Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2018

Công nghiệp 4.0 và trí tuệ nhân tạo



1. Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4
Cách mạng 4.0 được xây dựng dựa trên những Kỹ thuật số. Cuộc cách Mạng được khởi đầu bởi công nghệ mới đột phá trong một số trường, bao gồm cả roboticstrí thông minh nhân tạocông nghệ nanocông nghệ sinh họcInternet vạn vật, in 3D, và xe tự lái...
Trong cuốn sách của mình mang tên "Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư" Giáo sư Klaus Schwab, Người sáng lập và Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã mô tả cuộc cách mạng lần thứ tư này khác biệt cơ bản với ba lần trước, đặc trưng chủ yếu là những tiến bộ trong công nghệ. Các công nghệ này có tiềm năng tiếp tục kết nối hàng tỷ người trên web, cải thiện đáng kể hiệu quả kinh doanh và tổ chức, giúp tái tạo môi trường tự nhiên bằng cách quản lý tài sản tốt hơn.
Công nghiệp 4.0 là xu hướng hiện thời trong việc tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất. Nó bao gồm các hệ thống không gian mạng thực-ảo (cyber-physical system), Internet Vạn Vật và điện toán đám mây và điện toán nhận thức (cognitive computing).
Công nghiệp 4.0 tạo ra nhà máy thông minh (tiếng Anh: smart factory). Trong các nhà máy thông minh với cấu trúc kiểu mô-đun, hệ thống thực-ảo giám sát các quy trình thực tế, tạo ra một bản sao ảo của thế giới thực và đưa ra các quyết định phân tán.
Qua Internet Vạn Vật, các hệ thống thực-ảo giao tiếp và cộng tác với nhau và với con người trong thời gian thực, và với sự hỗ trợ của Internet Dịch vụ, dịch vụ nội hàm và dịch vụ xuyên tổ chức được cung cấp cho các bên tham gia chuỗi giá trị sử dụng.
Thuật ngữ "Công nghiệp 4.0" (tiếng Đức: Industrie 4.0) khởi nguồn từ một dự án trong chiến lược công nghệ cao của chính phủ Đức, nó thúc đẩy việc sản xuất điện toán hóa sản xuất.
Một số đã so sánh Công nghiệp 4.0 với cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư. Tuy nhiên, điều này đề cập đến một sự chuyển đổi có tính hệ thống bao gồm tác động lên xã hội dân sự, cơ cấu quản trị và bản sắc con người, ngoài các chi nhánh kinh tế / sản xuất.
Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đã huy động việc cơ giới hóa sản xuất sử dụng nước và hơi nước; Cuộc cách mạng thứ hai là cách mạng về kỹ thuật số và việc sử dụng các thiết bị điện tử và công nghệ thông tin để tiến tới tự động hoá sản xuất.
Thuật ngữ "Cách mạng công nghiệp lần thứ tư" đã được áp dụng cho sự phát triển công nghệ quan trọng một vài lần trong 75 năm qua, và là để thảo luận về học thuật. Công nghiệp 4.0, mặt khác, tập trung vào sản xuất đặc biệt trong bối cảnh hiện tại, và do đó là tách biệt với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư về phạm vi.
Thuật ngữ "Công nghiệp 4.0" đã được nhắc lại vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover.Tháng 10 năm 2012, Nhóm Công tác về Công nghiệp 4,0 trình bày một loạt các khuyến nghị về thực hiện Công nghiệp 4.0 cho chính phủ liên bang Đức. Các thành viên của Nhóm Công nghiệp 4.0 được công nhận là những người cha sáng lập và là động lực đằng sau Industry 4.0.
Có 4 nguyên tắc thiết kế trong công nghiệp 4.0. Những nguyên tắc này hỗ trợ những công ty trong việc định dạng và thực hiện những viễn cảnh của công nghiệp 4.0
- Khả năng tương tác: Khả năng giao tiếp và kết nối của những cỗ máy,thiết bị,máy cảm biến và con người kết nối và giao tiếp với nhau qua mạng lưới vạn vật kết nối internet hoặc mạng lưới vạn người kết nối internet.
- Minh bạch thông tin: Khả năng của những hệ thống thông tin để tạo ra 1 phiên bản ảo của thế giới thực tế bằng việc làm giàu những mô hình nhà máy kỹ thuật số bằng dữ liệu cảm biến. Điều này yêu cầu sự tập hợp những dữ liệu cảm biến thô đến thông tin ngữ cảnh có giá trị cao hơn.
- Công nghệ hỗ trợ: Đầu tiên khả năng của những hệ thống hỗ trợ con người bằng việc tập hợp và hình dung thông tin một cách bao quát cho việc tạo những quyết định được thông báo rõ ràng và giải quyết những vấn đề khẩn cấp qua những ghi chú ngắn gọn. Thứ nhì, khả năng của những hệ thống không gian mạng-vật lý để hỗ trợ con người thực hiện những nhiệm vụ cái mà không dễ chịu, tốn quá nhiều sức lực hoặc không an toàn đối với con người.
- Phân quyền quyết định: Hệ thống không gian mạng thực-ảo có quyền cho phép tự đưa ra quyết định và thực hiện nhiệm vụ một cách tự động nhất có thể.Chỉ trong trường hợp ngoại lệ, bị nhiễu, hoặc mục tiêu đề ra bị mâu thuẫn với nhau sẽ được ủy thác cho cấp cao hơn.
Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư bắt đầu vào đầu thế kỷ 21, tiếp sau những thành tựu lớn từ lần thứ 3 để lại, được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách mạng số, với những công nghệ mới như in 3Drobottrí tuệ nhân tạoInternet of Things, S.M.A.C, công nghệ nano, sinh học, vật liệu mới,... Hiện tại cả thế giới đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng này và là chiến lược bản lề cho các nước đang phát triển tiến đến để theo kịp với xu hướng thế giới và mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của con người.
Tác động của cách mạng công nghiệp là vô cùng sâu rộng. Không chỉ làm thay đổi đời sống con người, các cuộc cách mạng công nghiệp còn dẫn tới sự thay đổi toàn diện hình thái kinh tế – xã hội. Sau cách mạng công nghiệp lần thứ nhấtchủ nghĩa tư bản đã thắng thế chế độ phong kiến. Sau cách mạng công nghiệp lần thứ haichủ nghĩa tư bản độc quyềnđã thay thế chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, đồng thời chủ nghĩa xã hội đã manh nha hình thành. Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba dẫn tới sự ra đời chủ nghĩa tư bản hiện đạiCách mạng Công nghiệp lần thứ tư hứa hẹn sẽ làm thay đổi hình thái kinh tế - xã hội của nhân loại thêm một lần nữa.
2. Trí tuệ nhân tạo
Trí tuệ nhân tạo hay trí thông minh nhân tạo (tiếng Anh: Artificial intelligence hay tiếng Anh: Machine intelligence - AI) là một ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính (tiếng Anh: Computer science). Là trí tuệ do con người lập trình tạo nên với mục tiêu giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi thông minh như con người.
Trí tuệ nhân tạo khác với việc lập trình logic trong các ngôn ngữ lập trình là ở việc ứng dụng các hệ thống học máy (tiếng Anh: machine learning) để mô phỏng trí tuệ của con người trong các xử lý mà con người làm tốt hơn máy tính. Cụ thể, trí tuệ nhân tạo giúp máy tính có được những trí tuệ của con người như: biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do hiểu ngôn ngữ, tiếng nói, biết học và tự thích nghi,….
- Trí tuệ nhân tạo bao gồm các cơ sở lý thuyết và việc lập trình xây dựng của các hệ thống máy tính có thể thực hiện các nhiệm vụ thường đòi hỏi trí thông minh của con người như nhận thức thị giác, nhận dạng giọng nói, ra quyết định và dịch giữa các ngôn ngữ.
- Trí tuệ nhân tạo giúp tạo ra máy tính có khả năng suy nghĩ, máy tính có trí tuệ theo đầy đủ nghĩa của từ này (Haugeland, 1985).
- Trí tuệ nhân tạo là khoa học nghiên cứu xem thế nào để máy tính có thể thực hiện được những công việc mà con người làm tốt hơn máy tính (Rich và Knight,1991).
- Trí tuệ nhân tạo là khoa học nghiên cứu các hoạt động trí não thông qua các mô hình tính toán (Chaniaka và McDemott, 1985).
- Trí tuệ nhận tạo nghiên cứu các mô hình máy tính có thể nhận thức, lập luận và hành động (Winston, 1992)
- Trí tuệ nhân tạo nghiên cứu các hành vi thông minh mô phỏng các vật thể nhân tạo (Nilsson, 1998)
- Trí tuệ nhân tạo là khoa học nghiên cứu các hành vi thông minh nhằm giải quyết các vấn đề được đặt ra đối với các chương trình máy tính (Học viện Kỹ thuật Quân sự)
3. Trí tuệ nhân tạo – những thách thức thường trực
Hiệp hội Khoa học Anh Quốc vừa loan đi lời cảnh báo cho tương lai, rằng trí tuệ nhân tạo mới là mối đe dọa đáng lưu tâm chứ không phải biến đổi khí hậu hay nạn khủng bố.
Jim Al-Khalili, giáo sư vật lý đang công tác tại Đại học Surrey, chia sẻ rằng những tiến bộ đạt được của chúng ta về công nghệ trí tuệ nhân tạo là quá nhanh mà không có sự giám sát hay điều chỉnh chúng đi vào khuôn khổ. Từ điều này, giáo sư Al-Khalili lo ngại sẽ phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến an ninh và thúc giục chính phủ các nước khẩn trương hành động.
Phát biểu trong một cuộc họp báo tại Luân Đôn trong khuôn khổ Triển lãm Khoa học Anh Quốc, ông cho biết: “Chỉ mới vài năm trước đây, nếu được hỏi về những mối lo ngại trong tương lai, tôi sẽ trả lời ngay là biến đổi khí hậu hay những thứ có thể ảnh hưởng đến phần lớn nhân loại, như khủng bố, bệnh dịch toàn cầu hay nạn đói ở các nước nghèo.
Nhưng ở đây vào giờ này, tôi chắc chắn rằng thứ đe dọa chúng ta một cách trực tiếp trong tương lai, thứ mà chúng ta phải lo lắng ngay từ bây giờ, chính là tương lai của trí tuệ nhân tạo. Chúng ta sẽ không thể biết được những gì xảy ra khi trí tuệ nhân tạo thống trị, có thể là một tương lai tươi sáng nhưng cũng không loại trừ những tháng ngày tăm tối.
