệnh mất tại nhà năm 2012”. Không chỉ là người đàn ông quan trọng trong cuộc đời NSƯT Đức Lưu, GS.TS Trần Hạ Phương còn là đức lang quân lãng mạn luôn cố vấn, giúp vợ thành công trong những vai diễn. Vai cô Mận trong phim “Cô gái công trường”, vai vở kịch truyền hình “Đêm tháng bảy” và đặc biệt là vai Thị Nở của trong “Làng Vũ Đại ngày ấy” của đạo diễn NSND Phạm Văn Khoa. Đáp lại ân tình của người chồng quá cố, bà vừa hoàn thành xong 2 tập bộ phim tài liệu về vùng quê Duy Xuyên (Quảng Nam) theo tâm nguyện trước khi mất của GS.TS Trần Hạ Phương.
 
Khép lại tất cả những vương vấn cuộc đời, bây giờ, NSƯT Đức Lưu ăn chay niệm Phật, sống vui vầy với 2 người cháu nội. Thỉnh thoảng có thời gian rảnh, bà lại bắt xe ô tô xuống ngôi chùa Hoàng Xá (Hưng Yên) làm từ thiện. Ngoài ra, bà còn giữ vị trí Hội đồng quản trị trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, mỗi năm bà vận động 50 sinh viên tình nguyện xuống địa phương làm từ thiện. Bà chia sẻ, chừng nào còn sống bà sẽ tiếp tục làm công việc thiện nguyện này.
Giáng Son

Thứ Tư, ngày 02 tháng 7 năm 2014

Bùi Giáng rơi tiền

Đăng Bởi -
Chân dung Bùi Giáng
Chân dung Bùi Giáng
Rơi hay rải tiền ngầm nghĩa là phải có rất nhiều tiền. Và rải, rơi theo ý mình muốn. Trước đây đã có nhiều giai thoại về đốt tiền, rơi tiền cỡ Bạch công tử hay Hắc công tử Bạc Liêu. Nhưng thi sĩ Bùi Giáng vẫn giàu có để "rơi tiền" theo ý muốn. Tại sao không?
Như trong bài thơ Tiền Và Lá, nhà thơ Kiên Giang rất tinh tế và tài hoa khi cảm thán:
“Tiền không là lá em ơi
 Tiền là giấy bạc của đời in ra
 Người ta tiền bạc đầy nhà
Cho nên mới được gọi là chồng em!
 Bây giờ mỗi buổi chiều lên
 Tôi gom lá đốt, khói lên ngút giời
 Người ta đã bị mua rồi
 Chợ đời hội họp, mình tôi vui gì?”.  
(Tiền và Lá) 



