Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014

Chất lãng mạn đang ngày một ít đi


Mácxen Aymê là nhà văn hiện đại người Pháp. Ông sinh năm 1902 và mất năm 1967. Tác phẩm của ông từng được giới thiệu rộng rãi ở Liên Xô và các nước XHCN khác với lời đánh giá rất cao: "Truyện ngắn của Mácxen Aymê bừng sáng lên ánh tinh tế của cái cười châm biếm, sức sống của một trí tuệ tươi trẻ, sự trong trẻo lành mạnh ở cách nhìn đời và chất muối hài hước sâu đậm trong văn phong…".
Năm 1983, tập truyện ngắn "Người đi xuyên tường" của ông đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt và lần đầu tiên xuất bản tại Việt Nam qua Nhà xuất bản Tác phẩm mới.
Trong "Người đi xuyên tường" có truyện ngắn "Người về bét". Truyện mở đầu bằng: "Có một tay đua xe đạp tên là Máctanh bao giờ cũng về bét và người ta cười khi thấy anh tụt lại quá xa sau những tay đua khác. Chiếc áo may-ô của anh màu xanh lam rất dịu với một nhánh hồng hoang đính ở ngực áo bên trái. Gò lưng trên ghi đông với chiếc khăn tay ngậm giữa hai hàm răng, anh đạp cũng kiên cường như người về nhất. Những lúc leo dốc chật vật, anh ráng sức mắm môi mắm lợi đến mức đôi mắt anh long lanh rực lửa. Và khi thấy con mắt sáng và những bắp thịt cuồn cuộn do phải nỗ lực của anh, ai nấy đều nói:
 - Kìa, Máctanh có vẻ to khỏe ra. Thế thì càng hay… Lần này, anh ta sẽ tới đích ở giữa tốp.
Nhưng lần ấy cũng như mọi lần khác, Máctanh vẫn về bét…".
Trong "Người về bét", còn có một đoạn rất đáng chú ý:
"Một ngày hè, anh đương đua xe… anh thấy xe bị xẹp lốp. Khi anh đang thay săm bên vệ đường, có hai người đàn bà lại gần. Một trong hai người đó, tay bế một đứa bé vài tháng tuổi, hỏi anh:
- Ông có biết một người tên là Máctanh đua xe đạp không?
Anh trả lời như một cái máy:
- Chính tôi, Máctanh đây. Chính tôi là người về bét. Lần khác sẽ khá hơn.
- Tôi là vợ thầy nó đây, Máctanh ạ.
Anh ngẩng đầu lên, vẫn tiếp tục lắp săm vào vành và âu yếm nói:
- Tôi rất hài lòng… Tôi thấy con cái cũng chóng lớn - Anh nói thêm và nhìn đứa bé ngỡ là con mình.
Một vận động viên đua xe đạp (ảnh chỉ mang tính chất minh họa).
Vợ anh có vẻ ngượng nghịu và trỏ người thiếu phụ trẻ cùng đi:
 - Máctanh à - Chị nói - con gái thầy nó đây, giờ cao lớn bằng thầy nó rồi. Nó đã lấy chồng và các thằng cu của thầy nó cũng đã có vợ…
 - Tôi rất hài lòng… Tôi cứ tưởng chúng nó còn trẻ hơn. Thời gian đi mau thật… Thế bu nó đang bế cháu nội của tôi đấy à?
Thiếu phụ trẻ quay mặt đi, còn bà mẹ trả lời:
 - Không, Máctanh ạ, không phải cháu nội ngoại gì đâu. Con trai tôi đấy… Tôi nghĩ thầy nó không trở về…".
Loại trừ những chuyện khác, theo tôi, Máctanh chính là một người yêu nghề, luôn hết mình vì nghề đến mức sẵn sàng quên mọi thứ để "tử vì đạo". Và anh cũng là người rất phi thực tế.
Riêng tôi coi Máctanh thuộc típ người lãng mạn và tôi đánh giá cao phẩm chất lãng mạn trong con người Máctanh. Hay nói một cách khác: "Máctanh là người đua xe đạp lãng mạn nhất trần gian".
Trong bóng đá, người Pháp có giai đoạn từng lãng mạn như thế.
Ở mùa World Cup năm 1982 tại Tây Ban Nha, trong một trận đấu quan trọng theo thể thức knock-out với người Đức, ở hiệp phụ, người Pháp đã dẫn trước 3 - 1. Vậy mà do lãng mạn (kể cả chơi đẹp, chơi tấn công, chơi cống hiến…) mà bị người Đức loại sau khi phải đá luân lưu 11m.
Ở ta, trong chốn văn chương, cũng từng có một số thi sĩ, văn sĩ như thế. Có khi chỉ vì quá lãng mạn, quá đắm đuối với nghề mà cuộc sống của cá nhân (có khi của cả gia đình) lâm vào cảnh vất vả, đói khổ, chịu nhiều thua thiệt. Có phải vì thế mà có lần nhà thơ Xuân Diệu đã phải thốt lên: "Cơm áo không đùa với khách thơ!".
Cách nay mấy năm, tôi có quen biết một thi sĩ. Ông làm thơ từ lâu, có lần được nhà thơ lớn Chế Lan Viên khen và được coi là một người dám "tử về thơ". Rồi vì quá đắm đuối với thơ, ông và cả gia đình ông đều gặp khó khăn. Ông hiện vẫn trú ngụ trên một mặt bằng là trần của một cái bếp trong một biệt thự cũ bằng cách dựng một cái nhà tạm. Cho dù đã trên 70 tuổi, nhưng mãi đến năm 2012, ông mới trở thành hội viên Hội Nhà văn.
Đó là một ví dụ. Tôi tin trong đời thực, trường hợp nhà thơ trên, không phải là duy nhất. Nhưng tôi cũng tin: Những thi sĩ lãng mạn kiểu trên, nếu còn, đa phần là những người cao tuổi và kiểu người như họ, đa phần xuất hiện vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX đổ về trước. Còn bây giờ ư? Thật hiếm và hầu như không có nữa.
Cách nay chừng một thập kỷ, từ Sài Gòn, có một người gửi cho tôi một trăm nghìn đồng bảo là tiền nhuận bút cho một bài thơ phổ nhạc của tôi. Tôi cũng mừng. Sau đó, trong một lầ
n đi công tác, tôi muốn tìm gặp người đó để cảm ơn. Nhà thơ Cao Xuân Sơn bảo: Người phổ nhạc bài thơ của anh giờ đã bỏ nghề, đi ra miền Trung buôn đường dài rồi. Tôi hay tin mà cụt hứng.
Một lần tôi đặt ra câu hỏi với không ít băn khoăn: "Thế chẳng nhẽ chất thực tế, chất thực dụng đang lấn át chất lãng mạn? Và như thế thì đang tốt lên hay xấu đi?". Một nhà thơ cao tuổi, người rất giàu trải nghiệm, đã trả lời: "Chất lãng mạn ngày càng ít đi ở trong mọi lĩnh vực, mọi đời sống, mọi cuộc đời - đó là điều chắc chắn, dễ nhận thấy. Cũng chẳng tốt lên hay xấu đi. Đơn giản vì mọi thứ đều là sản phẩm của một thời. Xét cho cùng, con người cũng thế thôi. Riêng đối với những người làm văn chương mà thiếu đi phẩm chất này, dù với lý do gì, âu cũng là điều đáng buồn và đáng tiếc"


  Đặng Huy Giang

Huy Cận và mối sầu "thượng đẳng như lai"

Nhà thơ Huy Cận
… A thân thể! một cái bình tội lỗi
Đất sơ sinh đã hóa lại bùn lầy…
Đọc hai câu thơ trên của ông, tôi thấy lạnh cả người .

Lần ấy, Hội Văn học nghệ thuật Hà Tĩnh tổ chức một buổi giao lưu thơ nhạc với những nhà thơ, nhạc sĩ người Hà Tĩnh đang sống ở Thủ đô. Tôi cũng được mời đến đọc thơ. Khi tôi bước vào hội trường đã thấy mọi người vây quanh nhà thơ Huy Cận ngồi ở hàng ghế đầu. Ông rất yếu, không lên đọc thơ được, một nghệ sĩ ngâm thơ của ông. Đến lượt tôi lên đọc thơ, đọc xong có vài người lên tặng hoa. Tôi ôm bó hoa được tặng xuống hàng ghế đầu đến chỗ nhà thơ Huy Cận ngồi, cúi đầu chào và tặng hoa ông. Ông ngước nhìn tôi, cái nhìn mệt mỏi. Một lúc, ông mới nhận ra tôi, ông thều thào nói: "Kỳ Anh, Dương Kỳ Anh…".
Chỉ mấy ngày sau, ông đã ra đi, đi về cõi vĩnh hằng…Tôi đâu ngờ, đó là lần cuối cùng được gặp ông.
Tôi đội tang đen và mũ trắng/Ra đi, không hẹn ở trên đường…Tôi lại nhớ đến hai câu thơ trên của ông.
Dạo ông còn làm Bộ trưởng (Bộ trưởng không bộ), có lần hình như là năm 1989 thì phải, tôi đi CHDC Đức họp Tổng biên tập báo thanh niên các nước XHCN (đó cũng là lần họp cuối cùng), lúc trở về Việt Nam, tại sân bay Berlin, mấy người bạn đi tiễn tôi bảo: "Này, nhà thơ, à, Bộ trưởng Huy Cận đang ở trong phòng an ninh của sân bay". "Lạ quá, sao có chuyện ấy được, Bộ trưởng đi hộ chiếu ngoại giao cơ mà!". Tôi không tin.
Khi lên máy bay, tôi gặp ông, thấy gương mặt ông không vui, hình như có chuyện hiểu lầm gì đó.
Sau này tôi hay gặp ông ở tòa soạn Báo Tiền Phong.
Chuyện không vui với ông khi con trai ông đến gặp tôi mấy lần đề nghị đăng bài "kiện" lại bố về chuyện nhà cửa, sân vườn gì đó!
Nhà thơ Huy Cận đến gặp tôi, gọi điện cho tôi nhiều lần. Ông bảo: "Ông Kỳ Anh ơi, thôi nhé, thôi đừng đăng nhé… Chuyện buồn trong nhà mình… Thôi nhé, ông Dương kỳ Anh… thôi nhé!".
Những lần như vậy, tôi thấy ông buồn lắm.
Có lần, ông gửi cho tôi một bài thơ mới làm để đăng báo. Tôi vốn rất yêu thơ ông, nhưng bài thơ ông gửi chưa tương xứng với tài năng của ông nên tôi có ý chần chừ. Ông đi xe ôtô đến tận tòa soạn gặp tôi mấy lần để hỏi bao giờ thì đăng? Khi thơ đã đăng, ông lại đến hỏi xin mấy tờ báo. Tôi nói với mấy anh em làm thơ trong tòa soạn: "Một nhà thơ lớn, nổi tiếng như thế mà còn… như thế, quan tâm đến tác phẩm của mình như thế… Đó chẳng phải là bài học cho chúng ta hay sao".
 …Một tấm linh hồn nhỏ/Mang mang thiên cổ sầu…
"Thơ Huy Cận vốn là sầu, nhưng là sầu thượng đẳng như lai" - Nói về nỗi sầu của Huy Cận, bất giác tôi lại nhớ tới nhận xét trên của Bùi Giáng.
Đúng là, Huy Cận có những nỗi sầu thượng đẳng, mà bài "Tràng Giang" là một ví dụ:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/Con thuyền xuôi mái nước song song/Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/Củi một cành khô lạc mấy dòng  
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều/Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/Sông dài, trời rộng, bến cô liêu  
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng/Mênh mông không một chuyến đò ngang/Không cầu gợi chút niềm thân mật/Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc /Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa/Làng quê dờn dợn vời con nước/Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Có một dạo, Huy Cận viết thơ vui. Thật lạ, thơ vui của ông đọc cũng rất hay: "Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm"

