Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Tư, ngày 29 tháng 10 năm 2014

Tên lửa NASA nổ tung sau khi rời bệ phóng

Tối 28/10, một tên lửa đẩy không người lái Antares của Cơ quan vũ trụ Mỹ (NASA) đã phát nổ vài giây sau khi rời bệ phóng tại bang Virgina, Mỹ. Đây là tai nạn đầu tiên từ khi NASA giao cho công ty tư nhân vận chuyển hàng hóa lên Trạm không gian quốc tế (ISS).

Tên lửa đẩy 14 tầng của công ty Orbital Sciences, mang theo tàu chở hàng Cygnus lên trạm ISS, đã phát nổ vài giây sau khi rời khỏi bệ phóng lúc 6 giờ 22 phút ngày 28/10 (theo giờ địa phương) tại bang Virgina, Mỹ. Vụ nổ đã gây ra một cầu lửa khổng lồ trên không trung.
Trong sứ mệnh lần này, tàu vũ trụ Cygnus dự kiến chở theo 2.293 kg hàng hóa bao gồm thực phẩm, thiết bị khoa học và thí nghiệm. Ngoài ra, tàu Cygnus cũng mang theo một mẫu vệ tinh do công ty Redmond phát triển. Sau khi tới trạm ISS, vệ tinh sẽ được đưa vào không gian từ một bệ phóng nhỏ trên trạm ISS.
Công ty Orbital Sciences thông báo: “Chúng tôi khẳng định tất cả nhân sự điều hành sứ mệnh đều an toàn. Chúng tôi không có thương vong trong vụ nổ. Trong khi đó, NASA cho biết thiệt dường như hạn chế đối với cơ sở vật chất của bệ phóng. Tên lửa đẩy Antares đã được phóng thành công trong 4 sứ mệnh trước đó.
Kế hoạch phóng tên lửa Antares dự kiến diễn ra vào ngày 27/10 nhưng phải trì hoãn 1 ngày, sau khi một tàu biển đã đi vào khu vực hạn chế dưới đường bay của tên lửa.
Orbital Sciences là 1 trong 2 công ty được NASA thuê vận chuyển hàng hóa lên trạm ISS sau khi các tàu con thoi của Mỹ ngừng hoạt động. Chuyến bay ngày 28/10 là sứ mệnh thứ 3 trong 8 sứ mệnh vận chuyển hàng hóa lên ISS theo hợp động trị giá 1,9 tỷ USD của Orbital Sciences với NASA.
Đối tác Mỹ thứ hai NASA thuê chuyển hàng hóa lên trạm ISS là công ty SpaceX. Công ty này đang chuẩn bị thực hiện chuyến bay thứ 4 theo hợp đồng trị giá 1,6 tỷ USD với NASA.

video

Hà Hương (Theo Reuters)

Thứ Hai, ngày 27 tháng 10 năm 2014

Mất bao nhiêu lâu mới hiểu được nhạc Trịnh?


Mất bao nhiêu lâu mới hiểu được nhạc Trịnh?
"Cái hạnh phúc ở trần gian chính là ý thức được khổ đau. Ðau khổ nên phải biết rộng lòng với nhau hơn, tử tế hơn, độ lượng hơn, biết tha thứ, nhân hậu hơn. Bài học ấy không dễ gì, bởi cuộc sống cho đến nay điều thiện vẫn còn vắng bóng..." ( Trịnh Công Sơn)
Thuở xưa, khi tôi con bé, nhạc Trịnh trong tôi vừa gần nhưng cũng vừa xa lắm. Gần bởi những người lớn quanh tôi đều nghe và đều nhắc về Trịnh Công Sơn bằng một tấm chân tình biết ơn Người thổi hồn vào từng ca khúc sống mãi theo năm tháng. Xa cũng bởi lúc ấy tôi còn quá nhỏ để có thể thấu hiểu nỗi lòng tác giả muốn gửi gắm vào từng lời nhạc của mình. Có lẽ người ta đúng khi nói: “Muốn hiểu nhạc Trịnh phải sống thật sâu thì mới đi hết, thấm hết từng ngóc ngách ca từ mỗi lúc nó được ngân lên”. Giờ đây, dẫu rằng hai mươi ba năm lăn lộn với đời vẫn chưa đủ trưởng thành để nói rằng mình hiểu hết những ca khúc của Trịnh Công Sơn. Có lẽ cột mốc quan trọng đánh dấu khoảng cách giữa nhạc Trịnh với tôi như được rút ngắn là giây phút gặp gỡ người nghệ sĩ giờ đây đã thành người Chú, người bạn lớn của cuộc đời tôi. Cùng với cây ghita trên tay, Chú và tôi hay hát nghêu ngao “Để gió cuốn đi”, “ Mưa hồng”, Một cõi đi về”, “ Em còn nhớ hay em đã quên” mỗi lần gặp gỡ.
Chú yêu nhạc Trịnh. Chú dùng nhạc Trịnh để lan tỏa tình yêu đến tôi, để dạy tôi cách sống với đời, cách yêu thương con người và cách sống sao cho lòng bình thản nhất trước mọi sự đổi thay của cuộc sống vốn dĩ ồn ào, xáo động này. Chính tình yêu ấy của Chú khiến nhạc Trịnh thấm vào hồn tôi lúc nào không hay. Khi buồn, khi cô đơn tôi nghe nhạc Trịnh, khi vui, khi thấy “yêu đời, yêu người” tôi cũng tìm đến nhạc Trịnh.
Mất bao lâu mới hiểu được nhạc Trịnh? Phải chăng khi đủ tuổi để có thể suy ngẫm về đời, về người? Phải chăng khi có đủ sự cô đơn trong tâm hồn để có thể đồng điệu cùng dòng nhạc luôn kén chọn người ca cũng như người nghe này? Phải chăng khi nỗi buồn dâng tràn lòng người mới hiểu được vì sao hầu hết ca từ của Trịnh đều man mác như chính cuộc đời tác giả? Hay phải chăng chỉ cần cái duyên, cái duyên cảm được nhạc Trịnh?
Với tôi, người với người gặp nhau đó là cái duyên. Tôi gặp Chú, trở thành người cháu, người bạn của Chú và yêu nhạc Trịnh từ những khúc hát mỗi lúc Chú cất lên. Tôi nghĩ đó là cái duyên lớn trong cuộc đời mình và cũng thật may khi được “bén duyên” cùng nhạc Trịnh.
Nhưng cuộc sống đôi khi là chuỗi ngày dài thử thách khiến tôi mệt mỏi. Những lúc như thế, Chú đến và nói: “Con có thấy Trịnh Công Sơn không? - “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, cùng với anh em tìm đến mọi người. Tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát, để thấy tiếng cười rộn rã bay. Và như thế tôi sống vui từng ngày. Và như thế tôi đến trong cuộc đời. Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi”. Nhạc Trịnh đã giúp tôi cảm nhận được nỗi đau để “biết rộng lòng với nhau hơn, tử tế hơn, độ lượng hơn, biết tha thứ, nhân hậu hơn” và để thấy lòng bình yên hơn.
Sau những khát khao vươn mình ra biển lớn, đôi lúc vấp ngã chẳng muốn đứng dậy, đôi lúc đau đớn chẳng muốn bước tiếp, đôi lúc lạc lõng trong những ảo tưởng cuộc đời tôi trở về với nhạc Trịnh như tìm về chốn nương tựa cho tâm hồn. Nhạc Trịnh giúp tôi thoát khỏi sự hoài nghi về cuộc đời và về tình người, giúp tôi biết thế nào là mở rộng trái tim để đón nhận nhịp đập cảm xúc yêu thương từ chính những người thân và bạn bè quanh tôi.
Tôi đã từng đọc được một câu thế này: ”Trí tưởng tượng của người cầm bút như ngọn gió lãng mạn được chắp cánh bay bổng nhưng không phải để lạc loài đến những thế giới xa lạ, huyễn hoặc mà đến thẳng, tiến nhanh đến những chân trời hiện thực”. Và Trịnh Công Sơn - người thổi hồn âm nhạc đưa lời ca đến rất gần với hiện thực để người nghe nói chung cũng như bản thân tôi nói riêng được hiểu thế nào là cuộc sống, để từ đó mà biết quý trọng từng giây từng phút mà cuộc đời ban tặng cho mình.
Giờ đây, nhạc Trịnh là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi. Sau những bộn bề, lo toan, lại muốn chạy thật nhanh về nhà, mở ngay album nhạc Trịnh được Chú tặng lên mà ngân nga theo, bởi đơn giản lắm:
“Cuộc sống là một niềm an ủi vô bờ. Cuộc sống chỉ cho ta mà không cần lấy bớt đi. Cuộc sống cho ta tất cả và mỉm cười khi thấy ta dại dột. Con người sinh ra vốn bất toàn và để làm những điều lầm lỗi. Nó đẹp vì bất toàn. Nó đáng yêu vì nó luôn luôn lầm lỗi. Vậy thì cứ yêu mà đừng tuyệt vọng” - Trịnh Công Sơn.
Hạnh Nguyễn