Thi sĩ Bùi Giáng và Kỳ nữ Kim Cương
Bài thơ này cũng có dư luận cho là của thi sĩ Nguyễn Bính. Nhưng trong một lần gặp gỡ nhà thơ Kiên Giang ở một tiệc cuối năm do nhà thơ Lâm Xuân Thi tổ chức tại Sài Gòn cuối năm 2013, người viết đã hỏi thăm. Nhà thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà xác nhận bài thơ trên là của ông chứ không phải của thi sĩ Nguyễn Bính. Rất nhiều công trình nghiên cứu về thi ca đã nhầm lẩm chi tiết này.
Thi sĩ Bùi Giáng chưa có bài thơ nào thật nổi trội, cảm thán về tiền được người yêu thơ biết đến như bài thơ Tiền và lá ở trên. 
Chúng tôi muốn nhắc lại bài thơ vì cho rằng đây là một tác phẩm hay, đề cập trực tiếp vào nỗi ám ảnh của người nghệ sĩ. Và một nghệ sĩ lớn nhưng phiêu bạt, lang thang, không gia đình lại mang trong hồn những chấn động, tang thương của cơn bão thời đại vừa thổi qua thì miếng cơm, manh áo hàng ngày, ở đây tựu trung là tiền – như chủ đề của bài viết này - cũng là ám ảnh không hề nhẹ! 
Thế nhưng, thật lạ lùng, trong thi ca của ông cứ bỡn cợt, bông đùa, tang bồng “Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi / Đi lên đi xuống đã đời du côn” hay “Thưa rằng nói nữa là sai / Mùa xuân đang đợi dáng ai bước vào…”.
Bùi Giáng rong chơi "Sài Gòn Chợ Lớn"  
Có thể Bùi tiên sinh chưa bao giờ xem tiền bạc là quan trọng nhưng chắc chắn ông cũng không có tiền để rải như ý muốn!
Thế mà có đấy! Bùi Giáng đã từng bỡn cợt với tiền và rải tiền theo ý mình thích mình muốn trong câu chuyện sau của anh Huỳnh, chủ quán cà phê CCR nổi tiếng một thời trên đường Nguyễn Đình Chiểu, một người đọc rất mê Bùi và có rất nhiều kỷ niệm với Bùi. 
Anh đã kể cho Một Thế Giới nhiều chuyện hay mà chính bản thân anh chứng kiến chứ không phải là người hóng hớt hay nghe lại.  
Anh Huỳnh kể: Vào khoảng năm 1985, người ta thường thấy Bùi Giáng lang thang khắp Sài Gòn và thường xuất hiện ở chợ Trương Minh Giảng. Ít người biết ông là một nhà thơ nổi tiếng. Thời gian và thời đại đã thay đổi. Lớp bạn đọc những tác phẩm của ông cũng tan tác áo cơm. 
Chỉ có một số rất ít mới nhận ra thi sĩ bậc thầy và người thấy ngày xưa của mình. Bởi ông có một thời gian đi dạy và thỉnh giảng trên các giảng đường Đại học Sài Gòn. Bùi Giáng khoác lên mình đủ thứ hằm bà lằng mà ông tình cờ nhặt được trên đường từ bao tời, bao tải hay những áo quần cũ mà người ta thương tình cho ông.
Cũng có một số người bán hàng trong chợ biết ông nên cũng cho ông mua… chịu như cà phê, phở, cơm tấm. Để đáp lại tấm lòng đó, ông thường viết tặng những bài thơ khi có yêu cầu hay khi cao hứng. 
Ít người hình dung được những tác phẩm đó sau này là những di cảo đặc biệt. Ví như những câu thơ cà rỡn mà tài hoa của Bùi mà anh Huỳnh tình cờ được đọc và nhớ khi ông viết tặng cho hai cô gái phục vụ trong hàng Phở. “Một sáng, tôi gặp Bùi tới đây rất sớm và không gặp ông chủ, vốn là người mến ông! Hai cô gái chạy bàn còn rất trẻ và không hiểu tại sao có một người đàn ông nhếch nhác, lôi thôi, hôi hám và quái dị xuất hiện ăn phở rồi…đòi ghi sổ không trả tiền! Bùi đã viết tặng mấy câu thơ như sau “Hai cô thiếu nữ dịu dàng / Xin đừng nói bậy hai nàng buồn ta!?...”   

Thủ bút Bùi Giáng
Nhưng đừng tưởng ông điên, không biết gì! Khi có tiền, Bùi Giáng vẫn đem đến trả nợ đã ghi sổ đàng hoàng. Và tiền đó thường là của người thân, bạn bè cũ cho hay học trò cũ tặng thầy. “Bùi giáng gần như không quên người nào. Khi có tiền ông trả cho những người cưu mang mình từ người chạy xe ôm hay chú xích lô hàng ngày vẫn chở ông đi…”
Một lần cùng với một số bạn bè Việt kiều từ Mỹ về ghé thăm ông, anh Huỳnh rất vui khi biết người bạn mình đã giúp ông một khoản tiền không nhỏ. –“Tôi không nhớ là bao nhiêu nhưng với ông nếu chỉ du thân và ăn uống rong chơi thì cũng sống được mấy tháng. Trong số tiền đó có mấy tờ đô-la người bạn muốn ông để dành vì sợ đổi ra ông sẽ đánh rơi.
Và quả đúng như suy nghĩ của bạn tôi! Bùi Giáng đánh rơi thật! Buổi sáng hôm sau tôi tình cồ đi xuống chợ Trương Minh Giảng. Tôi chứng kiến một Bùi tiên sinh phấn khích la hét tung trời! Và nữa, sau lưng ông rồng rắn một bầy con nít lít nhít kéo theo vừa nhảy máu ca hát vừa tranh nhau lượm tiền của Bùi Giáng đánh rơi!
Thì ra có tiền nhưng Bùi giáng không để ý, ông nhét hờ vào một cái túi quần thủng vừa đi vừa nhảy múa nên tiền cứ rơi ra. Bọn trẻ vừa hò reo vừa sung sướng nhặt.