  Dương Kỳ Anh

Lời tựa tập thơ: "Ở giữa chông chênh"

Trong cuộc đời, đôi khi ta cảm thấy lòng mình bỗng dưng trống trải, chợt buồn vui mênh mang… Phải chăng những cảm xúc vô hình ấy là sự tiếp nối trong vòng xoay giữa tồn tại và hư vô, giữa thực và ảo của cái tôi, cái cảm giác sống?
Bìa dự kiến xuất bản 


Cảm giác sống, không chỉ là tính hiện thực của tồn tại người, mà còn là sự giao thoa giữa một bên là những mong muốn được thể hiện, được thỏa mãn bản năng sống của cái tôi với cái bên kia của sự đối lập là các định chế xã hội luôn phản ánh sự xung đột trong cái tôi.
Theo nghĩa đó, cảm giác sống là sự biểu hiện những giấc mơ đời ở những cung bậc tình cảm khác nhau của cuộc sống, của sự lựa chọn theo nguyên tắc của khoái cảm. Chẳng thế, nhà Phân tâm học người Áo, - Phơrớt đã có một nhận xét xác đáng về giấc mơ khi ông cho rằng: “Giấc mơ như một sự thỏa hiệp giữa những yêu cầu của cái bản năng bị dồn nén với sự kháng cự lại của một sức mạnh kiểm duyệt trong cái tôi”. Chính vì vậy, lý trí thường bị gục ngã một cách không tự giác trước sự cám dỗ của tính dục và khi tính dục đạt được khoái cảm nó sẽ thức tỉnh lý trí của con người. Đó cũng là khi con người chợt cảm nhận được cái gì đó chông chênh hoặc trôi nổi ở giữa chông chênh của dòng đời:

Làm thầy
đôi khi cũng khó
Khi không gặp cảnh trớ trêu
Khi học trò cảm nắng ngỏ “lời yêu”
Sự ngưỡng mộ - thầy hóa thành “thần tượng”.
                                                     (Cảm nắng)
Đâu đó, trong cuộc đời ta vô tình nhầm lẫn thật dễ thương giữa người đã yêu hoặc mới quen rồi chợt bừng tỉnh trong cơn mê khi hạnh phúc nỡ bỏ quên trong ngăn kéo của thời gian:

Em xin giọt đắng tình yêu,
Lãng quên nhầm gởi một người mới quen!
                                                    (Lãng quên)
Như thế, ta cũng thường cảm nhận mơ hồ về một cái gì đó đã, đang và sẽ mất… để rồi khi ngồi một mình chợt cảm thấy bâng khuâng của hoài niệm và hy vọng. Hy vọng thật mỏng manh như làn gió heo may tím biếc của nàng thơ:

Ta không nhau
anh sẽ tựa vào thơ
Viết tiếp bản tình ca dang dở
Ô cửa sổ gió heo may lặng lẽ
Thả vào thơ tím biếc giọt ngu ngơ.
                                                 (Ta không nhau)
Ở giữa chông chênh, ký ức, dòng chảy thời gian trong số phận mỗi con người khi thầm lặng, yên bình lúc cuộn trào thác lũ, tựa như tiếng nói thầm kín của tâm hồn trong hành trình cuộc đời mà mấy ai bày tỏ? Đôi khi được bày tỏ có thể là những tiếng thở dài khôn nguôi của sự nuối tiếc, nhưng có thể lại là ngọn lửa lòng thổn thức bởi khoái cảm của sự thăng hoa đang loay hoay khi con tim nằm ngược:

Làm thơ về em,
Như kẻ nô tỳ bỗng dưng ngoan ngoãn.
Nụ hôn loay hoay con tim nằm ngược,
Còn những câu thơ ở giữa chông chênh.
                                                  (Ở giữa chông chênh)