Chủ Nhật, ngày 26 tháng 10 năm 2014

Những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của nhà nước CHXHCNVN

      1. Nguyên tắc “Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân”. 
      Đây là nguyên tắc nói lên nguồn gốc quyền lực của nhà nước và bản chất giai cấp của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Lịch sử hình thành và phát triển các quan diểm lập hiến của nhà nước ta, từ Hiến pháp 1946 và 1980 và hiện nay là Hiến pháp 1992 (sửa đổi) có thể thấy tư tưởng nhà nước nhân dân quán triệt trong việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Điều 2 của Hiến pháp 1992 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngữ tri thức”.
Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được quán triệt trong việc tổ chức bộ máy nhà nước. Theo đó, Quốc hội và Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước. các cơ quan này do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Quốc hội được trao quyền lực tối cao trong việc tổ chức và hoạt động của tất cả cơ quan nhà nước.
Nguyên tắc tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân còn thể hiện ở Điều 2, Hiến pháp 1992 khi khẳng định “ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Chủ trương của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc củng cố, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là triệt để áp dụng phương châm: dân biết – dân bàn – dân kiểm tra. Thực hiện tốt phương châm này là góp phần thực hiện hóa nguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.
2. Nguyên tắc về sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước.
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có theo đúng những định hướng, mục tiêu và phản ánh đượv bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa hay không. Theo Điều 4, Hiến pháp 2013:“Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Nội dung của nguyên tắc Đảng lãnh đạo thể hiện:
- Đề ra cương lĩnh xây dựng phát triển đất nước, để ra đường lối chủ trương, chính sách về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng để trên cơ sở đó nhà nước xây dựng chiến lược và kế hoach hoạt động.
- Định hướng việc củng cố và hoàn thiện tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước.
- Giới thiệu những cán bộ có phẩm chất, năng lực để nhân dân lựa chọn vào những vị trí quan trọng của bộ máy nhà nước.
- Tuyên truyền, giáo dục nhân dân tích cực thực hiện nhiệm vụ đối với nhà nước, tham gia quả lý nhà nước; Đảng giáo dục đảng viên gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương của nhà nước.
3. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước", quy định đa dang hơn về thực hiện quyền lực của Nhân dân so với Hiến pháp năm 1992, đặc biệt thể hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp đã làm rõ hơn, sâu sắc hơn vai trò làm chủ của Nhân dân.
Nguyên tắc tập trung dân chủ có tầm quan trọng trong việc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nguyên tắc này thể hiện hai yêu cầu sau:
- Tạo được sự thống nhất ý chí của tất cả cơ quan, tổ chức; các cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của nhà nước; đảm bảo sự phục ctu2ng của cấp dưới với các mệnh lệnh của cấp trên; sự tuân thủ của địa phương đối với các chỉ đạo, điều hành thống nhất của trung ương; đây vốn là những yêu cầu cơ bản của nền hành chính.
- Bảo đảm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong việc đề xuất ý kiến, trình bày quan điểm về những vấn đề quan trọng nảy sinh trong xã hội. Dân chủ còn thể hiện ở việc các ngành, các địa phương có quyền vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong việc thực thi các chủ trương, mệnh lệnh của cấp trên trong khuôn khổ cho phép và được qui định bởi pháp luật.
4. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là điều kiện cần thiết cho tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Điều 12 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội hội bằng pháp luật và không ngừng tang cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành hiến pháp và pháp luật”.
Nguyên tắc pháp chế chi phối nhiều lĩnh vực khác nhau của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong lĩnh vực tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, nguyên tắc này thể hiện ở ba yêu cầu sau:
- Phải đảm bảo sự điều chỉnh pháp luật đối với toàn bộ hệ thống các cơ quan nhà nước về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mối liên hệ nội tại giữa các cơ quan nhà nước cũng như mối liên hệ giữa các cơ quan nhà nước với tất cả các yếu tố khác trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.
- Phải bảo đảm sự tuân thủ triệt để của tất cả các cơ quan nhà nước trong việc vận dụng, áp dụng pháp luật trong hoạt động quản lý xã hội.Tất cả các văn bản do cơ quan nhà nước ban hành phải bảo đảm tuân thủ về thủ tục, trình tự luật định; tôn trọng yêu cầu về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất trong việc ban hành văn bản pháp luật.
- Phải xây dựng thiết chế đảm bảo việc tuân thủ các yêu cầu vừa nêu, kể cả việc xử lý những tổ chức và cá nhân vi phạm.