Nếu các tin tặc có thể can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016, thì sự ‘nhúng tay’ vào bất kỳ hệ thống mạng nào như lưới điện quốc gia, hệ thống giao thông, tài chính ngân hàng hay thậm chí là quân sự, cũng không còn là việc quá khó với đội quân trí tuệ nhân tạo mạnh mẽ của tương lai.”
Giáo sư Jim chia sẻ mối quan ngại của mình về tương lai của công nghệ này, và hy vọng chính phủ ở các quốc gia mau chóng hành động trước khi quá trễ. “Các chính phủ trên thế giới cần có trách nhiệm bảo vệ xã hội khỏi các mối đe dọa này và những rủi ro tiềm ẩn chưa bộc phát,” ông cho biết
Gắn liền với cuộc Cách mạng công nghiệp thứ tư, trí tuệ nhân tạo và robot đã được cải thiện rất nhiều về lối suy nghĩ và cách làm việc. Nhiều công ty công nghệ lớn trên thế giới đã đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc trong việc tạo ra một cỗ máy có thể tự học tập và làm việc dựa trên những kinh nghiệm có được.
Tuy vậy, Ngân hàng Anh Quốc vào đầu tuần rồi cho biết, một lượng lớn lao động Anh đang đứng trước nguy cơ bị mất việc làm vì đội ngũ robot và các thuật toán tinh khôn đang tiếp quản dần những công việc ngày càng phức tạp hơn, tưởng chừng chỉ có con người mới làm được.
Những ngành nghề đặc thù với sự tư duy sáng tạo như soạn thảo nội dung và tư vấn khách hàng, hiện cũng đứng trước bờ vực bị đe dọa khi công ty M&S vừa cho ra mắt tổng đài tư vấn với đội ngũ điện thoại viên hoàn toàn là những thuật toán máy tính.
“Những vấn đề mà chúng ta đang thấy và sẽ đối mặt, chính là hệ quả của những tiến bộ thiếu kiểm soát trong công nghệ trí tuệ nhân tạo,” giáo sư Al-Khalili băn khoăn chia sẻ. “Sự lo lắng này là hợp lý khi sự phát triển quá mức của trí tuệ nhân tạo sẽ dẫn đến những sự bất bình đẳng trong xã hội.”
“Trong khi trí tuệ nhân tạo sẽ giành hết công ăn việc làm của nhiều người, đặc biệt là những công nhân lao động tay chân hoặc công việc đòi hỏi trình độ không cao, thì nhiều công ty lớn lại mạnh tay đầu tư vào trí tuệ nhân tạo khiến công nghệ này phát triển nhanh chóng chưa từng thấy,” ông cho biết.
Một cuộc khảo sát được thực hiện bởi KPMG cho thấy, 59% người dân Anh mong muốn chính phủ cần ban hành những đạo luật cụ thể để kiểm soát hoạt động của trí tuệ nhân tạo, và lo lắng vì quyền riêng tư của họ đang không được đảm bảo.
Sue Daley, người đứng đầu mảng trí tuệ nhân tạo tại TechUK, cho biết đã đến lúc có những hành động cụ thể để kiểm soát trí tuệ nhân tạo. “AI có nhiều tiềm năng và những khả năng chúng ta thậm chí còn chưa nghĩ đến. Anh Quốc đang dẫn đầu trong việc sử dụng AI trong các lĩnh vực y tế hay tài chính.
Nhưng vì vậy mà chính phủ thả cửa cho công nghệ này được hoạt động một cách thiếu kiểm soát. Đã đến lúc cần có những cơ chế để quản lý hoạt động của AI, không chỉ sáng tạo mà cần phải có những trách nhiệm bởi các nhà đầu tư vào công nghệ này,” bà chia sẻ.
1.3. Thất nghiệp hàng loạt
Robot cướp việc của con người thực sự là nỗi lo chung của các nhà phân tích cũng như giới công nhân. Khả năng của AI trong lĩnh vực tự động hóa sẽ khiến rất nhiều việc làm có tính chất lặp đi lặp lại bị thay thế, dẫn tới việc người lao động sẽ trở nên không còn cần thiết.
Alan Bundy, giáo sư tại trường tin học của trường Đại học Edinburgh, nhấn mạnh: "Mất việc làm có lẽ là mối lo lớn nhất".
Theo ông Bundy, tỷ lệ thất nghiệp cao chính là lý do chính cho sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy trên toàn thế giới. Ông Bundy lấy ví dụ từ cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ với chiến thắng của ông Donald Trump cũng như việc Anh rút khỏi Liên minh châu Âu (EU).
Tuy nhiên, những người ủng hộ AI khẳng định việc làm mới sẽ được tạo ra nhưng đòi hỏi những kỹ năng cao hơn để phù hợp trong bối cảnh AI được áp dụng phổ biến khắp hành tinh. Theo Công ty Nghiên cứu Gartner dự đoán, AI sẽ tạo ra 2,3 triệu việc làm sau khi lấy đi 1,8 triệu việc làm. Điều đó đồng nghĩa với việc nó tạo ra 500.000 việc làm mới.
Dẫu vậy, nó cũng không làm giảm lo ngại về việc sa thải hàng loạt. Theo nghiên cứu của Oxford, những công việc dễ bị thay thế nhất là nhân viên môi giới, nhân viên ngân hàng, bảo hiểm, kế toán thuế… mặc dù không thể phủ nhận kỹ năng nghề nghiệp rất quan trọng trong lĩnh vực tài chính.