Sài Gòn một ngày tháng năm, 2014 - Đào Duy Thanh



Thứ Hai, ngày 08 tháng 9 năm 2014

Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam

Xác ướp có một vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển nền văn hóa của nhân loại bởi chúng thể hiện trình độ phát triển của một nền văn minh, cũng như chứa đựng rất nhiều thông tin có giá trị truyền lại cho hậu thế.  
Xác ướp bà phi dòng họ Trịnh
Ngôi mộ chứa xác ướp này bắt đầu được các nhà khảo cổ nghiên cứu từ năm 1957 tại tỉnh Thanh Hóa. Trước đó, mộ đã bị người dân địa phương đào, xác ướp bị đưa ra khỏi quan tài, vùi lấp tạm bợ giữa đồng ba ngày rồi chôn lại trong quan tài ngập nước gần một tháng.
Khi các nhà khảo cổ tiếp cận, xác ướp vẫn còn nguyên vẹn và bốc mùi dầu thơm. Sau đó, xác ướp được tắm lại bằng nước sạch năm lần vẫn không hết mùi thơm. Bộ xiêm y của xác ướp còn rất tốt dù đã bị người đào phá rách.
Bia mộ đề thời gian chôn cất thuộc niên hiệu Vĩnh Trị (1676 – 1680). Quan tài chứa xác ướp được đóng bằng gỗ ngọc am. Những hiện vật còn sót lại là sáu chiếc áo gấm thêu kim tuyến. Xác ướp được các chuyên gia xác định là một bà phi thuộc dòng họ Trịnh.
Điểm đặc biệt của ngôi mộ này là dấu vết của dung dịch bảo quản xác lan tỏa ra ngoài khiến vùng đất quanh mộ nhiễm mùi thơm một thời gian dài mới hết.
Xác ướp vua Lê Dụ Tông
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 1
Các chuyên gia xem xét xác ướp vua Lê Dụ Tông.
Mộ vua Lê Dụ Tông được tìm thấy từ năm 1958, tại thôn Bái Trạch, xã Xuân Giang, huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa. Đến năm 1964, mộ mới được khai quật.
Khi được khai quật, thi hài vua Lê Dụ Tông đã bị đét lại, có màu xám nhạt nhưng sau đó toàn thân chuyển thành màu xám đen. Các khớp xương của nhà vua vẫn còn có thể co duỗi mềm mại và nhiều vùng da thịt vẫn còn đàn hồi. Chất dầu thơm ngấm vào da, và qua da vào các tạng nên sực mùi thơm.
Quan tài của vua Lê Dụ Tông được làm bằng gỗ quý sơn son. Hiện vật gồm chăn bông, vải liệm, áo mặc, giấy bản… đẫm dầu thơm. Những chiếc áo hoàng bào, long bào có thêu nhiều hình rồng năm móng, khăn gấm thêu hình rồng cùng tấm bia đá khắc chữ Lê triều Dụ Tông hoàng đế đã khẳng định thân thế của nhà vua.
Việc tìm thấy xác ướp vua Lê Dụ Tông là một phát hiện chấn động trong ngành khảo cổ và sử học Việt Nam đương thời.
Xác ướp vua Lê Dụ Tông được bảo quản ở tầng hầm Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trong 46 năm và được hoàn táng tại tỉnh Thanh hóa vào tháng 1/2010.
Xác ướp bà Phạm Thị Đằng
Ngôi mộ chứa xác ướp nằm ở một gò đất của thôn Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cuộc khai quật diễn ra trong tháng 11/1968.
Ngôi mộ cổ này xây theo kiểu trong quan ngoài quách, được bảo vệ một cách rất chắc chắn và bí mật. Bên ngoài quan tài là lớp quách dày gần 30cm, được đổ bằng 13 mẻ hợp chất cứng, bền, rất khó phá. Quan tài dày gần 10cm, bằng gỗ ngọc am và gỗ lim ghép lại với nhau.
Tình trạng của xác ướp trong mộ khá hoàn hảo. Đó là người phụ nữ khoảng 60 tuổi, tóc dài chớm hoa râm, làn da toàn thân vẫn trắng mịn, mềm mại, các khớp chân, tay có thể co duỗi dễ dàng. Xác ướp của hốc mắt vẫn còn rõ lòng đen, trắng, hai hàm răng nhuộm đen cũng chưa rụng chiếc nào...
Xác ướp được mặc 35 chiếc áo thụng bằng gấm, lụa, 18 chiếc váy vải, lụa. Các hiện vật khác gồm hàng chục chiếc gối chèn lớn nhỏ, quạt nan giấy, túi trầu bằng gấm thêu với 10 miếng trầu đã têm và 10 miếng cau tươi, túi gấm đựng thuốc lào, khăn lau miệng bằng lụa, mũ lụa.
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 2
Chuỗi hạt trong mộ bà Phạm Thị Đằng.
Điều đặc biệt là trên ngực xác ướp còn được đặt một chuồi tràng hạt kết bằng 101 hạt gỗ đen, và một túi gấm đựng hai quyển Đại tạng kinh và Tu tinh thổ tiệp kinh.
Về sau, xác ướp được xác định là bà Phạm Thị Đằng, phu nhân của quan thượng phụ Đặng Đình Tướng (1649 - 1735).
Xác ướp bà Bùi Thị Khang
Mộ bà Bùi Thị Khang bị bom Mĩ quật lên vào năm 1971 tại gò Lăng Dứa, xã Thượng Lâm, huyện Mỹ Đức, Hà Tây. Cũng như Phạm Thị Đằng, bà Bùi Thị Khang cũng là phu nhân của quan thượng phụ Đặng Đình Tướng.
Thân thế của bà được xác định qua tấm minh tinh (tấm vải rất dài viết chữ Hán cho biết thân phận của người chết) trong quan tài.
Mộ bà Bùi Thị Khang cũng có cấu trúc tương tự mộ bà Phạm Thị Đằng, nhưng xác ướp của bà không được bảo quản tốt bằng, nguyên nhân do nấm mộ của bà Khang bị bom đạn làm nứt vỏ quách.
Những đồ vật táng theo bà Bùi Thị Khang cũng ít hơn bà Đằng, chứng tỏ bà mất lúc Đặng Đình Tướng chưa làm quan lớn. Còn bà Đằng mất vào lúc phu quân của mình đã công thành danh toại lẫy lừng.
Dù bị tổn hại và không có nhiều hiện vật, mộ bà Bùi Thị Khang chính là chìa khóa để giải mả những uẩn khúc xung quanh mộ bà Phạm Thị Đằng, ngôi mộ có xác ướp được bảo toàn hoàn hảo cùng hệ thống hiện vật phong phú.
Xác ướp Đại Tư đồ Nguyễn Bá Khanh
Ngôi mộ cổ được phát hiện vào cuối năm 1982, ở xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hải Dương. Dân làng phát hiện ra ngôi mộ này khi đào mương thoát nước và đã tự ý bật nắp ngôi mộ mà không thông báo cho chính quyền địa phương.
Khi các nhà khảo cổ tiếp cận hiện trường, xác ướp trong ngôi ngôi mộ đã bị oxy hóa, bốc mùi hôi thối.
Ngôi mộ này được xây theo kiểu trong quan ngoài quách, với lớp quách là hợp chất được làm từ vỏ sò đốt cháy trộn với mật đường và xơ giấy bản, quan tài làm bằng gỗ ngọc am.
Xác ướp được mặc 12 lớp áo, để bên ngoài 20 bộ. Số vải dùng để khâm liệm là 500m2. Các hiện vật khác gồm một hộp đựng dầu bằng gỗ và một cái quạt. Tấm minh tinh với 72 chữ có ghi chức danh mạ vàng vẫn còn nguyên.
Danh tính của xác ướp được xác định là Đại Tư đồ, quan Thái giám Nguyễn Bá Khanh mất vào thế kỷ 18, thọ 64 tuổi.
Ngôi mộ này đã làm sáng tỏ nhiều phương diện về phong tục tập quán, nghề cổ truyền, về văn hóa của người Việt thế kỷ 18.
Xác ướp vợ chồng Bá hộ Hạ Quang Quới
Tháng 12/1985, các nhà khảo cổ bắt đầu khai quật một ngôi mộ cổ ở tỉnh Bình Dương. Theo khẩu truyền, đây là mộ của một thương gia nổi tiếng, đã được phong chức Bá hộ vào thời chúa Nguyễn, có tên là Hạ Quang Quới.
Mộ có cấu tạo khá lạ. Quách mộ được đúc bằng hợp chất vững chắc và được chia thành hai khoang rỗng. Bên trong hai khoang quách có hai quan tài được ghép bằng gỗ xẻ và chốt bằng đinh sắt. Nắp thiên có dạng khun tròn, đáy áo quan bằng phẳng có tô lớp vôi bên ngoài.
Xác ướp trong hai quan tài được xác định là một người đàn ông và một người đàn bà, đều đã bị phân hủy khá nặng nề. Trong đó, xác người đàn bà vẫn còn giữ lại được mái tóc màu ngà đỏ. Quần áo mặc trên hai xác ướp cũng bị phân hủy, để lại gần 60 chiếc cúc áo bằng đồng, mã não.
Những hiện vật thu được trong mộ rất phong phú, gồm một chiếc mão có gắn biển mạ vàn, một khuyên màu vàn, một di vật sắt hình móng ngựa, giấy sách, khung gỗ, đồ đồng có nồi, mâm, thau, siêu... Đồ sứ có tô, tách, muỗng, bình trà, bình rượu... Những hiện vật này thể hiện một vị thế và tiềm lực của một thương gia có tiếng trên đất Bình Dương ngày xưa.
Dù xác ướp không còn nguyên vẹn nhưng mộ vợ chồng Bá Hộ Hạ Quang Quới là một mộ song táng hiếm hoi được khai quật ở Việt Nam. Ngôi mộ này chứa đựng nhiều thông tin về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng của miền Nam Việt Nam trong một thời kỳ lịch sử.
Xác ướp bà Nguyễn Thị Hiệu
Ngôi mộ chứa xác ướp được khai quật năm 1994, tại khu vực Xóm Cải, quận 5, TP HCM. Theo lời đồn đại từ xưa, đây là mộ của một nhân vật đặc biệt trong vương triều nhà Nguyễn.
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 3
Xác ướp bà Nguyễn Thị Hiệu.
Mộ được chôn rất sâu, phải mất 40 ngày, 15 thanh niên mới đục đến được đáy quách sâu gần 8m. Vỏ quách kiên cố như tường thành, được làm bằng hợp chất gồm vỏ sò nung, cát, than gỗ và mật ong. Quan tài lớn hơn bình thường, được ghép bằng hai lớp gỗ qu‎ý. Dưới nắp quan tài là hai lớp chiếu cói và một lớp giấy bản dày hơn 5 cm.
Ngập trong chất dầu thơm có màu đỏ, xác ướp được bọc trong chín lớp áo vải, lụa, gấm quý. Đây là một phụ nữ trạc 60 tuổi, tóc cắt ngắn chớm vai, da dẻ mịn màng và hơi có màu đỏ sạm của dầu thơm. Các khớp xương của xác ướp vẫn còn co duỗi rất tốt, da thịt mềm mại, rất ít có dấu hiệu bị phân hủy.
Ngoài các đồ tùy táng thông thường, hiện vật trong mộ có nhiều vàng bạc, trong đó, có một đôi giày bằng vàng. Đây là trường hợp đặc biệt, khác hẳn với hầu hết các xác ướp đã từng khai quật. Đây có thể là lý do khiến huyệt mộ được đào sâu và xây dựng hết sức kiên cố.
Từ tấm minh tinh có dòng chữ Hoàng gia và nhiều hiện vật khác, danh tính người trong mộ dược xác định là bà Nguyễn Thị Hiệu, một nhân vật hoàng thân quốc thích dưới triều vua Gia Long.
Xác ướp bà Nguyễn Thị Hiệu hiện được bảo quản và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP HCM.