Thứ Năm, ngày 23 tháng 10 năm 2014

Có một tình yêu không bao giờ "ly dị"


Phú Quang - một người sáng tạo quá thông minh và cũng quá nhạy cảm. Ông gai góc trong cuộc đời và rất trữ tình trong âm nhạc. Người như ông, không thể nói gọn trong hai từ sướng hay khổ, vui hay buồn, hạnh phúc hay không hạnh phúc. Ông chiêm nghiệm: "Hạnh phúc là điều có thật, nhưng ai là người có thể cầm nó trong tay suốt một đời? Tôi thường nghĩ về hạnh phúc như một khoảng lặng chợt hiện rồi lại chợt tan...".
Đối với Phú Quang, mỗi bài hát vang lên, đó chính là khoảnh khắc chợt hiện của hạnh phúc. Nó là tất yếu của tình yêu. Phải yêu cuộc đời đến đáy, với mọi cung bậc của nó, để một phút giây nào đó, tình yêu sẽ hóa thành nốt nhạc...
"Hà Nội và em khi thu chớm đông sang", là câu chuyện âm nhạc Phú Quang sẽ kể với khán giả thủ đô trong tháng 9 này. Một live show như thường lệ, "đến hẹn lại nên", đáp đền sự chờ đợi đã thành một thói quen của nhiều khán giả trót nghiền, trót đắm đuối âm nhạc Phú Quang.
Gặp gỡ giới truyền thông, Phú Quang chia sẻ, ông rất kỹ càng, khó tính trong việc lựa chọn các ca sĩ tham gia chương trình của mình. Vì ông muốn giữ cho khán giả, những người đã đồng hành cùng ông qua nhiều năm tháng, một không gian âm nhạc trữ tình, đúng nhất với tinh thần âm nhạc của mình. "Âm nhạc của tôi là thủ thỉ, sẻ chia. Nó có thể là giông bão, nhưng là giông bão của ngọt ngào, lắng đọng. Tôi không thích một sự làm lạ quái đản hay một sự bóp méo nhân danh cá tính nghệ thuật nào.  Ca sĩ khách mời được chuyển một thông điệp cần phải sáng tạo đúng với tinh thần âm nhạc của tôi. Tôi không định làm sốc khán giả để gây sự chú ý. Tuổi tôi bây giờ khen chê hay vỗ tay đều không quan trọng nữa. 
Khi tôi mời Tùng Dương, một ca sĩ rất cá tính, tôi cũng nói với Tùng Dương như vậy. Và Tùng Dương sẽ tiết chế giọng hát của mình cho phù hợp với nhạc của tôi. Tôi không khi nào định để cho ca sĩ "muốn làm gì với bài hát của tôi thì làm". Những sáng tạo có thể thỏa mãn cá tính ca sĩ nhưng không phù hợp với khán giả của tôi thì tôi tuyệt đối không đồng ý".
Chẳng thế mà các ca sĩ khi tham gia chương trình Phú Quang thường rất "ngại" ông. Đôi khi giữa ông và họ có những cuộc tranh luận để tìm ra một phương án tốt nhất cho một ca khúc. Phú Quang không cho phép các đêm diễn là câu chuyện tác giả hay ca sĩ, mà là câu chuyện của khán giả. Khán giả chính là trung tâm của một đêm diễn. Và lao động của tác giả hay ca sĩ cũng chính là để làm hài lòng khán giả. Ông luôn hướng đến khán giả, vì sự trân trọng và lòng biết ơn ông dành cho họ.
Ca sĩ Tùng Dương, trong buổi họp báo chia sẻ: "Tôi rất quý trọng người khó tính như chú Quang. Nhất là trong âm nhạc, chú rất khó tính, khó chiều. Chú áp đặt ý kiến của mình lên người khác, không dễ dãi như kiểu thế nào cũng được, làm cho xong... Tham gia các chương trình của chú Quang, nghĩa là chịu sự kiểm soát của chú, bạn phải có khả năng tiết chế mình cho phù hợp với tinh thần âm nhạc của chú. Thực chất thì không phải là chú hạn chế cái tôi của ca sĩ, mà chú chỉ muốn thiết kế món ăn tinh thần vừa vặn nhất với khán giả. Phú Quang là người lão luyện trong nghề, một người cực kỳ hiểu và yêu khán giả của mình. Yêu đến mức cực đoan vậy".
Nhạc sĩ Phú Quang cùng hai giọng ca Hồng Nhung, Ngọc Anh trên sân khấu.
Thực sự mà nói, nếu không hiểu khán giả của mình, Phú Quang khó lòng thu hút khán giả của ông tới rạp hằng năm. Năm nào cũng như năm nào, cứ nghe heo may thảng hoặc cuối phố, hoa sữa thơm ngào ngạt ven hồ, Hà Nội lao xao lá rơi, là âm nhạc của Phú Quang sắp vang lên. Những đêm nhạc thường được tổ chức ở Nhà hát Lớn, một không gian sang trọng, ấm áp, chật kín chỗ ngồi. Khán giả thuộc nhiều lứa tuổi đến nghe Phú Quang. Những bài hát có thể họ đã thuộc nằm lòng từ 10 năm, 20 năm về trước, hoặc có thể nghe lần đầu, nhưng sự xao xuyến thì luôn mới mẻ.
Âm nhạc Phú Quang, ở một khía cạnh nào đó, có thể hiểu như một biểu tượng của mùa thu Hà Nội. Một không gian của trữ tình khói sương, của bảng lảng vui buồn, của mơ hồ cảm xúc, của yêu thương chợt tan chợt hiện, của hạnh phúc gần gũi mà xa xôi khó nắm bắt. Nó khiến cho người nghe, sau những chật vật bộn bề lo toan của cuộc sống, được lắng lại, được suy tư, chiêm nghiệm, được thả hồn mình trong một khoảng trời riêng. Và mọi cảm xúc trong âm nhạc của Phú Quang, hay ở chỗ, vừa đủ với con người thời hiện đại, không quá nặng nề để hiểu, để cảm hay phân tích. Người xem đến nhà hát, thưởng thức và trở về nhà, họ có một đêm thanh thản, được nâng đỡ và xoa dịu, được chiều chuộng ngay cả những vết thương, được sưởi ấm...
Nhiều lần ngồi cùng Phú Quang, đều vào thời điểm mùa thu, khi ông đang chuẩn bị cho đêm nhạc của mình, hỏi ông về một tình yêu gọi là tình yêu Hà Nội. Những năm Phú Quang rời Hà Nội vào Sài Gòn, âm nhạc của ông đầy thương nhớ, đầy cảm giác chia xa, viễn xứ, thì nay ông đã trở về sống giữa lòng Hà Nội rồi, sao tình yêu đó vẫn nguyên cảm giác vắng xa biền biệt như vậy. Liệu có phải ông thường không sống trong hiện tại, ông là con người của hồi ức, hồi tưởng chăng? 
Phú Quang chia sẻ, thật khó để cắt nghĩa những mộng và thực trong cuộc đời. Ông là một người con của Hà Nội. Từ khi nào, phù sa sông Hồng, nắng gió hồ Tây, hương hoa sữa, gốc sấu già, mái phố cổ đã ở trong ông, như những ký tự gợi nhắc một mối tình. Đó là mối tình với một vùng văn hóa, một vùng đất. Một tình yêu tự nhiên,  như cách ông nói, là "không thể ly dị",  như hơi thở, tự có, lúc nào cũng vẹn đầy, dù đi xa hay ở gần. Những thương nhớ, hoài niệm vẫn luôn hiện hữu, ngay cả khi đêm đêm đã nằm giữa thủ đô, nghe "sông Hồng thở".
Phú Quang không định cá biệt tình yêu của mình với Hà Nội. Ông nói, nhiều người Hà Nội và kể cả không phải người Hà Nội cũng yêu Hà Nội như ông và có những cảm nhận về Hà Nội như ông. Chỉ có điều, ông là người nghệ sĩ, ông có thể viết ra những suy tưởng của mình. Viết cho mình và cũng là chia sẻ với người, với đời. Bao thế hệ người nghe đã tìm thấy trong âm nhạc Phú Quang một tình yêu Hà Nội của chính họ. Đó chính là niềm hạnh phúc không gì sánh bằng mà Phú Quang được nhận.
Thường thì trong một live show mùa thu của Phú Quang, có một vài bài hát mới trình làng. Ông không quan trọng những bài hát mới lắm. Ông nói: "Tôi có thể làm một live show toàn những bài hát cũ. Và lúc nào cũng chật kín khán giả tới nghe. Trong nghệ thuật, có lẽ điều quan trọng hơn cả là cảm xúc. Bạn mang đến cho khán giả cảm xúc gì mới trong một bài hát cũ, có khi còn quan trọng hơn một bài hát mới mà không có cảm xúc gì vậy".
Trong live show lần này, diễn ra vào các ngày 19, 20, 21 của tháng 9, Phú Quang có một bài hát mới cực kỳ đáng để chờ đợi. Bằng chất giọng "không phải diva" của mình, ông đã hát ngay trong buổi họp báo. Một bài hát về tình yêu, có liên quan đến mùa thu, phổ thơ của nhà thơ Chu Hoạch - một người bạn thân thiết của Phú Quang, đã rời bỏ nhân gian từ lâu. Phú Quang nói, ông viết bài hát như một sự tưởng niệm người bạn khốn khổ của mình. Một nhà thơ nghèo, đầy tự trọng trong tình yêu, đã chọn cách ra đi trong một cuộc tình đẹp như mùa thu Hà Nội, để không làm đau người đàn bà của mình. Bài thơ chỉ vẻn vẹn những câu thế này:
Thu rất thật thu là khi chớm đông sang
Em rất thật em là lúc em hoang mang lựa chọn
Anh rất thật anh là lúc anh ra đi nhẹ gọn
Để tránh cho em bớt một lời chào
Và bớt cho đời một chút gió lao xao...
Trong giai điệu da diết của âm nhạc Phú Quang như thường thấy, khán giả sẽ có cơ hội được chiêm nghiệm sâu xa hơn về cuộc chia ly ở một bài thơ, và hiểu thêm cuộc đời một người nghệ sĩ…


