Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 4 năm 2015

Nguyễn Quang Lập: Thương nhớ vỉa hè

Thương nhớ gì lại đi thương nhớ vỉa hè, có mà dở hơi. Nhưng mà thương nhớ thật, nhiều khi tay chống cằm nhìn qua cửa sổ thấy vỉa hè nhốn nháo ngày nay bỗng nhớ thương da diết vỉa hè ngày xưa. Nhớ thương vỉa hè là nhớ thương của những kẻ chân quê. Xứ mình là xứ nhà quê, nơi đô hội cũng chỉ rặt dân quê cả mà thôi, dù có hóa trang đến giời thì cái chất quê kiểng không sao bỏ đi được.
Nguyễn Quang Lập:  Thương nhớ vỉa hè - Ảnh 1 
Hàng cây trước nhà thờ Lớn Hà Nội ngày xưa - Ảnh: tư liệu
Hà Nội có cây xanh có ao hồ có vỉa hè, thiếu ba thứ đó không ra Hà Nội. Cái chất quê nghìn năm xứ Việt tụ cả lại nơi đây, tạo nên vẻ đẹp thuần Việt mê hồn. Phố xá bây giờ ở đâu cũng nhung nhúc đám “giả cầy”, nhờ có ba thứ đó Hà Nội vẫn nguyên bản sắc. Nói Hà Nội thanh lịch là nói cái vẻ dịu dàng nền nã kín đáo e ấp chân quê của nó chứ không phải thói trau tria tô lục chuốt hồng cả áo quần lẫn ngôn ngữ, kiểu như ông tiến sĩ ngôn ngữ X. từng nức nở Hà Nội thanh lịch không nói ăn mà bảo là xơi, đừng có mà nhầm.
Nguyễn Quang Lập:  Thương nhớ vỉa hè - Ảnh 2
Ảnh minh họa
Người Việt ở xứ Tây sở dĩ được người ta quý mến vì tư chất thông minh cộng với chất quê Á Đông đổ ra cả tấn vàng cũng không sao mua được, đừng có tưởng bở mà giở dói thói thị dân nửa mùa ra.
Trước đây mình ở Lò Sũ, tít ở trong ngõ sâu, nhà chật người đông, thiếu sáng thiếu khí, thành thử hai phần đời tha thẩn với vỉa hè. Vốn dân quê quen sống thông thoáng rồi, ngồi ở đâu mà thấy gò bó khó chịu lắm. Hồi trẻ mình cũng thích nhào vô mấy chỗ đông đúc ồn ào, giờ già rồi không thích nữa. Giờ nhậu đâu quan tâm đến cái “view” nhiều hơn là đắt rẻ ngon dở, quan tâm đến cái để chuyện trò hơn là cái để ăn uống. Vỉa hè tĩnh mà không vắng, thoáng mà không thưa, ngồi quán cóc vỉa hè  thấy mình đúng là anh dân quê đang ngồi ở sân nhà mình, tự nhiên thấy yên tâm thoải mái hẳn.
Nguyễn Quang Lập:  Thương nhớ vỉa hè - Ảnh 3 
Ảnh minh họa
Vỉa hè đêm thường dành cho đám cần lao. Hàng Cót chân gà, Quán Thánh bò nướng, Cát Linh chim quay. Phố Đinh Tiên Hoàng có quán chân gà nướng rượu Vân, trải chiếu cả dọc dài, ngồi xếp bằng nhai chân gà rau ráu. Có đêm mình với Bùi Thanh, Lê Đức Dục ngồi nhậu đấy đến ba, bốn giờ sáng mới chịu ra về.
Lam lũ suốt ngày, giờ là lúc thảnh thơi nói chuyện trên trời dưới biển, toàn chuyện trên trời, tuyệt không ôn nghèo kể khổ, than vắn kể dài. Người nói cụ Kiệt về nghỉ uổng quá nhỉ, người nói thôi cho cụ nghỉ, cụ tẩm bổ tắc kè cá ngựa hầu vợ chút, chứ bắt cụ làm cách mạng hết đời a, mọi người nói phải phải, cứ thế mà râm ran. Người nói thằng Bill Clinton sang mình, nó đi ăn cơm bụi như tụi mình nhé, người nói phét, tổng thống mà đi ăn cơm bụi, cứ thế mà ồn ào.
Xưa hai vỉa hè phố Lò Sũ, bốn góc vỉa hè ngã tư Nguyễn Hữu Huân- Lý Thái Tổ cũng là phố ăn đêm, vui lắm. Khách chủ yếu là đám dân quê tứ phương về Hà Nội kiếm sống, kẻ xích lô người  xe ôm, kẻ thợ mộc người phụ nề, kẻ tẩm quất người ăn xin, cả trộm cướp đĩ điếm nữa... chừng nửa đêm tụ về  trải chiếu kê gạch lót báo, tụm năm tụm ba ăn ăn uống uống vui lắm. Mình viết lách đến nửa đêm lại tót ra đấy ngồi chầu rìa hóng chuyện, ối chuyện hay mót được từ những đêm như thế.
Nguyễn Quang Lập:  Thương nhớ vỉa hè - Ảnh 4 
Phố Nguyễn Hữu Huân ngày nay về đêm
Sáng ra vỉa hè hứng hết dân phố, đâu đâu cũng có quà sáng, quán nước chè. Pha chè uống ở nhà dù ngon mấy cũng không thể bằng ngồi quán cóc. Hớp chén chè nóng, ăn cái bánh rán cái kẹo lạc, hút điếu thuốc lào, vếch mày ra phố nhả khói… sao mà thấy đời thật thong dong.