Xác ướp ở vườn đào Nhật Tân
Ngôi mộ cổ tại vườn đào Nhật Tân, (Hà Nội) được phát hiện cuối tháng 4/2005. Những người phát hiện ra mộ đã tự ý phá nắp quách, nắp quan khi chưa có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền.
Cấu trúc mộ cổ ở vườn đào gồm ba lớp. Lớp quách hợp chất ngoài cùng dày 1,5 cm làm bằng vôi vữa, mật, nước gạo nếp, giấy bản trộn. Kế tiếp là lớp quách gỗ bọc ngoài quan tài, dày 9 cm. Quan tài đóng bằng gỗ vàng tâm dày 10cm.
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 4
Xác ướp ở vườn đào Nhật Tân.
Xác ướp bên trong quan tài là một người đàn ông khoảng 60 tuổi, còn nguyên vẹn, được bọc trong nhiều lớp vải và ngâm dầu thơm. Xác ướp đã bị những người đào mộ làm xuất lộ trước khi có sự can thiệp của các nhà khảo cổ.
Các hiện vật trong mộ gồm có: gối đầu, gối chèn, đôi hia thêu, 4 áo lụa, 10 áo gấm, 9 áo liệm, hai túi vải (chứa các hiện vật có thể là trầu cau hoặc các vị thuốc). Các hiện vật cho thấy đây là một người giàu có, sống vào cuối thế kỷ 18.
Danh tính của xác ướp không được xác định. Xác ướp đã được liệm, đưa vào quan tài và chôn cất tại nghĩa trang Nhật Tân ngày 7/5/2005.
Theo nhận định của các nhà khảo cổ, đây là một trong số ít mộ có xác ướp và nhiều hiện vật còn nguyên vẹn ở miền Bắc Việt Nam.
Xác ướp Quận công ở Hưng Yên
Cuối năm 2007, doanh nghiệp tư nhân Phúc Nga đã phá hủy một ngôi mộ cổ nằm ở xã Trung Hưng, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, gây nhiều bức xúc trong dư luận.
Theo lời kể của những người tham gia phá mộ, quách của mộ là một khối hợp chất khổng lồ, dày đến nửa mét. Không thể phá bằng cách thủ công nên họ đã dùng khoan máy để phá. Dưới nắp quách nặng hàng chục tấn là một quan tài lớn phủ sơn ta đỏ au. Khi quan tài bật nắp, mùi dầu thơm lan tỏa cả một vùng rộng lớn.
Trong quan tài là xác ướp một cụ ông, còn nguyên vẹn như khi mới chôn, da dẻ mềm mại, hồng hào. Xác ướp được bọc trong nhiều lớp quần áo, chăn gối và ngập trong tinh dầu mầu nâu, đặc sánh.
Những người phá mộ dùng dao, kéo cắt hết quần áo của thi hài ra để tìm châu báu. Xác ướp bị bẻ gập chân, tay, đầu cho vừa với tiểu sành và được chôn ở một mộ mới mà doanh nghiệp Phúc Nga xây sẵn.
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 5
Những đồng tiền cổ chôn theo xác ướp.
Đồ tùy táng trong mộ gồm quần áo, chăn gối, những chiếc hài và hàng trăm đồng tiền cổ… bị những người phá mộ chia nhau và phân tán khắp nơi.
Theo lời kể của một người phá mộ, sâu khi quật mồ ông Quận công, tất cả nhưng người tham gia phá mộ và ông chủ doanh nghiệp Phúc Nga đều không ngủ được, vì cứ nhắm mắt vào là như có người dựng dậy.
Dân địa phương không có tài liệu gì ghi chép về ngôi mộ cổ này. Người dân chỉ được nghe truyền miệng lại rằng, đây là ngôi mộ cổ của một ông Quận công thời Hậu Lê.
Xác ướp được cho là danh tướng Lý Thường Kiệt
Tháng 5/2010, giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam xôn xao về một ngôi mộ được nhiều người tin là nơi an táng của Thái úy L‎ý Thường Kiệt.
Ngôi mộ vốn bị chôn vùi dưới một gò đất tại thôn Ngọc Quỳnh, thị trấn Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên, được người dân địa phương phát hiện vào năm 1979. Khi ấy, cho rằng trong mộ có vàng bạc châu báu, họ quyết định khai quật toàn bộ khu mộ với tâm lý tìm của cải.
Theo lời những người quật mộ kể lại, ngôi mộ là một khối rắn chắc như bê tông, rộng đến ba gian nhà, gồm hàng chục lớp kết thành. Ở bên trong là chiếc quan tài sơn 4 chữ Nho lớn, được người dân tạm dịch là “Đại thị công khanh” hay “Hoạn quan” trên ván quan.
Bên trong quan tài, dưới tấm vải liệm màu mỡ gà là xác ướp của một người đàn ông trong như đang nằm ngủ, đầu đội mũ cánh chuồn, râu tóc còn nguyên. Ban đầu, xác ướp lan tỏa mùi dầu thơm, nhưng sau đó nhanh chóng xạm đi và toả ra mùi xú uế.
Hiện vật kèm theo trong quan tài là 36 chiếc áo có chất liệu như vải lanh. Ngoài ra, còn một chiếc quạt, hai chiếc hộp gỗ đựng chất liệu giống sáp và khoảng 300m vải chèn trong quan tài.
Sau khi đào mộ, người dân địa phương đã dùng cào kéo xác xuống một hồ đất đào sẵn và lấp lại. Đến năm 1998, mộ lại được khai quật lần nữa. Lúc này xác ướp chỉ còn xương sọ và các xương lớn. Phần xương này được xếp vào tiểu và dân làng lập mộ xây cất để thờ cúng.
Bí ẩn 10 xác ướp cổ nổi tiếng của Việt Nam - Ảnh 6
Con cháu họ Ngô viếng mộ ở thôn Ngọc Quỳnh vào cuối tháng 5/2010.
Bằng phương pháp tâm linh, những người đứng đầu dòng họ Ngô ở Việt Nam cho rằng ngôi mộ chứa xác ướp trên là mộ của tướng Lý Thường Kiệt (có tên sinh thời là Ngô Tuấn). Tuy nhiên, giới sử học vẫn còn nhiều ý‎ kiến khác nhau về vấn đề này.
Theo giới khảo cổ học, cho đến nay, những mộ táng có chứa xác ướp (thượng gọi là mộ hợp chất) được khai quật ở Việt Nam đều có niên đại ở thời Hậu – Lê và thời Nguyễn. Những ngôi mộ này được kiến tạo rất công phu và tốn kém với quy mô rất đồ sộ, thường dành cho tầng lớp hoàng gia quý tộc, những người giàu có và quyền thế trong xã hội.
Mộ hợp chất có đặc điểm “Trong quan ngoài quách”. Lớp quách bên ngoài được đúc bằng một hỗn hợp gồm nhiều vật liệu khác nhau như vôi sống, vôi tôi, vỏ nghêu sò hay san hô nghiền vụn, cát, chất kết dính như mật, mật đường, mật ong, nhựa dây tơ hồng, ô dước, giấy gió, than hoạt tính… tạo nên một lớp bảo vệ kiên cố, không thấm nước. Các quan tài được đóng bằng gỗ quý, thường được ghép mộng, riêng ván thiên được đóng đinh rất chắc chắn.
Trong các mộ thường có một tấm ván 7 lỗ, được gọi là ván thất tinh. Dưới chiếc ván này thường được rải chè hoặc gạo rang. Phía trên ván thất tinh là thi hài. Các xác ướp thường được mặc rất nhiều lớp áo và chèn gối, vải xung quanh. Dưới tấm ván thiên thường phủ một tấm vải liệm thêu kim tuyến tên, tuổi và chức danh người chết, gọi là tấm minh tinh.
Các xác ướp được khai quật đều sũng một loại dầu thơm, là dung dịch bảo quản xác ướp của người xưa. Nhiều ý kiến cho rằng loại dầu này chính là tinh chất gỗ ngọc am mà người Trung Quốc gọi là san mộc.
Khi mới bật ván thiên các xác ướp đều có màu của da người tái nhợt và toả mùi dầu thơm. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau xác chuyển sang màu đen sạm, mùi thơm cũng ấy biến mất, nhường chỗ cho một thứ mùi cực kỳ kinh khủng. Đây được coi là một hiện tượng bình thường của quá trình oxy hoá.
Dù phần lớn xác ướp tìm thấy đều là quan lại, vua chúa hay người giàu có nhưng thường chỉ chôn theo những đồ dùng rất đơn giản, không có chứa vàng bạc, châu báu hay các đồ tuỳ táng có giá trị vật chất cao.

Trước khi khai quật mộ, các nhà khảo cổ thường thực hiện các thủ tục tâm linh một cách cẩn trọng và thành kính.
  • Theo Đất Việt

Chủ Nhật, ngày 07 tháng 9 năm 2014

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: Trời sinh ra tôi cái số nghèo

TP - Nhân chứng một thời đại âm nhạc nhiều biến động, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đang sống trong những tháng ngày bệnh tật và khá cô đơn.

Thế hệ nhạc sĩ tiền bối là những người giàu lòng tự trọng, viết nhạc tuyên truyền nhưng không phải cái gì cũng viết. “Mời thì tôi mới viết. Bài “Người đi xây hồ kẻ gỗ”, chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh đích thân đến tận nhà đón, tôi mới đi viết. Vào đến nơi, họ bố trí tôi ở khách sạn, tôi dứt khoát từ chối xin đến ở với anh em đoàn văn công. Tới đoàn, mọi người lót bao tải mấy lớp làm nệm cho tôi nằm” - Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý kể.
Nhân chứng một thời đại âm nhạc nhiều biến động, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đang sống trong những tháng ngày bệnh tật và khá cô đơn. Tôi đến nhà ông trong căn hẻm nhỏ gần chợ Trương Định, thấy một khán giả mang cam tới bảo: “Cụ lại gọi điện bảo tới kẻo cụ buồn”.

Nhân chứng của thời kỳ tân nhạc
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý quê gốc ở ngoài Bắc nhưng do bố vào Nghệ An làm ở nhà máy xe lửa Trường Thi sinh ông ra ở gần sông Lam nên tuổi thơ và sự nghiệp của ông khởi nguồn từ thành phố Vinh.
Ông nói: “Gia đình tôi công nhân cũng nghèo, nhờ học giỏi tôi thi đậu vào trường tốt, được học nhạc với các thầy giỏi”. Ông thọ giáo ba thầy Việt Pháp Hoa, nhưng: “Tôi học được nhiều nhất là từ bố tôi”. Bố ông trùm nhạc dân tộc, giỏi nhiều nhạc cụ, thông thạo nhiều làn điệu dân ca
các xứ.
Vào cái thời hỗn mang, “nửa ông nửa thằng”, Pháp đô hộ, xã hội nghèo khó, ông bắt đầu con đường âm nhạc của mình nơi tỉnh lẻ với một niềm đam mê khôn tả: “Cả thành phố Vinh lúc ấy chỉ vỏn vẹn một phòng trà ca nhạc mà ông chủ là người Hoa”.
Thường qua lại tham gia vào đời sống ca nhạc với vốn kiến thức học được từ nhiều người thầy, từ trước năm 1945 ông đã gặp và trò chuyện với Phạm Duy và nuôi mộng thành nhạc sĩ.
“Với tôi, Phạm Duy là một tấm gương cho tôi học tập”. Trong đám tang Phạm Duy cách đây hơn một năm tôi thấy nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đi xe lăn tới dự lễ, nước mắt lưng tròng. Ông kể gặp lại Phạm Duy và gặp nhiều người khác nữa sau năm 1945, khi anh em vào Khu IV để xây dựng nền văn nghệ cách mạng. Kỷ niệm với nhau nhiều, rồi khi Phạm Duy về nước cũng thường thăm hỏi nhau.
Ông nói: “Thế hệ chúng tôi là những người đầu tiên lập nên nền móng của nền tân nhạc Việt Nam, khi ấy toàn âm nhạc nước ngoài, ngoại lai”.
Đến giờ ông cũng vẫn còn ý trách Hội nhạc sĩ không tới viếng Phạm Duy. Năm 1957, chính Nguyễn Văn Tý, Văn Cao, Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước được chỉ định đứng ra thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Theo ông: “Nếu đánh giá người nhạc sĩ chỉ bằng lập trường chính trị thì sẽ bỏ sót nhiều người tài”.