  Bình Nguyên Trang

Cấu trúc của qui phạm pháp luật

           Là cơ cấu bên trong của qui phạm, dùng để chỉ các bộ phận hợp thành một qui phạm pháp luật. Các loại qui phạm khác nhau có thể có cấu trúc không giống nhau. Có nhiều loại qui phạm pháp luật. Mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa nhất định đối với quá trình nghiên cứu, xây dựng và thực hiện pháp luật. Chẳng hạn:
- Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh, ta có: qui phạm pháp luật hình sự; qui phạm pháp luật dân sự; qui phạm pháp luật hành chính.
- Căn cứ vào nội dung của qui phạm pháp luật, ta có: qui phạm định nghĩa; qui phạm điều chỉnh; qui phạm xung đột…
         Qui phạm định nghĩa là qui phạm pháp luật có nội dung xác định, giải thích thuật ngữ pháp lý. Cấu trúc loại qui phạm này chỉ có duy nhất một bộ phận, gọi là qui định. Ví dụ: “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. (Khoản 2, Điều 4, Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005).
Qui phạm điều chỉnh là qui phạm có nội dung nêu lên cách thức xử sự theo yêu cầu của nhà làm luật, trực tiếp điều chỉnh hành vi của chủ thể trong những tình huống nhất định. Cấu trúc của loại qui phạm này thường có 2, hoặc 3 bộ phận hợp thành.
Một qui phạm điều chỉnh có cấu trúc đầy đủ thì bao gồm 3 bộ phận: giả định, qui định và chế tài.
- Giả định là bộ phận nêu lên phạm vi tác động của qui phạm pháp luật, tức là xác định cá nhân, tổ chức nào, trong những hoàn cảnh, tình huống nào sẽ phải chịu sự tác động bởi qui phạm pháp luật đó. Phần giả định giúp ta trả lời được câu hỏi” người nào trong hoàn cảnh, điều kiện nào (?) cần phải xử sự phù hợp với qui phạm pháp luật này…
Ví dụ; “Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ khi cấp giấy chưng nhận đăng ký kinh doanh; không được yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm các giấy tờ khác không qui định tại luật này”. (Khoản 3, Điều 15, Luật doanh nghiệp VN 2005).
- Qui định là bộ phận nêu lên cách xử sự mà nhà làm luật cho phép hoặc bắt buộc chủ thể thực hiện khi ở vào một trong các tình huống giả định. Để trả lời câu hỏi: được làm gì? Không được làm gì? Phải làm gì? Làm như thế nào?
Như ví dụ trên, bộ qui định là: “xem xét và chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ khi cấp giấy chưng nhận đăng ký kinh doanh; không được yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm các giấy tờ khác không qui định tại luật này”.
- Chế tài là bộ phận qui phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động gây hậu quả pháp lý bất lơi mà nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với chủ thể đã không được thực hiện qui định đúng khi ở vào tình huống giả định. Bộ phận chế tài trả lời câu hỏi: hậu quả như thế nào nếu không thực hiện đúng theo qui định của pháp luật?
Ví dụ: Theo Khoản 1, Điều 168, Bộ Luật hình sự VN qui định: “Người nào quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ từ ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.
Bộ phận chế tài là: “phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ từ ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.
Cần phân biệt chế tài với các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Việc áp dụng chế tài chỉ hướng đến các chủ thể vi phạm pháp luật. Về hình thức chế tài có chế tài cố định, không cố định, chế tài hình sự, dân sự và chế tài hành chính. Trong đó, đặc biệt là chế tài hình sự.
+ Chế tài hình sự (hình phạt) là biện pháp tác động đến cá nhân có hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong Bộ Luật Hình sự. Chỉ có tòa án mới có thẩm quyền áp dụng chế tài hình sự. Chế tài hình sự xử lý nghiêm khắc nhất đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Hình phạt: hình phạt chính (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình) và các hình phạt bổ sung (cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản, phạt tiền, trục xuất). Đối với  mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.
+ Chế tài hành chính (gọi là phạt hành chính) là biện pháp tác động do cơ quan quản lý nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền áp dụng đối với chủ thể vi phạm. Vi phạm các qui tắc quản lý nhà nước mà chưa gọi là phạm tội và theo qui định phải xử phạt hành chính.
Chế tài hành chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền và hình phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính, trục xuất. Ngoài ra, còn có các biện pháp hành chính như: khôi phục lại hiện trạng ban đầu đã bị thay đổi… buộc đưa ra khỏi lãnh thổ hoặc tái xuất, buộc tiêu hủy…
+ Chế tài dân sự là biện pháp tác động đến tài sản hay thân nhân của chủ thể vi phạm pháp luật đã gây thiệt hại cho chủ thể khác. Mục đích áp dụng chế tài dân sự nhằm buộc chủ thể vi phạm phải khắc phục hậu quả về thiệt hại đã gây ra, với các hình thức như: bồi thường vật chất hoặc tinh thần, trả lại tài sản bị chiếm đoạt, hủy bỏ một xử sự không đúng…Chế tài dân sự là chế tài mền dẻo nhất vì hình thức và mức độ cụ thể do các bên trong quan hệ dân sự thỏa thuận.
+ Chế tài kỷ luật là biện pháp tác động đối với chủ thể có hành vi vi phạm nội quy của tổ chức mà mình đã tham gia. Trong lĩnh vực lao động, biện pháp chế tài này do người sử dụng lao động áp dụng đối với người lao động đối với người lao động đã có những hành vi vi phạm kỷ luật lao động, chẳng hạn: khiển trách, chuyển làm công việc khác, sa thải…