2.3. Chiến tranh
Sự ra đời của cái gọi là robot sát thủ và việc ứng dụng AI vào lĩnh vực quân sự có thể khiến hậu quả của chiến tranh trở nên vô cùng thảm khốc. Nhà sáng lập Tesla Elon Musk được biết đến như là một người rất phản đối AI. Năm ngoái, vị tỷ phú nổi tiếng ngông cuồng này còn cảnh báo AI sẽ dẫn tới Thế chiến III.
Dù rõ ràng Elon Musk đã nhận định với đôi chút cường điệu nhưng nó vẫn đủ gây sợ hãi với nhiều người. Các nhà phân tích cũng như các nhà vận động lập luận rằng cho vũ khí quyền giết người hay áp dụng AI vào quyết định quân sự sẽ tạo ra vô số tình huống khó xử về đạo đức.
Thậm chí, nhiều người đã lên tiếng kêu gọi chính phủ các nước cấm loại máy móc giết người. Từ năm 2013, người ta đã tổ chức các hoạt động kêu gọi ngừng phát triển robot sát thủ cũng như không áp dụng trí tuệ nhân tạo vào lĩnh vực quân sự.
"Bất cứ hệ thống máy móc nào, dù là trí tuệ nhân tạo hay không, đều không được phép đưa ra những quyết định liên quan tới sự sống và cái chết, chẳng hạn như nổ súng hay phóng tên lửa. Ý nghĩ đó thực sự đáng sợ", Frank van Harmelen, một nhà nghiên cứu AI tại Vrije Universiteit Amsterdam, nhấn mạnh.
Ngoài ra, người ta cũng tỏ ra lo ngại việc AI đưa ra những báo động nhầm, có thể gây ra những hậu quả thảm khốc trong bối cảnh vũ khí hạt nhân của các cường quốc luôn sẵn sàng nằm trên bệ phóng.
3.3. Bác sĩ robot
Khi các chuyên gia đều đồng ý về lợi ích mà trí tuệ nhân tạo mang lại cho lĩnh vực y tế, chẳng hạn như chuẩn đoán bệnh sớm hay có cái nhìn tổng thể về sức khỏe, một số bác sĩ lại cảnh báo về việc con người quá phụ thuộc vào trí tuệ nhân tạo trong việc đưa ra nhận định khám chữa bệnh. Đến thời điểm hiện tại, tất cả ứng dụng AI cho y tế đều rất thành công nhưng nó chỉ ở trong một phạm vi hẹp. Nếu rộng hơn, những ứng dụng này khó có thể đáp ứng các đòi hỏi.
Tuần trước, một báo cáo y tế dẫn số liệu nội bộ của IBM cho thấy siêu máy tính của Watson đã đưa ra những khuyến nghị không an toàn và thiếu chính xác về điều trị ung thư. Theo bài báo, phần mềm này chỉ được huấn luyện về một số ít trường hợp, không thể đa dạng như trong thực tế.
4.3. Giám sát hàng loạt
Các chuyên gia cũng sợ rằng AI sẽ được dùng để giám sát cuộc sống của mọi người liên tục trong cả ngày, đêm(24/24h). Ở Trung Quốc, nỗi sợ này đang trở thành hiện thực khi tại nhiều thành phố khác nhau, công nghệ nhận diện khuôn mặt và trí tuệ nhân tạo được nhà chức trách sử dụng nhằm giảm bớt tội phạm.
Trung Quốc hiện có khoảng 200 triệu máy quay giám sát. Nhà chức trách Trung Quốc cũng có khả năng truy cập các thông tin công dân. Hiện tại, nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới đang phấn đấu ngồi vào vị trí số 1 thế giới về AI vào năm 2030 cũng như muốn tăng giá trị của ngành công nghiệp này lên 1 nghìn tỷ tệ (146,6 tỷ USD) vào thời điểm đó. Tuy nhiên, chẳng ai muốn bị giám sát mọi lúc, mọi nơi.
Tổng hợp (Theo TechInsight và Trí thức trẻ/CNBC)





Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

Tiểu luận triết học(dùng cho chương trình sau đại học không chuyên ngành triết học)


I. DANH MỤC TIỂU LUẬN
1. Vai trò của Phật giáo trong văn hóa truyền thống Việt Nam;
2. Nội dung, ý nghĩa nhân sinh quan trong 14 lời răn của Phật giáo;
3. Vai trò của triết học Nho giáo đối với văn hóa truyền thống Việt Nam;
4. Quan niệm về Đạo làm người trong lịch sử triết học Việt Nam
5. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng;
6. Các hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật;
7. Ý nghĩa bước ngoặt cách mạng do Mác và Ăngghen thực hiện trong triết học.
8. Mối quan hệ giữa triết học và khoa hoc trong triết học Hy Lạp cổ đại;
9. Mối quan hệ giữa triết học và khoa học
II. HƯỚNG DẪN VIẾT TIỂU LUẬN
1. Những vấn đề chung
- Là một dạng bài  tập, trình bày kết quả nghiên cứu về một đề tài nhất định, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Một hình thức học tập, rèn luyện khả năng nghiên cứu khoa học, rèn luyện năng lực tư duy lôgíc, khả năng trình bày và luận giải một vấn đề khoa học.