 Thoáng dừng chân cô đơn của người Thi sĩ ngỡ chỉ vui chơi quên ngày tháng
"Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu..."
Tôi chạy đến bên Bùi Giáng, nắm tay nhắc ông: -“Ông thầy, ông để rơi tiền hết rồi!...”
Bùi Giáng quắc mắt nhìn tôi. Chợt nhận ra người quen vừa ngồi với nhau hôm qua, cặp mắt ông thoáng dịu lại, cười hê hê một nụ cười dài: -“Ha ha! Rơi rơi rơi! Tiền rơi rơi!... Nhưng ta vẫn còn tiền đây này!”. Rồi ông kéo tôi lại, khoái chí lật cái quần rách lên.
Vẫn còn mấy tờ tiền ông lận sâu trong dải quần!..
Ở vị trí đó thì khó mà rơi!...
Thì ra thi sĩ Bùi Giáng đã để một số tiền trong túi quần rách, vừa chạy nhảy la hét phấn khích để rải… một cách cố ý cho bọn trẻ bụi đời mà ngày thường ông vẫn lang thang kẻ chợ cùng với chúng. 
Ông tặng bọn nhỏ một cách hào sảng. Câu chuyện tiền rơi của ông đã làm rơi nước mắt anh Huỳnh. 
Trong cái biền du côn tàn nhẫn như trong thơ của Bùi từng khắc họa “cứ tưởng đầu đường thương xó chợ / Ai ngờ xó chợ vẫn chơi nhau” đã thực sự có tình người.
  • Nguyễn Hữu Hồng Minh

Thứ Hai, ngày 30 tháng 6 năm 2014

Hễ thấy "Tây" là tránh mặt

Tôi cũng từng chứng kiến ở một trường ĐH lớn tại Hà Nội, khi có đoàn nước ngoài sang làm việc, nhiều TS, GS của chúng ta nói ngoại ngữ "mỏi cả tay" mà phía bạn chỉ biết cười trừ. Đấy là chưa kể nhiều vị cứ thấy "Tây" là tránh mặt vì mình "nói họ chả hiểu" thì nói để làm gì?