Thứ Tư, ngày 22 tháng 10 năm 2014

Nguồn gốc ra đời của pháp luật

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tích bắt buộc chung, do nhà nước ban hành và được nhà nước bảo đảm thực hiện; thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và phản ánh các điều kiện kinh tế - xã hội; là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. 
Từ khái niệm trên, chúng ta thấy pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội. Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế. Pháp luật phản ánh ý chí, nội dung kinh tế của giai cấp thống trị, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội và là cơ sở pháp lý của đời sống xã hội.
Cho đến nay, xã hội loài người từng biết đến 4 kiểu pháp luật: pháp luật chủ nô; pháp luật phong kiến; pháp luật tư sản; pháp luật xã hội chủ nghĩa. Vai trò của pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì ổn định xã hội, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. Ở nước ta, pháp luật al2 công cụ thực hiện đường lối chính sách của Đảng, co6gn cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động và là công cụ quản lý nhà nước. 
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội luôn gắn liền với nhau, do đó nguyên nhân về sự ra đời của nhà nước cũng là nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề nhà nước và pháp luật thì xã hội loài người ở thời kỳ đầu tiên là cộng sản nguyên thủy chưa có Nhà nước, nên cũng chưa có pháp luật. Ở thời kỳ đó, những cộng đồng người như thị tộc, bộ lạc tổ chức, duy trì cuộc sống của mình dựa trên các quy phạm xã hội như: phong tục, tập quán, đạo đức, các tín điều tôn giáo… Những quy tắc xã hội này xuất hiện từ nhu cầu khách quan của xã hội, được mọi người chấp nhận và lưu truyền qua các thế hệ. Cuộc sống của con người khi đó chỉ cần đến những quy tắc này là đủ vì cơ sở kinh tế của xã hội lúc bấy giờ là nền kinh tế tự nhiên, chưa có sự phân công lao động chuyên môn hóa. Hoạt động lao động sản xuất chỉ là thu nhận những sản phẩm có sẵn từ thiên nhiên qua hoạt động săn bắt, hái, lượm… Xã hội tổ chức đơn giản nên chưa cần đến những quy tắc phức tạp để điều chỉnh đến hành vi xử sự của con người.
Sau này, từ sự vận động và phát triển của xã hội loài người, sự cải tạo công cụ lao động của con người đã làm cho năng suất lao động tăng lên, xuất hiện sự tư hữu và phân hóa giai cấp trong xã hội. Nền kinh tế tự nhiên được thay thế dần bằng nền kinh tế sản xuất, sự thay thế này thể hiện qua ba lần phân công lao động xã hội, các ngành nghề chuyên môn hóa đã hình thành. Khi đó trong xã hội đòi hỏi phải có sự tổ chức ở trình độ cao hơn, cần phải có sự chỉ huy, điều hành để sắp xếp con người vào những vị trí nhất định trong quá trình sản xuất.
Trong xã hội đã hình thành giai cấp đối kháng thì các quy tắc xã hội không còn phù hợp với ý chí chung của mọi người trong xã hội nữa. giai cấp có của cũng muốn có những quy tắc mới, có sức mạnh hơn hẳn so với những quy tắc xã hội cũ để bảo vệ lợi ích cho giai cấp mình, nên đã tìm cách giữ lại những tập quán có lợi, vận dụng và biến đổi các tập quán đó sao cho có lợi cho giai cấp mình. 
Khi nhà nước ra đời, giai cấp thống trị đã chọn lọc những phong tục, tập quán, tín điều tôn giáo… nào có lợi cho việc duy trì, bảo vệ lợi ích giai cấp mình, có tác dụng trong việc duy trì trật tự chung của xã hội thì quy định chúng thành quy tắc xử sự chung trong xã hội, bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo. Đồng thời giai cấp thống trị còn đề ra những quy định mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Từ đó pháp luật đã xuất hiện.
Như vậy, nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, đều là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Chúng chỉ ra đời và tồn tại khi trong xã hội có những điều kiện nhất định, điều kiện đó là có sự tư hữu, xã hội phân chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp.