- Đề tài phải bao gồm: đặt vấn đề, luận giải, sự vận dụng (liên hệ). Không được sao chép, nội dung kế thừa các công trình nghiên cứu đã công bố phải ghi chú thích rõ ràng.
- Về bố cục. Ngoài Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục (nếu có), một tiểu luận phải có 3 phần:
+ Phần mở đầu(Dẫn luận hoặc đặt vấn đề);
+ Phần nội dung(luận giải những vấn đề đã được nêu trong việc lựa chọn ở phần mở đầu).
+ Phần kết luận( khái quát những những vấn đề đã luận giải trong phần nội dung).
- Về hình thức
+ Tiểu luận được in trên một mặt giấy khổ A4; phần nội dung từ 12 đến 18 trang (không kể Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Mục lục và Phụ lục).
+ Bìa 1và bìa lót (nội dung giống nhau), kế tiếp là một trang giấy trắng.
+ Co chữ: 13 hoặc 14;
+ Dãn dòng: 1.2 hoặc 1.3
+ Mục lục đưa lên trang đầu.
+ Trích dẫn (nguồn). Nguyên bản phải để trong ngoặc kép “ a”, dẫn tài liệu tham khảo, trang, tên tác giả. Nếu không trích dẫn nguyên bản, ghi tài liệu tham khảo:  xem trang… trong sách, bài viết trên tạp chí, trích nguồn trên mạng…
 - Mỗi học viên làm một bài tiểu luận hoặc làm theo nhóm (Nhóm tối đa là  3 học viên).
2. Kết cấu    
a. Phần mở đầu (Từ 1 đến 2 trang). Trong tiểu luận thường dùng (mục I).
- Đặt vấn đề;Về nguyên tắc, một tiểu luận (một báo cáo khoa học) phải tìm cách trả lời những câu hỏi:
+ Lý do chọn đề tài (mục đích)?
+ Tình hình nghiên cứu đề tài (đề tài đã được nghiên cứu)?
+ Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài?
+  Xác định nội dung cơ bản (kết cấu nội dung) và giới hạn của đề tài;
Ví dụ: “Các hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật”:
1. Chủ nghĩa duy vật chấc phác cổ đại…
2. Chủ nghĩa duy vật siêu hình cận đại…
3. Chủ nghĩa duy vật biện chứng…
b. Phần nội dung(Từ 8 đến 15 trang). Trong tiểu luận thường dùng (mục II) còn các nội dung cụ thể dùng 1,2,3…).
- Chủ nghĩa duy vật chấc phác cổ đại…
+ Chủ nghĩa duy vật chất phác cổ đại;
+ Những thành tựu của chủ nghĩa duy vật cổ đại;
+ Những hạn chế của chủ nghĩa duy vật cổ đại.
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình cận đại(Siêu hình)…
+ Chủ nghĩa duy vật cận đại;
+ Những thành tựu…
+ Những hạn chủ của chủ nghĩa duy vật cổ đại.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng(triết học Mác – Lênin)
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng;
+ Những thành tựu của chủ nghĩa duy vật biện chứng;
+ Những hạn chế của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
3. Phần kết luận(từ 1 đến 2 trang). Trong tiểu luận thường dùng (mục III).
Đánh giá khái quát kết quả những nội dung cơ bản của đề tài đã được nghiên cứu:
Ví dụ: “Các hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật”:
- Về chủ nghĩa duy vật chấc phác cổ đại…
- Về chủ nghĩa duy vật siêu hình cận đại…
- Về chủ nghĩa duy vật biện chứng…
4. Danh mục tài liệu tham khảo. Trong tiểu luận thường dùng (mục IV).
1, 2, 3…







Thứ Hai, 17 tháng 9, 2018

Khái luận chung về triết học


I. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT HỌC
1. Triết học, đối tượng nghiên cứu của triết học
a. Khái niệm triết học
- Triết học xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VIII (TCN)ở thời kỳ cổ đại với tính cách là một khoa học, một hình thái của ý thức xã hội.
- Ý thức: Hoạt động tinh thần của con người.
+ Ý thức cá nhân: đời sống tinh thần của cá nhân: Tình cảm, niềm tin, ý chí, tri thức…
+ Ý thức xã hội: đời sống tinh thần của xã hội thông qua các học thuyết xã hội (các hình thái của ý thức xã hội)….
Các hình thái ý thức xã hội – sắp xếp bởi sự tác động trực tiếp, gián tiếp đời sống xã hội:
+ Ý thức Chính trị;
+ Ý thức Pháp quyền;
+ Ý thức Đạo đức;
+ Ý thức Triết học;
+ Ý thức Khoa học;
+ Ý thức Tôn giáo;
+ Ý thức Thẩm mỹ.
 (1). Ý thức chính trị là các học thuyết chính trị xã hội (Chính trị học).
- Chính trị học nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn của chính trị, phân tích các hệ thống chính trị và các ứng xử chính trị...
Các lĩnh vực của chính trị học bao gồm:
+ Lý thuyết chính trị và triết học chính trị;
+ Giáo dục công dân;
+ Quan hệ quốc tế;
+ Chính sách ngoại giao;
+  Luật quốc tế...