Hồi đầu tháng, một cơ quan quản lý nhà nước vừa đưa ra lấy ý kiến dự thảo nghị định về tiêu chuẩn với một số chức danh quản lí của công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước. Dự thảo này đưa ra nhiều quy định với bậc thứ trưởng, trong đó có quy định khả năng ngoại ngữ phải đạt ở trình độ cao cấp bậc 6, tức là ở mức sử dụng thành thạo, hoàn toàn có thể chủ động làm việc bằng ngoại ngữ đó mà không cần phiên dịch.
Ngay khi vừa đưa ra thăm dò, quy định này đã nhận được nhiều ý kiến phản biện. Trên cơ sở đó, đại diện của cơ quan soạn thảo đã thừa nhận quy định này là cao và sẽ sửa đổi. Đây là thái độ cầu thị, chúng ta sẽ chờ đợi các điều chỉnh tiếp theo tới đây. Nhưng xung quanh nó cũng gợi lên nhiều vấn đề đáng suy ngẫm cho người làm chính sách.
Bởi, cần hiểu rằng "Thứ trưởng" là cán bộ nhà nước ở bậc cao cấp, thường trợ giúp cho Bộ trưởng phụ trách một vài lĩnh vực cụ thể. Do đó, dù đi lên từ công tác chuyên môn, nhưng khi ở vị trí quản lý thì công việc của họ lại nặng về quản lí chứ không trực tiếp làm chuyên môn hay đi thương thảo các vấn đề quá chi tiết. Bởi những hoạt động này thuộc chức năng, nhiệm vụ của các cục, vụ, ban chuyên môn trực thuộc bộ. Đúng là đôi khi thứ trưởng có thể phải làm việc với khách nước ngoài, nhưng khi đó, mọi hoạt động chuẩn bị, tổ chức đã có Vụ Hợp tác Quốc tế đảm nhiệm, có phiên dịch hỗ trợ.
Còn trình độ ngoại ngữ cao cấp bậc 6 là một cách đánh giá mới, do Bộ GD&ĐT ban hành vào đầu năm 2014 qua Thông tư "Ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam".
Đây là bậc cao nhất và trình độ này nôm na tương đương với trình độ của một phiên dịch chuyên nghiệp, có kinh nghiệm, có am hiểu rộng. Nếu tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy định chi tiết của thông tư này, theo đánh giá của cá nhân tôi, đại đa số cử nhân mới tốt nghiệp chuyên ngành ngoại ngữ, học trong nước cũng khó lòng đáp ứng được.
Sau gần 10 năm học tập ở nước ngoài, tự đánh giá, soi mình vào từng yêu cầu của bậc 6, tôi thấy chắc chắn mình chưa đạt được. Nếu quy định này mà khả thi, vô hình chung là "trói chân" các Thứ trưởng.
Đọc yêu cầu về ngoại ngữ cho "người nhà nước" khiến tôi không khỏi nghĩ đến thực tế lâu nay trong khâu chọn lựa người nhà nước là căn bệnh sính bằng cấp, trọng hình thức.
ngoại ngữ, bằng giả, tiến sĩ, giáo sư, bệnh bằng cấp
Ảnh minh họa
Căn bệnh bằng cấp
Hồ sơ của tuyệt đại đa số cán bộ công chức từ cấp vụ, viện, hay trường CĐ, ĐH trở lên hiện có đủ từ các văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, chính trị, quản lí nhà nước... Sẽ chả ai có thể có ý kiến gì, nếu những bằng cấp, chứng chỉ đó phản ánh thực chất năng lực người sử dụng. Điều đó quá tốt.
Tục ngữ ta có câu "tốt gỗ hơn tốt nước sơn" và trong tiếng Anh cũng có một câu mang hàm ý gần giống: clothes don't make the man (manh áo không làm nên thầy tu). Hãy chỉ nhìn vào tấm bằng ngoại ngữ thôi để thấy được thực tế buồn là "sơn" thì đẹp mà "gỗ" dường như chưa xứng.
Sẽ không phải là nhận định hồ đồ nếu ai đó giả định đa phần TS, GS, giảng viên ĐH, cao đẳng, công chức ở nước ta không có đủ trình độ ngoại ngữ theo đúng chuẩn quy định (huống chi là thứ trưởng). Giá có một đề tài cấp nhà nước, hay một luận án tiến sĩ đánh giá về thực trạng này để công luận được tỏ tường thì hay biết mấy!