 
Nhạc sĩ của người nghèo Nhiều tài liệu nói khác nhau về bài hát đầu tay của Nguyễn Văn Tý, nhưng chính ông nói với tôi: “Bài Dư Âm là bài tôi viết đầu tiên, còn những bài sau đó thì viết tới mấy bài không nhớ rõ”. Tôi băn khoăn không hiểu ở một đô thị chỉ một phòng trà heo hắt, ai hát tác phẩm của ông?
“Tôi nhờ một đứa cháu người Huế, bà con với vợ tôi, cầm bản nhạc ra Hà Nội. Người ta thu thanh, phát và trả nhuận bút. Tôi mừng nên tập trung vào sáng tác. Bài Dư Âm tôi viết về một người con gái tôi yêu nhưng không lấy được”.
Cuộc đời của Nguyễn Văn Tý gặp không ít yếu nhân như Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp nhưng sở trường của ông vẫn là viết về nhân dân.
Ông nói: “Tuy không viết riêng bài nào về Bác Hồ, nhưng trong tác phẩm của tôi nhiều câu viết về Bác”. Một lần các nghệ sĩ đang họp, Bác Hồ đến dự bất ngờ, Nguyễn Văn Tý ngồi hàng đầu liền nhờ bảo vệ lấy ra một cái ghế nhỏ để mình ngồi và nhường ghế hàng đầu cho Bác thì Bác Hồ bảo nhạc sĩ cứ ngồi thế, còn Bác ngồi cạnh nghe phát biểu. Chẳng hiểu các vị chủ tịch đoàn phát biểu thế nào, Bác nghe xong, không nói gì, lặng lẽ đi ra. “Bác Hồ là một người vĩ đại”- nhạc sĩ nói.
Thế hệ nhạc sĩ tiền bối là những người giàu lòng tự trọng, viết nhạc tuyên truyền nhưng không phải cái gì cũng viết.
“Mời thì tôi mới viết. Bài Người đi xây hồ kẻ gỗ, chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh đích thân đến tận nhà đón, tôi mới đi viết. Vào đến nơi, họ bố trí tôi ở khách sạn, tôi dứt khoát từ chối xin đến ở với anh em đoàn văn công. Tới đoàn, mọi người lót bao tải mấy lớp làm nệm cho tôi nằm”.
Trong bài hát của mình, ông phác họa lên công trình hồ nước với hàng vạn người lao động, rất điển hình cho những đại công trình của thời kỳ ấy, nơi đó những người công nhân và dân công lam lũ lao động đêm ngày, mà khi được hỏi ước mơ thì họ thành thực trả lời rằng chỉ mong được đặt chân vào cổng trường đại học.

Tấm áo rách và chiếc đàn tỳ bà
Hôm 2/9 vừa rồi, tôi đi xem chương trình ca nhạc ở sân khấu Trống Đồng (Sài Gòn) ca sĩ Quang Linh hát bài Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, khán giả miền Nam vỗ tay không ngớt.
Sáng tác của Nguyễn Văn Tý tuyên truyền nhưng ai cũng thích nghe, thời nào cũng nghe được, do nó chạm được vào điều gì đó nhân bản. Ngay giữa Sài Gòn đô hội, đủ nhạc Mỹ nhạc Tàu, nhạc Hàn, mà người ta vẫn hào hứng với bài ca về tấm áo rách.
Nhạc sĩ kể: “Tỉnh Hà Bắc họ mời tôi đi sáng tác. Tôi về đó mới biết có những vùng giặc Mỹ ném bom ác liệt, bộ đội chiến đấu suốt ngày, áo quần rách bươm không có mà mặc. Các mẹ phải tổ chức vá, xong cái nào, mặc cái đó, ra công sự đánh tiếp”.
Khi nghe bài hát người ta không thấy nói nhiều đến hình ảnh người chiến sĩ đầy huân huy chương mà thấy tấm lòng của người chiến sĩ tri ân lo lắng cho những người mẹ già.
Năm 1975, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý vào Nam. Để viết ca khúc Dáng đứng Bến Tre ông không chỉ nghiên cứu về dân ca Nam bộ mà còn học tiếng để nói tiếng Nam bộ, sao cho bài hát mình hát ra phong vị Nam Bộ: “Người Nam bộ không nói tóc dài bay trong gió mà họ nói là tóc dài bai trong gió!” - ông tủm tỉm kể.
Cuộc đời ông đã trải mấy chế độ, sinh ở miền Trung, nổi danh hơn khi ra miền Bắc, nửa đời lặng lẽ với miền Nam, đi đâu ông cũng không quên đem theo cây đàn Tỳ Bà nhuốm màu thời gian.
Ông kể: “Lúc thành lập hội nhạc sĩ, chúng tôi mới phát hiện ra đa số các nhạc sĩ ta không biết chơi nhạc cụ dân tộc! Hội bèn mua đủ nhạc cụ một dàn nhạc, giao mỗi người học một thứ, sau đó biểu diễn chung. Tôi được giao học đàn Tỳ Bà, hôm đang biểu diễn thì đàn đứt dây. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ ngồi dưới bảo: Anh Tý chơi đàn Ty hả. Tôi đáp: Đàn Tỳ đang chơi anh Tý. Mọi người cười ồ”.
“Âm nhạc của tôi không bao giờ rời xa ngũ cung của nhạc dân tộc, đó là khung mọi tác phẩm của tôi”. Một dạo chuyên gia Bắc Triều Tiên hướng dẫn viết khí nhạc cho các nhạc sĩ Việt Nam, ông này kêu các nhạc sĩ Việt Nam gần như không biết nhạc nên phải đào tạo âm nhạc phương Tây.
Nguyễn Văn Tý cũng viết một tác phẩm khí nhạc, sau để đâu không nhớ. Ông chỉ thích viết ca khúc. Ông cầu kỳ trong sáng tác, viết nhiều, giữ lại ít. “Viết mà khán giả không nhớ không thích thì tính làm gì. Đời tôi chỉ viết được chưa đầy 100 ca khúc”.
Thế hệ sau mà Nguyễn Văn Tý hi vọng nhiều là Phó Đức Phương: “Ông ấy viết rất cẩn thận, nhiều tìm tòi”. Ông đánh giá cao Phó Đức Phương vì: “Nhạc sĩ Phó Đức Phương thuần khiết hơn nhiều người khác”.
Vào Nam năm 1975, cảm nhận của ông là gặp “một nền âm nhạc lai căng”. Ông khuyến khích học nghiên cứu mọi nền âm nhạc nhưng vẫn giữ quan niệm một tác phẩm lớn phải là tác phẩm nói lên được hồn âm nhạc của một dân tộc.
Ngày tháng lẻ loi

Tôi đến nhà ông vào buổi sáng và thấy hai người đàn bà, một người giúp việc trong bếp và một người pha nước cam. Họ mới tới nhà ông chưa lâu. 
Người cắt cam nói: “Tôi đọc báo thấy nói hoàn cảnh ông neo đơn nên đến thăm. Người ta bảo ông sống một mình, bệnh tật, đôi khi cả tuần không được tắm. Cô giúp việc kia, con gái ông mới thuê đấy”. Nhạc sĩ có hai con gái nhưng không ai ở cùng.
Trò chuyện một lúc, con rể của ông qua. Con rể, con gái của ông cũng đều lớn tuổi, nghỉ hưu cả, nhưng vẫn còn làm việc này việc nọ, không phải lúc nào cũng thăm nom được. Người con rể sinh sống ở châu Âu, đang xin giấy tờ gia hạn thời gian lưu lại Việt Nam. Nhạc sĩ nói nhiều ca sĩ, bạn bè và khán giả tới thăm, tặng quà, mới nhất là nhóm Năm Dòng Kẻ.
“Trời sinh ra tôi cái số nghèo, tôi không xin ai. Họ tự tới cho tiền tôi để tôi chữa bệnh”. Ngày 31/8, ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, Tùng Dương, Đồng Lan đến trao tặng hơn 70 triệu đồng do đông đảo nghệ sĩ hai miền quyên góp. Sáng 1/9, đại diện tỉnh Bến Tre cũng đã đến thăm hỏi và trao tặng nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý số tiền 30 triệu đồng.
Nhạc sĩ than phiền: “Một số người muốn kiểm soát tiền tôi chi tiêu, yêu cầu phải mở sổ tiết kiệm mới tặng. Tôi nghĩ việc chi tiêu là quyền cá nhân tôi, nên tôn trọng tôi chứ!”.

Papua New Guinea: nạn “thầy mo” bị săn để làm món “thịt heo dài“

Đăng Bởi -
Một nhóm săn "thầy mo"
Một nhóm săn "thầy mo"
Tại Papua New Guinea (PNG), nạn mê tín dị đoan tin rằng có “phù thủy pháp thuật thần thông” lâu nay vẫn hoành hành nên cần phải tiêu diệt, và nhiệm vụ này của một tà giáo ăn thịt người chuyên săn "thầy mo" để ăn thịt. “Món” này được gọi là “thịt heo dài” !...
Ăn “thịt heo dài” là “một nền văn hóa truyền thống” của PNG, một đảo quốc nghèo ở Nam Thái Bình dương. Văn hóa này tồn tại ở những vùng vùng hẻo lánh hồi cuối thế kỷ 20, khi PNG còn là thuộc địa của Úc.
Đánh chén món “pín” người
Cảnh sát cho biết tà giáo ăn thịt người có khoảng từ 700 đến 1.000 người tại nhiều làng nghèo. Các nghi can tin rằng nếu ăn các bộ phận ngũ tạng của các “thầy mo”, họ sẽ tiếp thụ được những năng lượng siêu nhiên, cơ thể chống được đạn, không bị bệnh hoạn, không gặp xui xẻo, tai nạn hoặc bị chết.
Hồi tháng 7. 2012, cảnh sát PNG bắt 29 tên  của một băng đảng “săn phù thủy vì tội giết và ăn thịt 7 người đàn ông bị chúng buộc tội là “thầy mo lang băm”.
Chúng giết chết 7 người này, ăn não của các các nạn nhân  và chặt dương vật của họ để “nấu lẩu” !
Một nghi can cho biết: “”Chúng tôi ăn não nạn nhân rồi đem tim, gan, dương vật cùng các bộ phận khác về nhà để các đầu bếp chế biến thành năng lượng khác cho người nhà ăn”.
Cảnh sát nói đó là mê tín dị đoan, nhưng tất cả các thành viên  tà giáo đều  biết ăn thịt người.  29 nghi can gồm 8 phụ nữ đã bị buộc tội cố ý giết người, đã  bị lãnh án tử hình.
Cảnh sát trưởng xác nhận 29 nghi can dùng rựa “xử” 7 nạn nhân vì nghi họ là “thầy mo”.
 Các nghi can cho rằng chẳng làm gì sai phạm và đã khai họ công khai xử tử các nạn nhân, vì các “thầy mo” lợi dụng những trò phù thủy để “thu phí chữa bệnh cao”: tống tiền dân làng nghèo, thậm chí đòi hỏi phụ nữ trong làng phải cho các “thầy mo” quan hệ tình dục.
Để thuê một “thầy mo” nhằm biết được nguyên nhân cái chết của người thân hoặc nhờ trục xuất ma quỷ khỏi người bị ám, người làng có thể phải “cúng” 1.000 kina tiền mặt (475 USD) cùng một con heo và một bao gạo, nhưng cũng có “thầy mo” đòi sex, dù quan niệm đạo đức của tà giáo là “thầy mo” không được ngủ với vợ của người khác hoặc với con gái còn trẻ.
Một thủ lĩnh nói có lẽ vì bị “thầy mo chơi trèo” nên các nghi can đã đi săn “bọn dâm tặc” ngủ với vợ họ.