Bản chất của pháp luật

         Cũng giống như nhà nước, bản chất của pháp luật được thể hiện ở hai mặt: bản chất về mặt giai cấp và bản chất về mặt xã hội. 
         a. Bản chất giai cấp của pháp luật. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, pháp luật chỉ ra đời tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Bản chất pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên hay pháp luật không mang tính giai cấp”. Mác đã viết về bản chất giai cấp của pháp luật: pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật, mà nội dung của nó được quy định bởi các điều kiện vật chất xã hội.  
          Bản chất giai cấp của pháp luật được thể hiện trước hết ở chỗ: pháp luật phản ánh ý chí của giai cấp thống trị. Do nắm trong tay bộ máy nhà nước, giai cấp thống trị đã sử dụng bộ máy đó để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và trở thành ý chí nhà nước, ý chí đó được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.  Bất cứ giai cấp nào, sau khi đã giành được chính quyền, đã chiếm đoạt được quyền lực, đều phải nhanh chóng thể chế hóa ý chí của giai cấp mình thành pháp luật và dùng pháp luật làm hình thức để khẳng định vai trò thống trị của giai cấp mình đối với toàn xã hội. Như vậy, ý chí của giai cấp thống trị như thế nào thì được thể hiện trong những quy định của pháp luật như thế ấy. Chẳng hạn: pháp luật của nhà nước chủ nô đã quy định về quyền lực vô hạn của chủ nô và tình trạng vô quyền của những người nô lệ. Pháp luật của nhà nước phong kiến đã có những quy định rất hà khắc để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi cho giai cấp địa chủ phong kiến và để đàn áp nhân dân lao động. Pháp luật nhà nước tư sản có những quy định rất chặt chẽ để thừa nhận và bảo vệ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất trong xã hội. Pháp luật của nhà nước XHCN thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công cụ để quản lý, xây dựng xã hội mới, bảo đảm quyền tự do bình đẳng cho mọi người.
b. Bản chất xã hội của pháp luật. Từ khi xuất hiện, pháp luật bao giờ cũng là công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị. Nhưng mặt khác, pháp luật còn là công cụ, phương tiện để tổ chức đời sống xã hội. Ở những mức độ khác nhau thì pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Về mặt này, pháp luật đã thể hiện bản chất xã hội. Bản chất xã hội của pháp luật được thể hiện rõ nét hay không là tuỳ thuộc vào bản chất nhà nước đó. 
Như vậy, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp, vừa thể hiện tính xã hội. Hai mặt này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên, mức độ “đậm, nhạt” của hai mặt đó thường thay đổi tuỳ thuộc vào mỗi nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Khi nghiên cứu về bản chất của pháp luật chúng ta nhận thức rằng pháp luật tuy là ý chí của giai cấp thống trị nhưng không phải do giai cấp thống trị tự nghĩ ra mà pháp luật phát sinh từ thực tiễn đời sống xã hội, cho nên pháp luật chính là sự phản chiếu thực tế khách quan, nhưng sự phản chiếu này lại thông qua ý chí chủ quan của nhà làm luật, do đó nhà làm luật thường lựa chọn góc độ phản ánh sao cho có lợi nhất cho giai cấp mình, do đó pháp luật vừa mang tính chủ quan lại vừa mang tính khách quan.

Đặc trưng của pháp luật

Trong xã hội có rất nhiều loại quy phạm, nhưng chỉ có quy phạm pháp luật mới có đặc điểm riêng của nó. Nhờ có những đặc điểm này mà pháp luật có những ưu thế vượt trội hơn hẳn so với những quy phạm xã hội khác. Những đặc điểm đó thể hiện như sau:
- Tính được bảo đảm bởi nhà nước. Sự đảm bảo bởi nhà nước là đặc trưng nổi bật của pháp luật. Dựa vào quyền lực nhà nước, pháp luật trở thành qui tắc xử sự có tính chất bắt buộc thi hành, không phụ thuộc vào chủ thể có đồng ý, có muốn hay không. Bằng các phương tiện thực thi quyền lực, nhà nước có khả năng áp dụng nhiều biện pháp khác nhau như: truyên truyền, giáo dục, vận động, khuyến khích… và cả cưỡng chế để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện.
Thông qua lực lượng quân đội, cảnh sát, tòa án cùng với khả năng sử dụng hình phạt…, sự đảm bảo bởi nhà nước đã làm cho công cụ thực sự có hiệu quả để giải quyết triệt để mọi xung đột, mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống xã hội. Đây là sự khác biệt cơ bản của pháp luật với đạo dức, tập quán hay tín điều tôn giáo.
- Tính quy phạm phổ biến. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, do đó những quy định của pháp luật là khuôn mẫu, mô hình, là thước đo cho hành vi xử sự của con người trong xã hội. Những quy định của pháp luật đã xác định về giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để mọi chủ thể có thể xử sự một cách tự do trong giới hạn pháp luật đã cho phép. Vượt quá giới hạn đó là trái luật. Giới hạn đó được xác định ở nhiều khía cạnh khác nhau như: cho phép, cấm đoán, bắt buộc. Nếu không có những khuôn mẫu, giới hạn như pháp luật đã quy định thì cũng không thể có cơ sở để quy kết một hành vi nào là trái hay không trái với những quy định của pháp luật.
Việc ban hành luật không phải chỉ để áp dụng cho một người hay một nhóm người mà là hướng tới mọi chủ thể đang cư trú trên lãnh thổ. Do vậy, hoạt động hành pháp có vai trò hết sức quan trọng nhằm phổ biến pháp luật đến với mọi đối tượng trong xã hội. 
- Tính ổn định. Để có thể thể chế hóa quan điểm của giai cấp thống trị về định hướng phát triển xã hội, thì tính ổn định của pháp luật trở thành công cụ quản lý nhà nước, cơ sở xác lập và bảo vệ quyền, nghĩa vụ của công dân, pháp luật bao giờ cũng có hiệu lực thi hành trong một khoảng thời gian dài. Hầu hết mọi văn bản qui phạm pháp luật đều chỉ qui định thời điểm bắt đầu hiệu lực và được áp dụng, cho đến ngày bị bãi bỏ. Việc chấm dứt hiệu lực của một đạo luật đã ban hành không phải là ý chí chủ quan mà phụ thuộc vào mức độ phát triển, thay đổi của những quan hệ xã hội. Sự ổn định của môi trường pháp lý là điều kiện cần thiết nhằm bảo đảm cho quá trình phổ biến pháp luật vào hiện thực cuộc sống xã hội… 
- Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức. Pháp luật phải được soạn thảo, ban hành thoe trình tự, thủ tục chặt chẽ; hình thức thể hiện của pháp luật phải được xác định cụ thể. Nội dung các điều, khoản trogn luật phải rõ rang, chặt chẽ bằng ngôn ngữ xúc tích nhưng trong sáng, đơn nghĩa. Điều này nhằm đảm bảo cho việc tiếp cận và nhận thức pháp luật một cách đầy đủ, thống nhất và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong thực tiễn xã hội.