Ở một hội thảo quốc tế, tôi từng chứng kiến có GS khả kính phát biểu khá hùng hồn. Ông đánh giá về quan điểm của một học giả nước ngoài cùng chuyên môn và tôi cứ há hốc mồm khi vị GS này nhắc đi nhắc lại rằng "ông đó nói thế này", "ông đó nói thế kia" trong khi giới tính của học giả đó rõ ràng là nữ giới.
Trong thời gian học ở nước ngoài, chúng tôi cũng nhiều lần đón các đoàn học giả, quan chức từ trong nước sang công tác. Bằng cấp đủ cả, lãnh đạo cấp vụ, trường không thiếu. Nhưng trong mọi hoạt động họ đều "tha thiết" nhờ chúng tôi phiên dịch giúp, thậm chí khi đi siêu thị, chỉ mỗi việc thanh toán tiền cũng "thảng thốt" nhờ giúp vì "họ nói gì anh không hiểu".
Tôi cũng từng chứng kiến ở một trường ĐH lớn tại Hà Nội, khi có đoàn nước ngoài sang làm việc, nhiều TS, GS của chúng ta nói ngoại ngữ "mỏi cả tay" mà phía bạn chỉ biết cười trừ. Đấy là chưa kể nhiều vị cứ thấy "Tây" là tránh mặt vì mình "nói họ chả hiểu" thì nói để làm gì?
Bệnh nhờn quy định
Bản chất của những quy định về bằng cấp là không sai. Vấn đề nằm ở việc thực hiện và giám sát.
Nhiều lãnh đạo QH, Chính phủ, Bộ từng thẳng thắn thừa nhận rằng chúng ta có quá nhiều quy định mang tính hình thức và một khi bệnh hình thức trở nên "trầm kha", nó sẽ dẫn đến vô vàn hệ lụy.
Đầu tiên là nạn mua bằng cấp giả.
Vài năm trở lại đây, cơ quan chức năng đã nhiều lần khám phá các đường dây làm bằng giả các loại. Điều đáng quan ngại là ban đầu tệ nạn này chỉ diễn ra ở phạm vi hẹp là bằng ngoại ngữ và chứng chỉ tin học. Dần dần, nó biến tướng, mở rộng ra. Từ trung cấp, CĐ, ĐH đến TS, đủ cả từ kinh tế, luật, văn hóa. Quy mô những "lò" sản xuất này ngày càng lớn. Có trường hợp bị phát giác hàng nghìn bằng giả. Trong vài năm trở lại đây, không ít trường hợp cán bộ, thậm chí cán bộ quản lí, từ cấp xã đến cấp tỉnh đã bị phát giác sử dụng bằng giả!
Kế tiếp là tệ "gian dối", "khai man", "học hộ", "thi hộ". Rồi có cả thị trường viết luận án, luận văn thuê, rao bán công khai trên mạng. Dư luận đã từng biết đến vị giám đốc sở ở một tỉnh, ngoại ngữ  chả biết chữ nào, chưa thấy xuất ngoại bao giờ, ấy thế mà có bằng thạc sĩ của một trường ĐH "đẳng cấp quốc tế' chỉ tồn tại trên giấy, chả được ai thừa nhận. Rồi thì có vị quan chức khác quanh năm bận họp hành, ấy thế mà đùng cái, một ngày đẹp trời cuối năm trưng ra 2 bằng ĐH được cấp cùng năm. Mà, tên người này đúng là có trong danh sách sinh viên tốt nghiệp của trường ĐH nọ. Nghe như có phép phân thân. Nghe tưởng như đùa mà ngẫm ra thì nước mắt chảy ngược vào trong, chát đắng.
Việc bằng giả dần dần trở nên…phổ cập, như báo chí đưa tin. “Cả làng toét mắt” cả, có phải “chỉ mình em đâu. Công khai nhờ nhau kiếm cho tấm bằng, giới thiệu chỗ giá rẻ, làm nhanh.
Thật giả lẫn lộn. Nhiều trường hợp phát hiện sử dụng bằng giả, khai man, gian dối trình độ học vấn nhưng chưa nhiều trường hợp bị đuổi việc, truy tố.
Đừng để hàm oan những tấm bằng...
Những tấm bằng chả có tội tình gì. Chúng luôn được in trên giấy tốt, mực đẹp, trang trí công phu. Chúng xứng đáng được nâng niu, đặt ở những nơi trang trọng. Hãy trả lại ý nghĩa, bản chất cho chúng thay vì đóng nhầm khung hay bó buộc chúng trong những chiếc phong bì lòe loẹt, quá khổ.
  • Nguyễn Công Thảo