MInh họa vụ "ăn thịt heo dài" 
 Ruồi là  lực lượng trinh sát 
Vài  năm qua có vài vụ được cho là “săn thầy mo” và ăn thịt người. Năm ngoái có tin ông nọ bị “thầy mo” xui khiến đã ăn thịt đứa con trai mới cất tiếng khóc chào đời.
Năm 2009 có tin một bà lột trần truồng rồi bị thiêu sống. Năm 2013, một cô giáo bị tra tấn trước mặt mọi người, rồi bị dân làng chặt đầu sau khi buộc tội cô giáo là “thầy mo” trù ếm một người hàng xóm.
Người làng đã trở thành những “người săn phù thủy” khi cầm súng, rựa và búa để lôi cô giáo Helen Rumbali cùng  chị gái và hai đứa cháu gái khỏi nhà cô, rồi họ châm lửa đốt căn nhà ra tro.
Họ buộc tội Rumbali 40 tuổi là “phù thủy” phải chịu trách nhiệm về cái chết của một người làng bị bệnh. Họ nói biết thủ phạm là ai, nhờ họ đi theo…một đàn ruồi từ mộ người chết bay về đến nhà Rumbali, và mộ người chết có đầy dấu vết của một nghi thức ma thuật.
Cảnh sát đến can thiệp thì đã quá muộn, Rumbali bị chặt đầu sau khi bị tra tấn. Người chị và hai đứa cháu bị đâm nhiều nhát dao chỉ được dân làng thả sau cuộc thương lượng với cảnh sát.
Vụ chặt đầu cô giáo Rumbali xảy ra hồi tháng 4.2013. Hai chị em cùng hai người cháu bị tra tấn suốt 3 ngày.


Vài ngày trước đó, 6 phụ nữ khác cũng bị tra tấn bằng những thanh sắt, và một người bị chôn sống trong một buổi “tế thần”.
Hồi tháng 2.2013, một người mẹ trẻ cũng bị buộc tội là “phù thủy”, bị thiêu sống ngay trước mắt một đám đông.

Một "thầy mo"bị thiêu sống

Lòng tham và ghen tuông
Vấn đề là ở PNG có “Luật phù thủy” từ 42 năm trước, cho phép niềm tin “phù thủy” của người dân có thể được vận dụng làm một phần lý do bào chữa cho việc giết ai đó bị nghi giỏi làm trò “trù ếm, ma thuật”.
Hồi tháng 5.2013, chính phủ PNG đã phải hủy luật này sau khi xảy ra nhiều vụ bạo lực. Nhà nhân chủng học Richard Eves nói “Không bảo đảm sẽ kết thúc được những vụ “săn phù thủy” vì tỷ lệ cảnh sát trong dân quá thấp.
Khi có một tay tội phạm vũ trang đòi máu, vài anh cảnh sát chẳng thể làm gì. Sự thật là cảnh sát PNG cũng tin kẻ bị buộc tội là “phù thủy” gieo rắc cái chết cho người khác”.
các chuyên gia nói những vụ bạo lực liên quan “tội phù thủy” đã bị “đổ dầu vào lửa” bởi sự khác biệt về kinh tế khiến người ta nuôi dưỡng sự ganh tỵ, ghen tuông, chứ không bởi niềm tin “có phù thủy”.
Họ nói sự ghen tỵ gây ra nhiều hận thù, người không có của ghét ghen người giàu có khá giả, nên họ mượn cớ “phù thủy” để giết người khác, không cho người khác có thể giàu thêm, khi hầu hết trong 7 triệu cư dân PGN là nông dân nghèo tá túc trong các mái lều tranh.
Trong trường hợp này, rõ ràng Rumbali bị kết án là “phù thủy” chỉ là một cái cớ, chứ gia đình cô sống khá giả, chồng và con trai của cô giáo đều là công chức, sống trong một ngôi nhà kiên cố  bằng gỗ, và gia đình cô đều học cao, có địa vị cao trong xã hội.

"Thầy mo" bị tra tấn

 “Phù thủy” làm “chỉ điểm”
Liên Hiệp Quốc đã phải ghi nhận hàng trăm vụ bạo lực liên quan “phù thủy và săn phù thủy” ở PNG, chủ yếu xảy ra ở những vùng hẻo lánh ít báo cáo thông tin.
LHQ phát hiện xảy ra nhiều vụ tấn công “phù thủy” nhưng hầu như kẻ “săn phù thủy” đều không bị trừng phạt.
Luật sư Miranda Forsyth thuộc đại học quốc gia Úc nói: “Niềm tin của người PNG là nếu họ không giết người ấy thì người ấy sẽ tiếp tục gieo rắc cái chết và sự xui xẻo, bệnh tật cho dân làng”.
Các nước láng giềng Vanuatu và Quần đảo Solomon cũng tin vào “phù thủy” nhưng họ lại không phải trải nhiệm cùng mức độ bạo lực cực đoan như PNG.
Một giải thích khác về niềm tin vào “phù thủy” là ở tỉnh Chimbu của PNG, theo nhà nhân chủng học Philip Gibbs chuyên nghiên cứu về phù thủy. Ông cũng là một linh mục đạo Thiên Chúa sống ở PNG từ 41 năm qua.
Ông giải thích: người ta chôn người chết trong mộ xây bằng bê-tông, để xác chết không bị những con vật ma quái nhỏ ăn thịt.
Người dân tin các con thú này có thể “ám” người sống, nên dân làng phải cậy nhờ các thầy lang-phù thủy “chỉ điểm” ai bị quỷ ma ám. Người bị nghi được cho là vào ban đêm sẽ hồn lìa khỏi xác để biến thành một con thú nhỏ nào đó.
Linh mục Gibbs nói người bị nghi “ma ám” thường bị tra tấn để buộc khai nhận và đôi khi bị giết. Ông cũng giải thích gia đình người bị nghi ngờ thường phải vội rời bỏ nông trại, chỉ đem theo một số vật dụng cần thiết trong một cái bao.
Vì thế, dân làng sẽ phải quyết định ai sẽ “thừa kế”khu đất bỏ hoang, từ đó lòng tham, sự ganh tỵ bùng lên và lại có thêm nạn nhân bị buộc tội “phù thủy”….

Một cụ già cử hành một lễ hội văn hóa của PNG

Đã có những hoạt động được tổ chức nhằm kéo giảm nạn bạo lực “săn phù thủy” ở PNG.
Tại tỉnh Simbu vốn xảy ra nhiều vụ này, bác sĩ ở bệnh viện Kundiawa đang giúp các gia đình hiểu lý do y tế hiểu vì sao người thân của họ chết vì bệnh, nhằm loại bỏ nguy cơ xảy ra những vụ giết người trả thù mượn cớ “giết phù thủy”.
Các chức sắc tôn giáo cũng huấn luyện các tình nguyện viên tìm các cách ngăn chặn những vụ “tố cáo phù thủy” tại các đám tang, và gởi tin nhắn khi các tình nguyện viên nhận định một vụ “săn phù thủy sắp hình thành”. 
Bảo Vĩnh (tổng hợp)

Thứ Ba, ngày 02 tháng 9 năm 2014

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín

Tránh xa những khói bụi, xô bồ của thị thành đến với Bắc Sơn bạn sẽ được thả hồn trong khung cảnh nên thơ, êm đềm với những thung lũng mờ sương, những cánh đồng lúa sặc sỡ sắc vàng.
 
Bắc Sơn là một thị trấn thuộc tỉnh Lạng Sơn, nằm gọn trong thung lũng và được bao quanh bởi những ngọn núi tiếp nối nhau, trùng trùng mờ sương tạo nên một khung cảnh lung linh, huyền ảo.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


Khi đến Mù Cang Chải, bạn sẽ cảm nhận được một điều vô cùng ấn tượng của nơi đây. Với khí hậu trong lành, mát dịu xen lẫn với sự hoang sơ của núi rừng, lung linh, rực rỡ của lúa đang vào mùa chín rộ.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


Thung lũng lúa Bắc Sơn rộng lớn với khung cảnh non nước hữu tình mỗi sớm bình minh. Thị trấn nhỏ xinh này nằm trọn trong lòng thung lũng, bao quanh là các núi đá vôi.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


Lúa được trồng thành nhiều vụ, bạn sẽ bắt gặp hình ảnh những ruộng đang cấy, những ruộng lúa đã vào mùa thu hoạch. Tất cả tạo nên một bức tranh sống động và hiền hòa. Quang cảnh cả thị trấn Bắc Sơn như bừng sáng rực rỡ mỗi sớm bình minh.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


 Lúa ở Bắc Sơn được trồng không cùng thời điểm nên có ruộng thu hoạch trước, ruộng thu hoạch sau tạo thành những mảng màu đặc sắc, sự đan xen sống động giữa màu xanh và màu vàng. Những cơn mưa mùa hạ khiến cho toàn bộ cánh đồng trong thung lũng trở nên mát dịu, trong trẻo.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


 Mây núi hòa quyện và khung cảnh mùa lúa vàng tạo nên một bức tranh đồng quê tuyệt đẹp.