- Một số trường đại học nổi tiếng đào tạo các chính trị gia và tỷ phú:
+ Đại học Harvard(Mỹ).
Được thành lập từ năm 1636, đến nay Harvard được ví như cái nôi sản sinh ra các nhân tài cho thế giới.
Đã có 8 đời tổng thống Mỹ và 47 người đoạt các giải Nobel từng theo học tại đây.
+ Đại học Oxford(Anh)
Đại học Oxford ở nước Anh được xây dựng từ thế kỷ 11, sau gần 1000 năm tồn tại nó được ghi nhận là một trong những ngôi trường đại học đầu tiên của thế giới.
Bà Margaret Thatcher, cựu thủ tướng Tony Blair, Davis Camaron đều từng là những cựu sinh viên của đại học Oxford. Ngoài ra hai nhà triết học vĩ đại Thomas Hobbes và John Locke cũng đều đã từng theo học tại đây.
(2). Ý thức pháp quyền là các học thuyết pháp quyền (Luật học).
- Tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội... việc thực thi luật pháp của Nhà nước...
- Pháp luật(Luật) là ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện thành luật lệ, do đó mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước chỉ có một hệ thống pháp luật nhất định.
(3). Ý thức đạo đức là các học thuyết đạo đức (Đạo đức học).
- Quan niệm của các cộng đồng người về các giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng... và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân...
- Đạo đức là một trong những hình thái ý thức ra đời từ rất sớm trong lịch sử, ngay từ xã hội nguyên thuỷ...
- Trong xã hội có giai cấp ý thức đạo đức mang tính giai cấp...
(4). Ý thức triết học(Các học thuyết triết học).
- Triết học với tính cách là một khoa học… xuất hiện học sớm nhất trong lịch sử khoa học.
- Triết học ra đời khoảng thế kỷ VIII TCN trong các nền văn minh Cổ Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc…
- Theo quan niệm Duy vật biện chứng: “Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí và vai trò của con người đối với thế giới”.
(5). Ý thức khoa học(Lịch sử các học thuyết khoa học).
- Ý thức khoa học là hệ thống tri thức phản ánh chân thực dưới dạng lôgic trừu tượng (chân lý khoa học) về thế giới đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn.
- Tri thức khoa học thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác, hình thành các khoa học tương ứng với từng hình thái ý thức xã hội...
- Đối tượng phản ánh của ý thức khoa học bao quát mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy.
+  Khoa học tự nhiên - kỹ thuật, nghiên cứu các quy luật của tự nhiên, các phương thức chinh phục và cải tạo tự nhiên;
+ Khoa học xã hội nghiên cứu các quy luật vận động, phát triển của xã hội và bản thân con người như là một thực thể xã hội dưới các phương diện khác nhau...
+ Khoa học nghiên cứu những vấn đề chung, quy luật chung, đó là triết học.
(6). Ý thức tôn giáo là lịch sử các học thuyết tôn giáo (Tôn giáo học).
- Ý thức tôn giáo thực hiện chức năng chủ yếu về đời sống tâm linh – chức năng đền bù – hư ảo về những hiện tượng thần bí... Chức năng đền bù - hư ảo... đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người.
+ Nhu cầu tâm linh là nhu cầu tự thân của đời sống tâm linh hình thành bởi sự bất lực của con người trước những sức mạnh thần bí của các hiện tượng tự nhiên, xã hội và ý thức...
+ Nhu cầu tự thân của đời sống tâm linh xuất phát từ tình cảm và niềm tin bởi tín ngưỡng tôn giáo...
+ Tín ngưỡng là một niềm tin để giải thích thế giới... hy vọng mang lại sự bình yên cho con người...Nó  tính dân tộc, dân gian(văn hóa).
Tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo (tín ngưỡng tôn giáo)... Tín ngưỡng mang tính cộng đồng...tính dân tộc có một số đặc điểm chung như tập tục, nghi lễ tâm linh...
Ví dụ tín gưỡng dân gian trong văn hóa dân gian Việt Nam...
+ Tín ngưỡng phồn thực (Thờ sinh thực khí liên quan đến việc sinh đẻ )...
+ Sùng bái tự nhiên (Thờ các vị thần tự nhiên – chủ nghĩa bái vật).
+ Thờ người (Hồn vía, Tổ tiên, Thờ Tổ nghề, Thành hoàng, Giỗ Tổ)...
+ Thờ Thần (Thổ Địa, Thần Tài, Táo Quân, Hà Bá, Phúc Lộc Thọ)...
Chức năng đền bù hư ảo làm cho tôn giáo có một vị trí đặc biệt trong xã hội xét về các phương diện như: Tình cảm, niềm tin, tín ngưỡng...tạo thành bản sắc văn hóa truyền thống của các cộng đồng dân tộc...
Những mâu thuẫn của đời sống hiện thực và những bất lực thực tiễn của con người... được giải quyết một cách hư ảo trong ý thức tôn giáo.
Tôn giáo luôn được các giai cấp thống trị bóc lột sử dụng như một công cụ tinh thần, một phương tiện củng cố địa vị thống trị của họ...