Chủ Nhật, ngày 29 tháng 6 năm 2014

Khi Bùi Giáng ăn cháo lòng bò

Đăng Bởi -

Bùi Giáng ngao du cùng xích-lô Sài Gòn
Bùi Giáng ngao du cùng xích-lô Sài Gòn
Bùi Giáng là hiện tượng đặc sắc trong Thi ca. Viết về ông đã có nhiều các nhà phê bình và văn nghệ sĩ nổi tiếng. Nhưng hình như rất ít những "góc nhìn" bình dân "soi ngắm" ông trong khi Thi sĩ  là Kẻ sĩ "thõng tay vào chợ". Một Thế Giới giới thiệu một số mẩu chuyện về Bùi tiên sinh qua ký ức và nỗi nhớ của những người dân lao động bình thường... 
Bùi Giáng trong mắt một nhạc công
Bùi Giáng là một hiện tượng văn học độc đáo. Khi còn sống cuộc đời ông đã gắn bó với nhiều giai thoại và sau khi ông mất nhiều giai thoại đã trở thành… huyền thoại. Vì sao? “Bởi nhiều chuyện về cuộc đời ông không còn có thể kiểm chứng – anh Phan, một nhạc công chơi trống ờ Sai Gòn Star cho Một Thế Giới biết: Sau ngày ông mất những câu chuyện đó được xem như là… đương nhiên! Và người nghệ sĩ lớn nào không lấp lánh những huyền thoại?”.
 Bùi Thi sĩ là một hiện tượng độc đáo của Thi ca Việt Nam
Anh Phan kể mình cũng là một trong những người được Bùi rất mến. Vì thế, anh có rất nhiều kỷ niệm riêng với ông. –“Tôi là dân đọc sách. Đặc biệt là sách của Bùi Giáng. Cả những sách dịch của ông! Không hiểu vì sao chữ nghĩa của ông nhiều và khủng khiếp đến vậy! Ông chuyển dịch thôi cũng khiến chúng ta mê ly. Ví như các tựa sách Hòa âm điền dã của André Gide, ông dịch từ nguyên tác La symphonie pastorale nghe thánh thót, cảm nhận hết hơi thở hòa quyện của thiên nhiên. Hay Hoàng tử bé từ Le Petit Prince của Antoine de Saint-Exupéry. Trước đó có nhiều tựa khác như Hoàng tử con, Cậu hoàng nhỏ của các dịch giả khác… nhưng dư luận vẫn chú ý bản dịch của Bùi hơn.
Vì sao? Thứ nhất, bản dịch đậm chất văn chương và ông bố bà mẹ nào không yêu con mình, không xem con là một hoàng tử bé? Chữ nghĩa của Bùi Giáng vừa cao siêu vừa gần gũi là chỗ đó. Nó gợi cảm, gắn bó, giao cảm thiết thân và sâu xa với người đọc…”.
Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn cùng ăn cơm

Anh Phan kể “công việc nhạc công, chơi trống ở một bar cao cấp phải làm hàng đêm, bắt đầu từ 8 giờ, nên tạo cho tôi một đời sống đặc biệt. Tôi thường dậy buổi trưa và đọc sách đến chiều. Tôi cảm nhận chữ nghĩa xô lệch của ông. Phải ở trong một chiều kích nào đó của đời sống nghệ sĩ mới cảm được hết thân phận của người nghệ sĩ trình bày qua tác phẩm của họ…”.
Và anh đã để thời giờ tìm hiểu, thăm dò nhiều nguồn, nhiều người để đến “bái sư phụ” hay gặp “cố nhân”. Thật may mắn, qua một người bạn hướng dẫn, anh đã biết Bùi Giáng đang sống ở một ngôi nhà ở Gò Vấp Sài Gòn. “Bùi Giáng rất thông cảm với công việc của tôi – anh Phan nhớ lại – Ông cho biết mình rất thích âm nhạc. Đã từng muốn học chơi piano và sáng tác nhưng sau đó biết mình không có khả năng! Vì thế ông rất quý mến Trịnh Công Sơn, một người mà ông nói là “xuất quỷ nhập thần” ra vào như không trong âm nhạc. Viết lách hay sáng tác ai cũng có thể làm được! Nhưng để đi đến cùng thì chỉ có… số mệnh! Bùi nói: “Như con cá nó biết lội, con chim nó biết bay, thằng thi sĩ biết làm thơ! Nhưng thơ là gì thì hắn không biết…”.

Một tác phẩm tuyển chọn Thơ Bùi Giáng khá đặc sắc được Nhã Nam đầu tư và xuất bản gần đây
-“Bùi Giáng quan tâm đến tôi và công việc của tôi vì ông thích sự khác người – anh Phan cho biết. – Bùi nói, chơi nhạc đó là một công việc thú vị!. Mà lại sống về ban đêm, khi mọi người đã đi ngủ hết!. Phần lớn ai cũng có thể nói về nhịp điệu đời sống, và những gì chỉ thấy được rõ ràng ban ngày. Còn ban đêm hình như ít người biết rõ, thậm chí rất phân vân và mù mờ!. Nó như những khoảng tối trong tâm hồn…
-Tôi thường lại nhà và đưa Thi sĩ đi chơi!- anh Phan kể: - Hai nơi Bùi Giáng thường nói tôi chở đi là chùa Già Lam và một quán cháo lòng bò ngồi ngoài trời ở chợ Gò Vấp. Ông rất thích ăn cháo lòng ở đây! Nhưng không bao giờ gọi là cháo lòng bò mà ông thường tiếu ngạo bằng một thứ cháo khác của bò. Và cứ nhắc đi nhắc lại hai chữ cháo bò đó theo cách của ông và cười rất sung sướng! Cười rất to…”   
(Còn tiếp)
Nguyễn Hữu Hồng Minh