Lên Bắc Sơn ngắm sắc vàng lung linh của lúa chín


Muốn ngắm được toàn cảnh Bắc Sơn, bạn phải leo lên được đỉnh núi thật cao. Bạn sẽ có cảm giác thật yên bình và thư thái khi ngắm toàn bộ thung lũng Bắc Sơn trong ánh nắng sớm mai hay ráng chiều rực rỡ.
  • HT

Lời tiên tri đáng sợ về Thế chiến III và năm 2014

Mặc dù chiến tranh thế giới đã lùi xa gần 70 năm, nhân loại vẫn chưa thể lơ là cảnh giác với một trận thế chiến thứ 3 khi mà các nhà tiên tri nổi tiếng nhất đều đưa ra tiên đoán về một trận chiến thứ 3 rất khốc liệt

Lời tiên tri cách đây 5 thế kỷ
Nostradamus – người sống ở thế kỷ 16 được coi là nhà tiên tri nổi tiếng nhất thế giới. Ông từng tiên đoán trúng phóc nhiều sự việc trong đó có cả việc biết trước ngày chết của mình là 2/7/1566 và việc tàu con thoi của Mỹ bị nổ tung sau thời ông sống mấy thế kỷ.
Theo cuốn Thế giới kỳ bí của Nxb Thanh Hóa: “Ông sinh ra và lớn lên ở xứ sở rượu vang và từ nhỏ đã bộc lộ tài năng trời phú nhất là ở bộ môn toán học, thiên văn và chiêm tinh. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông trở thành một bác sĩ. Nhưng một trận dịch hạch đã cướp đi mạng sống của tất cả thành viên gia đình ông.
Chán nản, Nostradamus rời bỏ quê hương đi lang thang khắp nước Pháp và Italia. Mang tâm trạng u uất, ông đã đến với niềm đam mê mới trong ngành khoa học huyền bí.
Năm 1550, ông xuất bản cuốn sách tiên tri đầu tiên của mình. Sau đó ông tiếp tục sự nghiệp với hơn 1000 bài thơ tứ tuyệt mà sau này người ta gom lại thành một tập “Sấm ký”.
Lời tiên tri đáng sợ về Thế chiến III và năm 2014 - Ảnh 1

Nhà tiên tri Nostradamus.

Tuy nhiên, các bài thơ này được viết bằng nhiều thứ tiếng như: Hy Lạp, Latin, Do Thái và Ả Rập để tránh con mắt xăm soi của chính quyền đương thời. Nhiều lời tiên tri của Nostradamus đã được thực tế chứng minh là đúng. Ví dụ tiên tri cái chết của vua Henry đệ nhị và việc Napoleon bại trận ở Nga.
Tương truyền, một quý tộc đương thời muốn thử tài ông bằng cách chỉ cho ông hai con heo và hỏi tương lai của chúng. Nostradamus suy nghĩ một hồi lâu rồi nói: “Con heo lông xám trắng sẽ bị chó sói ăn còn con heo lông đen thì ngài và quan khách sẽ ăn thịt nó”.
Để làm sai lời đoán, nhà quý tộc ấy đã sai gia nhân giết heo trắng đãi khách. Nhưng sau khi đã giết heo, đầu bếp mải lo nấu các món khác, bất ngờ có một con chó sói lên tha con heo đã làm thịt. Người nhà la lên đánh đuổi sói nhưng nó đã kéo chạy mất buộc lòng phải làm luôn con heo lông đen”.
Một điều đặc biệt trong di sản tiên tri của Nostradamus là lời tiên đoán về thế chiến thứ 3 mặc dù không nói cụ thể thời gian. Ông nói rằng thế giới sẽ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ 3 kéo dài 30 năm. Lúc đó Pháp là quốc gia bị thiệt hại nặng nề. Trước đó là sự xích lại gần nhau của hai siêu cường Nga – Mỹ. Sau cuộc chiến tàn khốc đó, những ai còn sống sót sẽ được sống một thời gian dài thái bình an lạc. Nhà tiên tri này cũng dự đoán ngày tận thế là năm 3979. Trước đó, sa mạc Gobi sẽ biến thành biển.
Năm 2010 bắt đầu Thế chiến III
Sau Nostradamus 4 thế kỷ, bà Vanga người Bungary là một nhà tiên tri nổi tiếng thế giới. Bà sinh ngày 31/1/1911, mất ngày 11/8/1996. Suốt cuộc đời bà sống ẩn dật ở vùng làng quê hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary.
Khi 12 tuổi, bà Vanga bị mất đi thị lực sau khi bị cuốn bởi một cơn lốc lớn. Người ta tìm thấy bà trong tình trạng chỉ còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, hai hốc mắt chứa đầy cát. Vanga làm bạn với bóng tối từ đó.
Nhưng cũng từ đó bà bắt đầu phát triển năng lực tiên tri. Lần đầu tiên bà tiên tri là năm bà 16 tuổi để tìm lại bầy cừu bị mất trộm bằng cách mô tả chính xác về cái sân nơi bọn trộm cất giấu đàn gia súc.
Tuy nhiên, khả năng tiên tri của Vanga chỉ thực sự đạt đến độ chín năm 30 tuổi. Nhiều người tìm đến bà để xin những lời tiên tri. Trong đó có cả trùm phát xít Adolf Hitler. Người ta nói rằng Hitler từng ghé thăm nhà Vanga và rời đi với gương mặt nặng trĩu.
Không phải tất cả tiên tri của bà đều đúng hết. Nhưng có nhiều lời tiên tri của bà đã thành sự thật. Đó là tiên tri tàu ngầm Krusk chìm, vụ tháp đôi ở Mỹ bị tấn công khủng bố và sự hồi sinh của nước Nga.
Lời tiên tri đáng sợ về Thế chiến III và năm 2014 - Ảnh 2

Nhà tiên tri Vanga.

Vào năm 1980, Vanga đã tiên tri rằng: "Cuối thế kỷ này, vào tháng 8/1999 hoặc 2000, Kursk sẽ chìm dưới nước, và cả thế giới sẽ than khóc vì nó". Ngày đó, không một ai quan tâm đến lời tiên tri buồn cười này. Nhưng rồi người ta mới biết rằng Kursk bà nói không phải là về thành phố mang tên Kursk. Con tàu ngầm nguyên tử của Nga được đặt tên theo thành phố này đã gặp sự cố khủng khiếp và mãi mãi chìm dưới đáy đại dương. Cả thế giới đều luyến tiếc và rơi lệ cho những nạn nhân mắc kẹt trong tai nạn này.
Năm 1989, bà Vanga tiên đoán về sự kiện 11/9 khủng bố tấn công nước Mỹ: “Đáng sợ! Đáng sợ! Những người anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy”. Đến sự kiện 11/9 khi tòa tháp đôi bị tấn công thì người ta mới kinh ngạc với lời tiên đoán của bà.
Về chủ đề Thế chiến thứ 3, nhà tiên tri Vanga từng tiên tri năm 2010 sẽ nổ ra chiến tranh thế giới thứ 3. Bà nói rằng: Năm 2010 sẽ bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ 3. Cuộc chiến tranh này sẽ bắt đầu vào tháng 11/2010 và kết thúc vào tháng 10/2014. Ban đầu, cuộc chiến tranh diễn ra bình thường, tiếp đó sẽ xuất hiện hàng loạt vũ khí hạt nhân và cuối cùng là vũ khí hóa học. Tuy nhiên thực tế đã cho kết luận lời tiên tri này không chính xác.
Mặc dù các vụ xung đột vẫn diễn ra trên khắp thế giới nhưng xu hướng hòa bình vẫn là chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện tại.
Ngoài ra, bà Vanga cũng đưa ra lời tiên đoán cho năm 2014 là năm mà phần lớn loài người sẽ mắc chứng bệnh mưng mủi, ung thư da và các loại bệnh khác do hậu quả của chiến tranh hóa học. Có lẽ xuất phát từ dự đoán rằng năm 2010 là chiến tranh hóa học cho nên đã đưa đến dự đoán năm 2014 nhân loại bị các bệnh tật do hậu quả của chiến tranh hóa học.
Cho đến nay nhân loại đã trải qua 2 cuộc chiến tranh thế giới khiến hàng chục triệu người chết và để lại hậu quả lâu dài về nhiều mặt. Mặc dù hiện tại, xu hướng hòa bình là chủ đạo trong quan hệ quốc tế, nhân loại vẫn cần cảnh giác với chiến tranh bởi lẽ khắp nơi, xung đột vẫn diễn ra hàng ngày hàng giờ.
  • Trần Vũ

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 8 năm 2014

Ký ức về những lần kiểm duyệt kịch Lưu Quang Vũ

luuquangvu-1345707846-480x0_1409271102.j
Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ (1948 - 1988).