- Một số các tôn giáo lớn trong lịch sử:
- Ki tô giáo
+ Xuất phát từ tiếng Latinh religio có nghĩa "tôn trọng điều linh thiêng, tôn kính thần linh" hay "bổn phận, sự gắn kết giữa con người với thần linh";
+ Biểu tượng: Thánh giá  
+ Đức tin:  Tôn thờ Đức Chúa ba ngôi;
+ Giáo lý: kinh thánh (cựu, tân ước, phúc âm);
+ Các hệ phái cơ bản: Thiên chúa(công giáo) – Tin lành.
+ Tín đồ: 2,5 tỷ người;
- Hồi giáo
+ Nguyên nghĩa của « Hồi giáo » trong tiếng Ả Rập là Islam và có nghĩa là "vâng mệnh, quy phục Thượng đế".
+ Biểu tượng:Hình ảnh trăng khuyết và ngôi sao.
+ Đức tin: Thánh Allah tối cao, Muhammad là vị Thiên sứ;
+ Giáo lý: Kinh coran(Qur'an);
+ Các hệ phái: sau khi Nhà tiên tri – Thiên sứ Mohammed, người sáng lập ra Hồi giáo qua đời(632), cộng đồng người theo tôn giáo này bắt đầu chia thành hai dòng Sunni và Shiite dựa theo cách họ chọn người lãnh đạo mới(Abu Bakr và Ali).
+ Tín đồ: 1,57 tỷ người;
- Phật giáo
+  Tín ngưỡng và phương pháp tu luyện dựa trên lời dạy của Siddhārtha. Phật-đà, "Người giác ngộ".
+ Đức tin: Thờ Phật tổ và các cao tăng được coi là hiện thân của phật tổ(Như lai) với các chức danh như: Bồ tát, La hán...
+ Biểu tượng: Bánh xe Pháp luân công(Bát chính đạo).
+ Giáo lý: Kinh Tam tạng và Tứ diệu đế;
+ Các bộ phái: Nam tông – Bắc tông;
+ Tín đồ: khoảng 350 triệu(chính thức) đến 1,6 tỷ người không chính thức;
(7). Ý thức thẩm mỹ(Mỹ học, nghệ thuật học): Lịch sử các học thuyết mỹ học và nghệ thuật...
 Nghiên cứu các qui luật của quan hệ thẩm mỹ.
- Chủ thể thẩm mỹ:
   + Chủ thể tiếp nhận giá trị thẩm mỹ: là nhóm chủ thể hưởng thụ… các giá trị thẩm mỹ.
+ Chủ thể sáng tạo thẩm mỹ: là những chủ thể tiếp nối quá trình tiếp nhận giá trị thẩm mỹ, giá trị nghệ thuật để sáng tạo thẩm mỹ, sáng tạo nghệ thuật.
 + Chủ thể thể biểu hiện giá trị thẩm mỹ: là nhóm chủ thể thực hiện việc truyền đạt sản phẩm của chủ thể sáng tạo tới chủ thể thưởng thức, tiếp nhận giá trị thẩm mỹ.
+ Chủ thể tổng hợp các giá trị thẩm mỹ: là người thụ cảm, sáng tạo, người biểu hiện và phê bình thẩm mỹ và nghệ thuật.
+ Chủ thể phê bình thẩm mỹ: là nhóm chủ thể định hướng giá trị trong hoạt động đánh giá thẩm mỹ, đánh giá nghệ thuật.
- Khách thể thẩm mỹ:
+ Cái đẹp;
+ Cái bi;
+ Cái hài.
- Nghệ thuật:
+ Nguồn gốc, bản chất, chức năng...
+ Các loại hình nghệ thuật.
 b. Đối tượng của triết học
Đối tượng nghiên cứu của triết học cũng thay đổi và phát triển có tính chất lịch sử.
- Thời cổ đại, khi xuất hiện phân chia lao động trí óc và lao động chân tay, đối tượng nghiên cứu của triết học và khoa học cụ thể về cơ bản thống nhất với nhau.
+ Triết học cổ đại Trung Hoa gắn liền với vấn đề chính trị, đạo đức - xã hội;
+ Triết học cổ đại Ấn Độ gắn liền với những vấn đề tâm linh của tôn giáo;
+ Triết học cổ đại Hy Lạp gắn liền với khoa học tự nhiên và gọi là triết học tự nhiên. Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này: “Triết học là khoa học của các khoa học”.
Quan niệm này kéo dài đến thời kỳ phục hưng và cận đại. Đặc biệt còn được khôi phục bởi triết học Cổ Đức cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Triết học cổ đại đã đặt nền tảng đối với lịch sử phát triển của triết học cũng như các khoa học cụ thể ở các thời đại về sau.
    - Thời trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội dẫn đến triết học tự nhiên bị thay thế bởi triết học kinh viện;
    Triết học kinh viện phụ thuộc vào thần học, có nhiệm vụ lý giải và chứng minh Kinh thánh của Thiên chúa giáo.
    - Sự phát triển của khoa học ở thế kỷ XV, XVI đã tạo ra cơ sở vững chắc cho sự phục hưng triết học, khoa học thực nghiệm ra đời với tính cách là những khoa học độc lập so với triết học.
  Chủ nghĩa duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng và đã đạt tới đỉnh cao ở thế kỷ XVII – XVIII;
- Cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX, sự ra đời của triết học Cổ điển Đức có vai trò quan trọng cho sự ra đời và phát triển của triết học hiện đại…
- Nửa đầu thế kỷ XIX, thế kỷ XX sự ra đời của triết học Mác – Lênin và triết học tư sản hiện đại…
+ Triết học Mác- Lênin tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu các qui luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy.