Thứ Hai, ngày 20 tháng 10 năm 2014

Người nhạc sỹ trong thời khắc lịch sử


Giữa tiết trời thu Hà Nội, người dân lại nhớ về những giây phút lịch sử trọng đại của dân tộc, khi mà đoàn quân chiến thắng từ 5 cửa ô tiến vào tiếp quản Thủ đô (ngày 10/10/1954). Một rừng cờ, hoa với hàng vạn, hàng vạn người Hà Nội đổ ra đường vẫy chào đón mừng những chiến sĩ bộ đội Cụ Hồ về tiếp quản Thủ đô sau 9 năm kháng chiến trường kì gian khổ.
Không gì tả nổi sự sung sướng, hân hoan, nhiều người đã bật khóc. Những bó hoa tươi thắm từ bàn tay các thiếu nữ Hà Nội trong trang phục áo dài thướt tha thi nhau tung lên xe ôtô, các anh bộ đội giang tay đón nhận. Hòa cùng dòng người ngày đó có một nhạc sĩ ôm cây đàn guitare dẫn đầu đoàn đồng ca gồm 200 người cùng cất tiếng hát vang, tay đệm đàn: "Hoan hô các anh về đây giải phóng Thủ đô". Bài "Hà Nội giải phóng" ông viết vào tháng 8 năm 1954, cùng một số bài ca do chính nhạc sĩ sáng tác trước mấy ngày bộ đội về tiếp quản. Đó là nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ, người mà đến bây giờ giới âm nhạc Việt Nam đặt cho cái tên: "ông vua của Sonate Việt Nam".
Cũng vào một ngày thu, trong căn phòng ấm cúng số nhà 13- phố Nguyễn Quang Bích, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, tôi được nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ kể lại những giờ phút lịch sử của đất nước. Bước sang tuổi gần 90 nhưng trí óc ông vẫn minh mẫn, giọng nói nhẹ nhàng. Sau vài giây suy ngẫm, ông lục trong đống tài liệu đưa cho tôi xem một mảnh giấy mỏng nhàu nát qua thời gian. Có chữ kí, con dấu đỏ (Ban Chấp hành Thành đoàn Hà Nội). Nội dung ngắn gọn: Đồng chí Lê Văn Thành thay mặt Đoàn Thanh niên cứu quốc Hà Nội giao nhiệm vụ cho ông "Anh Đỗ Quyên" (tên bí danh) phụ trách một ban nhạc và đội đồng ca do Thành đoàn tổ chức, tập trung ở hồ Hoàn Kiếm để đón đoàn quân tiếp quản Thủ đô.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ (người cầm đàn) trong một thước phim tài liệu.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Quỳ hồi tưởng:
"Tin chiến thắng từ Điện Biên Phủ liên tiếp được anh Sinh là cán bộ trong thành đến báo cho tôi hàng ngày. Cũng cần nói thêm trong thời gian này tôi tham gia hoạt động học sinh, thanh niên kháng chiến nội thành, tổ chức hội họp tại số nhà 65 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm và tại nhà tôi ở 13 Phạm Phú Thứ (nay là số nhà 13 phố Nguyễn Quang Bích). Để gấp rút chuẩn bị chào đón Đại đoàn về tiếp quản Thủ đô, anh Lê Thành là Thường vụ Thanh niên Cứu quốc nội thành giao cho tôi phổ biến các bài hát cách mạng Việt Nam và những bài hát cách mạng Liên Xô như bài "Thanh niên dân chủ toàn thế giới", và yêu cầu tôi sáng tác gấp một số bài hát để chuẩn bị đón đoàn quân về tiếp quản Thủ đô. Anh Thành căn dặn: "Chia thành từng tốp nhỏ 4-5 người để dạy hát, tránh tập trung đông người (thời kì này chúng tôi vẫn hoạt động trong bí mật). Sau đó số người tôi dạy được nhân rộng gần 100 người. Lúc này tôi cũng mời thêm được nhạc sĩ Tô Mi chơi đàn Violon ở ngay cạnh nhà tôi, phố Nguyễn Văn Tố, cùng anh Nguyễn Đình Thanh chơi đàn Acoocdeon từ Hải Phòng về tham gia ban nhạc cùng dàn đồng ca (nhạc sĩ Tô Mi và Nguyễn Đình Thanh nay đã mất).
Đúng 7h30' sáng, 10/10/1954, tôi dẫn đầu ban đồng ca khoảng 200 người, xếp thành hàng 4 cùng lá cờ đỏ sao vàng xuất phát từ số nhà 13 Phạm Phú Thứ, nhà tôi ở hiện nay, tiến về hồ Hoàn Kiếm. Ban đồng ca được tập trung, xếp hàng thứ tự ở bến tàu điện Bờ Hồ (trước cửa nhà hàng Cá mập hiện nay), hát những ca khúc cách mạng Việt Nam và một số bài do tôi sáng tác. Dân chúng từ các phố Cầu Gỗ, Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang kéo về tập trung mỗi lúc một đông, hòa thành một không khí náo nhiệt, vui tươi, người nào cũng tay cờ, tay hoa cùng nhau vỗ tay hát theo ban đồng ca: "Hoan hô các anh về đây giải phóng Thủ đô" khi đoàn quân cùng xe cơ giới tiến qua.
Nhà quay phim người Nga Rôman Karmen đã dừng ống kính quay phim ở tốp đồng ca và ban nhạc chúng tôi rất lâu để ghi hình. Hơn nửa thế kỉ qua đi, kỉ niệm về những giây phút lịch sử thiêng liêng đó không bao giờ quên trong đời tôi cho đến tận bây giờ"