Giá trị phát hiện và phơi bày thực trạng xã hội trong kịch Lưu Quang Vũ đã khiến các đạo diễn "trầy vi tróc vẩy" với những quy chụp nói xấu chế độ ở cái thời "ai cũng có quyền kiểm duyệt".
NSND Phạm Thị Thành và NSƯT Hoàng Quân Tạo là hai đạo diễn gắn bó với kịch Lưu Quang Vũ. Phạm Thị Thành từng dựng 24 vở của anh, còn Hoàng Quân Tạo đã thắp đèn cho hàng chục sân khấu từ Bắc chí Nam với bộ ba Tôi và Chúng ta, Khoảnh khắc và vô tận, Quyền được hạnh phúc... 26 năm sau khi Lưu Quang Vũ qua đời, bằng những cách lưu giữ khác nhau, ký ức của họ về anh lại sống dậy.
Đạo diễn Phạm Thị Thành có một kho tư liệu nhỏ chứa ảnh, ghi chép, tờ chương trình, tờ quảng cáo... về những vở kịch bà từng dựng với Lưu Quang Vũ. Vừa chỉ tay vào một tấm ảnh trong cuốn album đã úa vàng, bà vừa nói: "Vũ đây, cao to, lãng tử, chụp ảnh lúc nào cũng đứng sau hoặc hai rìa mép. Anh ấy viết giỏi hơn nói; hay nép mình ở chỗ đông người nhưng lại phơi bày đến tận cùng những khát khao của bản thân trên trang viết". Khát khao đó, nữ đạo diễn lý giải, là nói lên sự thật, vạch ra những mặt trái và đòi hỏi sự minh bạch trong cuộc sống đương thời. Đạo diễn Hoàng Quân Tạo mô tả: "Vũ hiền, hay cười, ít nói, trẻ tuổi nhưng suy nghĩ rất già dặn, rất nhiều trăn trở".
Sự già dặn, trăn trở ấy kết hợp với chất văn học của kịch nói tạo nên tầm tư tưởng lớn cho những vở kịch của anh. Ở những năm 1980, khi phần lớn tác giả chỉ quen viết một chiều, nhìn một phía, phản ánh niềm tin tuyệt đối, thì các nhân vật của Lưu Quang Vũ luôn nghi ngờ, luôn phản biện, thậm chí nói thẳng ra rằng: "Các đồng chí không muốn hoặc không dám nhìn thẳng sự thật"; "Nguyên tắc sinh ra là để phục vụ sự sống chứ không phải phục vụ những nguyên tắc" (Hoàng Việt - Tôi và Chúng ta); "Vẫn biết bác là đầy tớ của nhân dân nhưng đến được nhà các ông đầy tớ khó lắm" (Quých - Tôi và Chúng ta)... Giới phê bình nhận định, kịch Lưu Quang Vũ đã phát hiện, vạch ra gần như mọi sự bất ổn, xung đột của xã hội đương thời và dự báo, bảo vệ những mầm mống của cái mới, cái tiến bộ.
Chính vì tiếng nói mạnh mẽ, đi trước thời đại đó, mà để đến được với công chúng ở cái thời "ai cũng có quyền kiểm duyệt", các đạo diễn, diễn viên đã phải trầy vi tróc vẩy. Đạo diễn Hoàng Quân Tạo chia sẻ, bây giờ ngẫm lại, ông chỉ biết cười xòa nhưng những ngày đó, mỗi lần dựng vở Lưu Quang Vũ là một lần ông phải trầy trật chỉnh lên sửa xuống với bao nhiêu tầng kiểm duyệt. Ông kể, dựng Tôi và Chúng ta - vở kịch về sự lạc hậu của cơ chế bao cấp, sự xung đột giữa cá nhân và tập thể - ông phải qua ít nhất 12 lần duyệt. Đạo diễn ví dụ, chỉ với câu thoại nhân vật Quých nói với Bộ trưởng: "Ở dưới các bác còn nhiều người lợi dụng chức quyền làm khổ chúng tôi [...] mà các bác thì như giời ấy, giời ở cao quá, không đến được", ông phải lên gặp cơ quan kiểm duyệt nhiều lần chỉ để trả lời câu hỏi: "Tại sao anh lại để nhân vật nói như thế này?".
Diễn viên Hoàng Cúc - người nổi tiếng với vai Thanh trong vở này - kể lại: "Thoại của nhân vật bị sửa chỗ này một chút, chỗ kia một chút. Diễn viên chúng tôi rất khốn khổ, vừa tập vừa lo, vì chỉ cần một người quên thoại, vấp thoại là vở có khả năng đứt mạch". Khi Tôi và Chúng ta được diễn cho các lãnh đạo Trung ương xem, đạo diễn Hoàng Quân Tạo quả quyết: "Dám làm dám chịu, phải giữ lại bản gốc của Lưu Quang Vũ". Trong khi diễn, ở cánh gà bên này, một vị lãnh đạo phụ trách kiểm duyệt theo sát từng chuyển động của diễn viên; ở cánh gà bên kia, Hoàng Quân Tạo như ngồi trên đống lửa. Kết thúc cảnh một, trong lúc giải lao, ông hồi hộp xuống khán đài hỏi ý kiến của Ủy viên Bộ Chính trị - Tố Hữu và Ủy viên Ban bí thư Trung ương Đảng - Hoàng Tùng. Tố Hữu nhận xét: "Hay! Tuyệt vời", còn Hoàng Tùng nói: "Đúng, tôi tán thành ý kiến của anh Lành". Nghe vậy, ông mới thở phào nhẹ nhõm.
Nhưng không phải vở nào cũng may mắn như vậy. Ông kể, có những vở đã được duyệt, phông đèn, ánh sáng đã xong xuôi, vé cũng đã bán, đột nhiên, đạo diễn nhận được lệnh "ngừng diễn, thời điểm này chưa thích hợp". Những trường hợp như vậy, theo ông Tạo, không phải là hiếm.
Đạo diễn Phạm Thị Thành nhớ lại, bà gặp khó khăn nhất với ba vở của Lưu Quang Vũ: Mùa hạ cuối cùng, Nếu anh không đốt lửa Người tốt nhà số 5. Với Mùa hạ cuối cùng - vở kịch lấy đề tài trường lớp và những gian dối trong thi cử - bà và tác giả kịch bị cho là "nói xấu 18 ban ngành". "Việc bóc trần tiêu cực trong thi cử bị cho là bêu xấu ngành giáo dục; chuyện học trò chê phim Việt Nam bị nghi là xỏ xiên ngành điện ảnh, rồi họ còn tìm ra những chi tiết liên quan đến Hội phụ nữ, các cơ quan đoàn thể khác, nhiều đến mức tôi không nhớ nổi", bà kể.
khoanhkhac.jpg
Khán giả đi xem vở Khoảnh khắc và vô tận của Lưu Quang Vũ. Đạo diễn Hoàng Quân Tạo nhớ lại, vé một vở kịch lúc bấy giờ quãng bằng giá một bát phở chín (ba đồng phở tái, năm đồng phở chín). Người đi xem rất đông, dù rạp lợp bằng mái tôn rất nóng nực.
Còn với vở Nếu anh không đốt lửa phê phán mạnh cơ chế quan liêu, bao cấp, "cặp bài trùng" Lưu Quang Vũ - Phạm Thị Thành trải qua những giây phút nghẹt thở khi diễn cho Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh xem. Bà nhớ lại: "Chúng tôi vừa theo dõi vở diễn, vừa phán đoán thái độ của ông. Lúc gần kết vở, một người trợ lý của ông đi đến chỗ chúng tôi nhắn: Tổng bí thư yêu cầu tập hợp dàn diễn viên để tặng hoa, ông rất hài lòng. Lúc đó chúng tôi như trút được gánh nặng".
Người tốt nhà số 5 cũng vấp phải những chỉ trích mạnh mẽ sau khi công diễn với lý do "nói xấu chế độ". "Họ nói, phản ánh như thế là bôi đen, có 5 hộ thì đến 4 nhà ích kỷ, xấu xa; chỉ có duy nhất một người tốt. Nhưng rất may, ông Trần Độ, Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương lúc đó, rất ủng hộ chúng tôi. Vở kịch vì thế được đưa đi tham dự Hội diễn sân khấu 1985 tại Vinh, Nghệ An và đoạt giải Vàng", nữ đạo diễn kể.
Bất chấp cơ chế kiểm duyệt phức tạp, kịch Lưu Quang Vũ đã góp phần đưa thập niên 1980 trở thành thời kỳ đỉnh cao trong lịch sử sân khấu dân tộc. Diễn viên Hoàng Cúc cho biết, vở Tôi và Chúng ta, đoàn kịch diễn ròng rã hàng tháng trời ở một điểm, mỗi ngày ba suất mà suất nào cũng đông. "Còn Lưu Quang Vũ được chúng tôi gọi là 'Bà mẹ Âu Cơ' vì anh khả năng 'đẻ' phi thường. Đoàn nào cũng đặt hàng, thúc giục và đòi kịch của anh".
so-duyet.jpg
Đạo diễn Phạm Thị Thành có một cuốn sổ nhỏ, bìa nâu, các trang giấy đã úa vàng. Trong sổ, bà ghi chép cụ thể chi tiết những lần duyệt vở Lưu Quang Vũ. Đoạn chú thích trên là các ý kiến khi kiểm duyệt vở Mùa hạ cuối cùng, trong đó, Trần Độ nhận xét: "Vở tốt lắm, vấn đề đặt ra hay, giải quyết được, bắt người xem phải suy nghĩ".
Đạo diễn Phạm Thị Thành và Hoàng Quân Tạo giải thích, sân khấu những năm 1980 phát triển hoàng kim bởi những tài năng như Trần Quán Anh, Xuân Trình, Lưu Quang Vũ... một mặt bị thúc bách bởi những yêu cầu của thực tiễn về việc cất lên tiếng nói phản biện. Mặt khác, bên cạnh cơ chế kiểm duyệt khắt khe, họ cũng được tạo "cú hích" bởi chính sách mở cửa, "cởi trói" cho văn nghệ sĩ giữa những năm 1980. Tháng 10/1987, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh có cuộc gặp gỡ với đông đảo văn nghệ sĩ để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của họ. Trong sự kiện này, Lưu Quang Vũ đã chia sẻ mong muốn phá bỏ "bao cấp về tư tưởng", phá bỏ "tình trạng một người suy nghĩ cho mọi người", để tôn trọng sự sáng tạo trong văn hóa, nghệ thuật.
Ngay cả khát vọng đó, theo ông Hoàng Quân Tạo, đến nay vẫn còn giá trị. Ông kể: "Tôi và Vũ từng rất nản, rất trăn trở nhưng chưa từng trách giận những người kiểm duyệt. Bởi đơn giản, họ chỉ làm công việc của mình. Nhưng tôi mong kiểm duyệt không chỉ là chăm chắm soi những chi tiết gây suy diễn mà còn phải phát hiện, nâng đỡ cái hay, cái tốt, những yếu tố tích cực để khuyến khích sáng tạo".
Ngày 29/8/1988, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh và con trai họ - cháu Lưu Quỳnh Thơ - ra đi trong một tai nạn giao thông. Đó là tổn thất to lớn cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Riêng với sân khấu kịch, đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy một Lưu Quang Vũ thứ hai. Hoàng Cúc nói: "Tôi chưa thấy nhà viết kịch nào được như anh - một người lúc còn sống khiến cho người khác tỏa sáng lên cùng mình; và khi chết đi khiến cho người ta muốn khóc đến giọt nước mắt cuối cùng".
Những năm gần đây, hàng loạt vở kịch của Lưu Quang Vũ được dàn dựng lại. Năm 2013, Liên hoan Các vở diễn của tác giả Lưu Quang Vũ do Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức thu hút 9 đoàn với 12 vở tham gia, tạo nên không khí sôi động cho sân khấu kịch. Khán giả vẫn tiếp tục khóc, cười, thậm chí "nổi giận" với những vở kịch của ông.
Năm nay, chỉ tính riêng ở sân khấu Hà Nội, có 5 tác phẩm được trình diễn để tưởng nhớ Lưu Quang Vũ, gồm: Bệnh sĩ, Lời thề thứ 9, Chèo Nàng Sita, Mùa hạ cuối cùng và Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt. Nhằm khuyến khích khán giả thưởng thức những tác phẩm hay của sân khấu, giá vé được bán với mức trung bình từ 120.000 đến 150.000 đồng. Các vở kịch được biểu diễn tại Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội.
Lịch biểu diễn 5 tác phẩm Lưu Quang Vũ:
 - Vở kịch Bệnh sĩ: 20h ngày 28/8.
 - Đêm thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ và vở kịch Lời thề thứ 9: 20h ngày 29/8.
 - Vở kịch Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt: 20h ngày 30/8.
 - Vở chèo Nàng Sita: 20h ngày 31/8.
 - Vở kịch Mùa hạ cuối cùng: 20h ngày 1/9.
  • Hà Linh