+ Triết học phương Tây hiện đại muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng của triết học theo khuynh hướng mở rộng đi vào những những vấn đề cụ thể của đời sống xã hội: triết học nhân bản, duy lý và tôn giáo, v.v…
c. Vấn đề cơ bản của triết học
Theo Ph.Ăngghen: Vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức
Nội dung mối quan hệ giữa vật chất và ý thức xác định hai nguyên tắc chung:
- Thứ nhất, xác định ngôi thứ, tính quyết định hay phụ thuộc trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để trả lời câu hỏi, giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào quyết định cái nào?
Nguyên tắc này hình thành chức năng thế giới quan của triết học.
- Thứ hai, nghiên cứu khả năng nhận thức của con người về hiện thực khách quan để trả lời câu hỏi, con người có hay không có khả năng nhận thức được hiện thực hay không? Nguyên tắc này hình thành phương pháp luận của triết học.
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học:
- Vật chất và ý thức là hai phạm trù rộng lớn nhất của triết học và đồng thời nó cũng là nội dung cơ bản được xác định trong đối tượng nghiên cứu của triết học.
- Giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt sự giống nhau, khác nhau giữa các trường phái triết học.
Ví dụ: Trường phái duy vật thừa nhận vật chất có trước, quyết định ý thức, ý thức là cái có sau phụ thuộc vào vật chất. Đối lập với quan niệm này triết học duy tâm.
- Giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là cơ sở lý luận chung về thế giới quan và phương pháp luận của triết học…
d. Các trường phái triết học
- Chủ nghĩa duy tâm
Chủ nghĩa duy tâm là trường phái nhất nguyên luận và có hai hình thức: duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan…
+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi ý thức là cái có sẵn trong bộ não con người, cái có trước quyết định thế giới vật chất…
Ví dụ: theo quan điểm của Béccơli: “Tồn tại - có nghĩa là được nhận thức” hoặc quan điểm của Đềcáctơ: “Tôi tư duy vậy tôi tồn tại”.
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan coi ý thức tồn tại khách quan, có trước, quyết định đối với hiện thực và con người.
Ví dụ: “Ý thức khách quan” được Platôn là “ý niệm”, Hêghen: “ý niệm tuyệt đối”... theo nghĩa đó, ý thức khách quan là một thực thể thuần túy trừu tượng như linh hồn, hoặc các lực lượng siêu nhiên.
- Chủ nghĩa duy tâm coi ý thức là tính thứ nhất, là cái có trước, cái quyết định vật chất còn vật chất là tính thứ hai, cái có sau, cái phụ thuộc vào ý thức...
- Chủ nghiã duy vật
Chủ nghĩa duy vật là trường phái nhất nguyên luận và có ba hình thức cơ bản:
+ Chủ nghĩa duy vật cổ đại (chất phác). Quan niệm về thế giới là duy vật, nhưng chưa có cơ sở khoa học, bởi nó mang tính trực quan, cảm tính chủ yếu dựa vào tri thức kinh nghiệm...
+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình từ thế kỷ XV - XVII...ảnh hưởng của phương pháp nhìn nhận thế giới như một tổng thể các sự vật, hiện tượng tạo nên trong trạng thái biệt lâp, tĩnh tại.
+ Chủ nghĩa duy vật Biện chứng – Triết học Mác – Lênin
 Chủ nghĩa duy vật thừa nhận vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức; ý thức là cái có sau, cái phụ thuộc vào vật chất và khẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới.
- Triết học nhị nguyên luận là trường phái triết học có tính chất dung hoà giữa duy vật và duy tâm...
- Triết học bất khả tri luận là trường phái triết học nghiên cứu chủ yếu khả năng nhận thức của con người đối với thế giới...
- Triết học tôn giáo là một trường phái đặc thù so với các trường phái triết học khác. Nghiên cứu chủ yếu về tâm linh, đời sống tâm linh của con người...
2. Tính qui luật về sự hình thành và phát triển của triết học
- Đặc điểm chung của sự hình thành lịch sử tư tưởng triết học
+ Lịch sử hình thành và phát triển của triết học đều phụ thuộc vào lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất vật chất nhất định(điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội).
+ Sự phát triển của khoa học ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung, hình thức và ý nghĩa của các học thuyết triết học.
+ Lịch sử hình thành và phát triển của triết học, về cơ bản đều thông cuộc đấu tranh giữa triết học duy vật và duy tâm và tôn giáo...
+ Yếu tố kế thừa là điều kiện tiền đề khách quan đối với sự hình thành và phát triển của lịch sử tư tưởng triết học. 
- Sự phân chia các thời kỳ của lịch sử triết học
+ Một mặt căn cứ vào các phương thức sản xuất khác nhau; mặt khác còn được qui định bởi các học thuyết triết học có tính thời đại;
+ Về cơ bản đều thông qua cuộc đấu tranh giữa triết học duy vật và triết học duy tâm;
+ Có thể khái quát lịch sử hình thành và phát triển của triết học bao gồm các thời kỳ:
 1. Triết học cổ đại;
 2. Triết học trung đại;
 3. Triết học phục hưng và cận đại;
4. Triết học cổ điển Đức;
5. Triết học Mác – Lênin;
6. Triết học phương Tây hiện đại.