Thứ Năm, ngày 26 tháng 6 năm 2014

Nhà văn NguyễnTrí: Cảm ơn cái khổ... cái nghèo

Nhà văn Nguyễn Trí bộc bạch rằng, ông cảm ơn cuộc đời đã cho... cái khổ cái nghèo, bởi nhờ đó mà ông trưởng thành và biết trân trọng, yêu thương, tha thứ, chia sẻ với những số phận bất hạnh. Với ông, văn học cũng là thế giới kỳ diệu giúp ông tìm lại được chính mình.

Văn học Việt Nam luôn tiềm ẩn những bất ngờ thú vị, thỉnh thoảng trình làng những gương mặt độc đáo. Một cô gái quê mùa Nguyễn Ngọc Tư tận đất Mũi Cà Mau. Một lão nông Ngô Phan Lưu ẩn dật ở Phú Yên. Một nghệ sĩ xiếc lang thang Mạc Can của Sài Gòn… Và mới đây là một "giang hồ" Nguyễn Trí từ Bình Định phiêu bạt vào Đồng Nai. Những trang văn ngồn ngộn chất sống, thấm đẫm tính nhân bản của họ đã mang lại sự mới lạ khác biệt cho văn đàn.
Trong số những nhà văn "từ trên trời rơi xuống" ấy, Nguyễn Trí có một số phận đặc biệt khác thường. Vốn sinh ra trong gia đình khá giả, có học thức, nhưng do "thất cơ lỡ vận" mà ông rơi tận cùng xã hội, trải qua rất nhiều nghề mưu sinh: hái củi đốt than, nấu rượu lậu, nấu đường lậu, đãi vàng, đi trầm, tìm đá quý, làm… đồ tể (mổ lợn)… và dạy tiếng Anh bồi. Cặm cụi đầu tắt mặt tối mà ông vẫn không đủ sống, gia đình lại gặp thảm kịch: con gái chết oan, con trai tử nạn, một người con trai khác sa vào nghiện ngập phải đi tù, để lại hai cháu nội thơ bé cho ông nuôi. May mắn, ông có được người bạn đời hiền lành, giỏi chịu đựng, tảo tần, biết chia sẻ với chồng.
Từ bóng tối khổ đau ấy, Nguyễn Trí đã tìm đến trang viết để tự giải toả, không ngờ đó là cứu tinh giúp ông bước ra ánh sáng. Qua sự giới thiệu của nhà văn Hồ Anh Thái, tập truyện ngắn đầu tay "Bãi vàng, đá quý, trầm hương" của ông đã được Nhà xuất bản Trẻ ấn hành. Nhờ nỗ lực của nhà văn Trần Đức Tiến, gần như đến phút 89 tập truyện ấy đã "đăng quang" xứng đáng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013.
Bây giờ thì cái tên Nguyễn Trí đã dần quen thuộc với bạn đọc. Truyện của ông thường xuyên được báo chí đăng tải. Ông vừa được Nhà xuất bản Trẻ in tập truyện thứ hai mang tên "Đồ tể". Một số tác phẩm khác của ông cũng được lên kế hoạch ấn hành. Nhân dịp nhà văn Nguyễn Trí phóng xe máy chu du Sài Gòn, chúng tôi có cuộc trò chuyện với ông…
Nhà văn Nguyễn Trí cùng người bạn đời bao năm chia ngọt sẻ bùi.
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013 cho tập truyện "Bãi vàng, đá quý, trầm hương" có ý nghĩa ra sao đối với ông, thưa nhà văn?
- Bãi vàng cả đá quý lẫn trầm hương, trong thực tế đã lấy của tôi rất nhiều thứ. Nhưng giờ đây, tác phẩm đầu tay ấy và giải thưởng đã cho tôi cũng rất nhiều thứ. Tôi được tí tí vật chất đi kèm để cho bà xã có nụ cười, có tí danh không hão. Quan trọng nhất là có rất nhiều bạn văn.
- Từ khi nhận giải thưởng đến nay, ông cảm thấy cuộc sống và sáng tác của mình có gì thay đổi?