  Duy Ngọc

Thi ca "an ủi" nhan sắc


Làng showbiz có vài gương mặt từng thỏ thẻ tuyên bố bản thân vẫn bí mật làm thơ, nhưng in thành tập hẳn hoi thì rất hiếm. Sau tập thơ "Thập kỷ yêu" của ca sĩ Trần Thu Hà in năm 2011, thì tập thơ "Bốn mùa là em" của hoa hậu Giáng My giúp những đại gia lắm tiền nhiều bạc tư duy lại rằng mỹ nhân Việt cũng cần... vần điệu như cần hàng hiệu!
Tập thơ "Bốn mùa là em" của Giáng My chỉ mỏng 72 trang, nhưng in bốn màu trên giấy cực xịn. Bảo đảm các nhà thơ chuyên nghiệp trông thấy sẽ phát ganh tị vì vẻ bề ngoài của "Bốn mùa là em". Tuy nhiên, với Giáng My thì số tiền để in "Bốn mùa là em" chẳng có gì đáng kể, vấn đề quan trọng là 81 bài thơ được đặt tên riêng mỗi bài hoặc chỉ đánh số thứ tự, có thể chuyển tải được tâm hồn lúc bay bổng lúc hắt hiu của người đẹp tuổi ngoài bốn mươi chưa một lần mặc áo cưới nhưng từng nhịp đập trái tim vẫn khiến bao kẻ cuồng si chết đứng chết ngồi. Giáng My gọi đó là "năng lượng cô đơn", càng chôn chặt càng bùng nổ, càng đè nén càng thăng hoa: "Tình yêu buồn như sách không người đọc/ Khi đến tay thì mắt đã mù lòa".
Giáng My xuất thân trong một gia đình khá giả, được chơi piano từ nhỏ. Khi tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội thì Giáng My cũng đăng quang Hoa hậu Đền Hùng. Ở tuổi hai mươi rạng ngời, Giáng My đã vào
Sài Gòn gia nhập dòng phim mì ăn liền cùng với các tên tuổi Lý Hùng, Việt Trinh, Diễm Hương, Mộng Vân... và nhanh chóng vụt sáng như một ngôi sao giải trí.
Bất kỳ thầy tướng số giỏi cỡ nào thì ngắm dung mạo của Giáng My bây giờ cũng không thể phán chính xác Giáng My đã trải qua bao nhiêu mùa xuân. Vẻ đẹp không tuổi của Giáng My lay động quý anh cường tráng, quý ông sung mãn lẫn quý ngài quyền uy. Vì vậy, những ngón tay thon dài ngỡ chỉ có thể lướt trên phím đàn piano của Giáng My có thể gõ khẽ khàng mà vẫn làm những cánh cửa lạnh lùng nhất và khắc nghiệt nhất phải mở toang hoan hỉ đón chào. Lợi điểm ấy cộng với việc thông thạo bốn ngoại ngữ giúp Giáng My thành đạt trong nghề truyền thông. Đã nhiều năm Giáng My vẫn giữ vị trí Giám đốc đối ngoại cho Tập đoàn Truyền thông Kantana - Thái Lan kiêm Tổng giám đốc GM Pro.
Điều mà nam giới cũng phải trân trọng Giáng My là sức làm việc. Giáng My đi nước ngoài như đi chợ, nhưng vẫn điều hành hàng chục dự án lớn nhỏ. Với nhan sắc của Giáng My, có thể thong dong làm bình hoa di động cho đại gia cung phụng nhung gấm. Vậy mà, Giáng My đâu an phận phụ nữ nhàn rỗi hưởng đặc ân của Thượng đế. Giáng My vẫn tất bật ở trường quay, ở sân khấu, ở sự kiện lớn nhỏ khác nhau. Để rồi lúc nhan sắc bơ vơ thì có thi ca dỗ dành: "Ngày lễ buồn chỉ có ta và nến/ Cùng những thầm thì của gió và mưa".
Giáng My sở hữu biệt thự ngay trung tâm Sài Gòn, Giáng My di chuyển bằng siêu xe có giá gần 5 tỷ đồng. Và xung quanh Giáng My lúc nào cũng có những lời đường mật lẫn những hành vi tán tỉnh của các đại gia trổ mã ga-lăng. Thế nhưng Giáng My vẫn chấp chới nỗi buồn. Giáng My giấu nỗi buồn không để lộ ra trên khuôn mặt dịu dàng và tươi tắn thường trực của mình. Nỗi buồn của Giáng My chỉ bộc lộ ra trên trang giấy với những dòng thơ lặng lẽ: "Ta sẽ sống như ngày mai phải chết/ Sẽ yêu như chưa được nếm tình đầu/ Sẽ cháy bỏng như chẳng còn hơi thở...". Chắc chắn, khi đọc những câu thơ Giáng My viết, không ít đại gia vốn căm ghét thi ca tột độ sẽ chuyển sang trạng thái... say đắm thi ca vô bờ!


  Tuy Hòa

Khái luận chung về bộ máy nhà nước

1. Khái niệm: Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ trung ương đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những chức năng của nhà nước.
Bộ máy nhà nước là một thiết chế phức tạp, gồm nhiều cơ quan, mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ riêng, nhưng việc thực hiện những chức năng nhiệm vụ này đều nhằm đến việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chung của nhà nước. 
2. Các loại cơ quan quan trọng  trong bộ máy nhà nước
Bộ mày nhà nước thường gồm có ba loại cơ quan: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. Thực tế đã chứng minh rằng, cùng với quy luật về sự thay thế của các kiểu nhà nước thì bộ máy nhà nước cũng có sự thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn như:
- Bộ máy nhà nước chủ nô: chưa có sự phân biệt thành hệ thống các cơ quan. Bản thân những người chủ nô nắm quyền lực nhà nước vừa là nhà lãnh đạo lực lượng quân đội, cảnh sát vừa là người trực tiếp quản lý hành chính, đồng thời là quan tòa.
- Bộ máy nhà nước phong kiến: đã được tổ chức thành các cơ quan tương đối hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương. Ở trung ương có Vua và các quan trong triều đình giúp việc cho Vua. Ở địa phương có đội ngũ quan lại do Vua bổ nhiệm. Đã có quân đội, cảnh sát, nhà tù, toà án và các cơ quan khác. Bộ máy nhà nước phong kiến là một bộ máy quan lại từ trung ương đến địa phương mang nặng tính chất quan liêu, hoặc chuyên chế, đặc quyền, đặc lợi.
- Bộ máy nhà nước tư sản: đã đạt tới mức hoàn thiện cao, các cơ quan đã được phân định rõ ràng thành ba loại: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. Ba loại cơ quan này được cấu tạo dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập, cho nên có sự độc lập và chế ước lẫn nhau. Pháp luật đã quy định về chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước.  
- Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa: Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa có đặc điểm là tổ chức theo nguyên tắc tập quyền XHCN. Quyền lực nhà nước đều tập trung thống nhất vào nhân dân, thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua các cơ quan đại diện do mình bầu ra. Tuy tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, nhưng có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng nhằm thực hiện tốt ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
        3. Đặc điểm chung của các cơ quan trong nộ máy nhà nước
Các cơ quan nhà nước là bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước, do đó so với các tổ chức trong xã hội, không phải là nhà nước, thì cơ quan nhà nước có đặc điểm riêng là:
- Việc thành lập, hoạt động hoặc giải thể các cơ quan nhà nước đều phải tuân theo quy định của pháp luật. Các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động của mình dựa trên cơ sở quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền. 
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước thể hiện quyền lực của nhà nước, vì cơ quan nhà nước được giao quyền nhân danh nhà nước để thực hiện quyền lực nhà nước, cho nên trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình, cơ quan nhà nước được phép ban hành những văn bản pháp luật có tính bắt buộc thi hành đối với những tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan và có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện những văn bản do mình ban hành. Nếu tổ chức, đơn vị, cá nhân nào không thực hiện hoặc thực hiện sai đều phải chịu trách nhiệm.