- Xưa nay tôi luôn sống trong mặc cảm tự ti, tự cho mình là thứ bỏ đi của đời sống. Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và sự ưu ái của bạn đọc đã cho tôi thấy cuộc đời thật đáng quý. Những điều ấy giúp công việc sáng tác của tôi thuận lợi hơn và tôi viết có trách nhiệm hơn rất nhiều.
- Bằng kinh nghiệm của mình, theo ông, văn chương có vai trò ra sao đối với đời sống? Giữa thời đại tràn ngập thông tin giải trí hiện nay, để thu hút người đọc, liệu văn chương có cần đề cao chức năng giải trí?
- Ngày nay văn hóa đọc có vẻ như bị lùi lại so với văn hóa nghe nhìn. Sách là một hình thức giải trí và học hỏi. Một cuốn sách hấp dẫn luôn lôi kéo người đọc đi đến trang cuối, nhưng nó phải gửi vào đó một thông điệp nào đó. Không có thông điệp thì cuốn sách ấy sẽ chết yểu. Tôi nghĩ tính giải trí cần phải có trong một tác phẩm, khô khan thì sẽ héo…
- Cho tới nay, trong số những truyện ngắn của mình, nếu chọn khoảng 3 truyện mà ông tâm đắc nhất, ông chọn những truyện nào?
- Tôi tâm đắc nhất ba truyện "Đồ tể", "Tiền rừng" và "Bất lực".
- Vì sao, thưa nhà văn?
- Đó là tiếng kêu thống thiết trước sự tàn ác của cái nghèo. Vâng, nghèo túng làm chúng ta vô cảm trước sự tàn sát. Tôi muốn nói tới cái nghèo từ vật chất đến đến nghèo cả lương tri. Đó là sự thật!
- Vâng, một sự thật đớn đau mà chính ông đã từng trải và trả giá, một sự thật mà không phải ai cũng có thể thấu hiểu. Đã có bao giờ ông rơi nước mắt trước số phận của nhân vật mình ngay trên trang viết?
- Đời tôi cực khổ lắm! Có thể vì đi qua quá nhiều những khổ hạnh nên tôi đâu còn có nước mắt mà rơi, nó chảy ngược vô bụng rồi tuôn ra chữ đấy thôi…
- Dù sao khi nước mắt tuôn thành chữ như ông cũng còn may mắn hơn nhiều số phận bất hạnh khác. Ông thường sáng tác vào khoảng thời gian nào trong ngày?
- Nhà tôi gần nông trường cao su. Mỗi buổi sáng tôi vừa đi trong lô cao su vừa viết trong đầu. Tám giờ tối tôi ngủ, ba giờ thức dậy và gõ vào máy tính những cái đã định hình.
- Sau khi nhận giải thưởng, ông có được nhiều bạn văn chương. Ông cảm nhận ra sao tình đồng nghiệp? Có bao giờ ông thất vọng về một bạn văn nào đó vì thái độ ứng xử của họ đối với mình?
- Bạn văn ai cũng quý tôi, không phải tôi là tác giả đoạt giải, mà vì tinh thần biết dốt của tôi. Tôi sống theo kiểu "tứ hải giai huynh đệ", tất cả đều là anh em, ai cũng là thầy mình. Tôi không khiêm tốn giả hiệu đâu. Thật lòng đấy. Có thể vì kiểu sống này nên chưa người bạn nào phiền hà tôi.
- Vậy còn gia đình, đặc biệt là hiền nội có hỗ trợ gì cho những trang văn của ông?
- Bà xã là chỗ dựa tin cậy của tôi. Bà cũng không… sai vặt, mà luôn luôn để yên khi tôi ngồi vô máy. Lúc ấy, nếu có bạn bè tới bà cũng bảo ổng đi dạo trong lô cao su rồi.
- Cuộc sống của ông và gia đình hiện nay ra sao?
- Gia đình tôi sống rất đơn giản nên vật chất không làm khó được chúng tôi. Nhà sát bên trường học, bà xã và cái quán xi rô đá bào cũng sống được. Nhuận bút của tôi cũng hỗ trợ thêm cho gia đình. Nhờ vậy, tôi yên tâm sáng tác

  Phan Hoàng