Dọc phố Bà Triệu các cụ đồ nho ngồi bán chữ. Thỉnh thoảng mình vẫn lang thang tán chuyện các cụ chơi vui. Cụ nói 10 người đến xin chữ thì có đến 8 người xin chữ nhẫn, chẳng hiểu sao. Cụ nói sao nữa, xin phúc  lộc thọ  làm gì, mấy thứ đó trời phân phát hết rồi còn đâu nữa mà xin. Cụ nói  phải phải, xứ mình muốn yên phận thì phải biết nhẫn, không nhẫn không xong đâu.
Hàng Tre, Đường Thành xưa là nơi dân cắt tóc hành nghề. Cứ một cái gương treo, một cái ghế mộc, dăm ba cái dao kéo tông đơ là thành quán cắt tóc. Cắt tóc ở đấy vừa nhanh, vừa đẹp vừa rẻ. Đa số thợ cắt tóc là bộ đội phục viên, vừa cắt tóc vừa kháo chuyện văn nghệ sĩ.
Người nói ông Nguyễn Văn Thiệp tịt văn chương rồi, vừa xây cái tượng Phật to lắm. Người nói ông Ngô Bảo Ninh viết Nỗi buồn chiến tranh, sao không viết Nỗi buồn hòa bình nhỉ. Người nói ngu ngu, Ngô Bảo Ninh à, Phạm Bảo Ninh chứ. Người nói ngu ngu…  ông này Hoàng Bảo Ninh con ông Hoàng Tuệ. Người nói tôi biết Bảo Ninh nhé, ông  hay ra mua rượu quán vợ tôi, vợ ông là giáo viên đẹp lắm, chân dài cực. Vui ghê, không đến đấy cắt tóc thật phí cả nghề văn.
Dọc đường Hùng Vương, Lý Thái Tổ, Phan Đình Phùng… ôi, nhiều đường lắm, cứ vài trăm mét lại gặp mấy ông hưu trí ngồi đánh cờ, lúc lúc lại thấy một ông bày cờ thế ngồi chồm hổm thách khách bộ hành.
Nguyễn Quang Lập:  Thương nhớ vỉa hè - Ảnh 5Ảnh minh họa
Ở góc phố nào cũng có tụi con nít chạy loăng quăng đá bóng, nhảy dây. Mấy thiếu phụ vắng chồng, dắt con nhỏ tha thẩn đứng hết góc này sang góc nọ, gió thổi tóc bay váy lộng, vào mùa lá rụng cảnh ấy đẹp lịm người.
Bây giờ thì không còn nữa, một khi hàng hóa túa ra thì vỉa hè teo lại nhuờng chỗ cho mưu sinh, ô tô chiếm hết lòng đường thì xe đạp xe máy nhảy lên hết vỉa hè, mỗi đường phố chỉ còn vài khúc thảnh thơi, còn thì mất sạch, mai mốt có lẽ không còn cái vỉa hè nào cho đúng nghĩa vỉa hè Hà Nội.
Nguyễn Quang Lập:  Thương nhớ vỉa hè - Ảnh 6 
Vỉa hè Những con phố cổ Hà Nội bây giờ đâu đâu cũng là hàng hóa (Ảnh minh họa)
Không còn vỉa hè cũng tắt luôn tiếng rao đêm. Tiếng quất ơ ông già mù tẩm quất, tiếng lộn ơ chị Mến phố Hàng Than, tiếng bánh bao nóng giòn đê, bánh mì nóng giòn nào vẫn rỉ rả vang lên đêm tĩnh mịch… Khắp chốn kinh kỳ, ở đâu thị trường thời mở cửa bao vây ở đó văn hóa Việt chỉ còn ngắc ngoải sống, không phải chết tức tưởi là may, văn hóa vỉa hè thì cũng thế.
Nhớ mãi một chiều Trần Dần chống gậy đứng phố Nguyễn Du lom lom nhìn ra đường, mấy sợi râu rung rung như sợ hãi như giận dữ. Thốt nhiên ông ôm ngực ho, vừa ho vừa chỉ ngón trỏ lên trời, nói tôi muốn nuốt Hà Nội vào lòng, trớ ra đô thành dởm. Đó là câu thơ cuối cùng mình nghe Trần Dần đọc, ông bỏ Hà Nội về trời năm 1997, năm mà vỉa hè chính thức bị thương trường thời mở cửa xâm lăng.
Nguyễn Quang Lập:  Thương nhớ vỉa hè - Ảnh 7 
Phố Nguyễn Du- Hà Nội
Thế nên mới nhớ. Nhớ Phùng Quán guốc mộc áo cánh lui cui đi dưới mưa phố Phan Đình Phùng. Nhớ Bùi Xuân Phái ngồi dưới cây phượng già phố Hàng Buồm gật gù chén rượu Vân. Nhớ Tào Mạt chân nam đá chân chiêu đường Hoàng Diệu, Lưu Quang Vũ với các bạn đọc thơ dưới gốc cơm nguội phố Triệu Việt Vương. Nhớ cả Trịnh Công Sơn thỉnh thoảng ra Hà Nội, trắng đêm tiệc tùng lại trở về góc đường Lê Phụng Hiểu với chén rượu trắng cầm tay, rưng rưng hát một câu gì.
Ôi không còn vỉa hè, danh sĩ nước Nam ta biết ẩn nấp vào đâu...
Tùy bút Nguyễn Quang Lập

Bài thơ của mẹ ông Vương Đình Huệ được phổ nhạc

Tết Ất Mùi 2015, nữ nhạc sĩ Lê An Tuyên từ nước Đức về Nghi Lộc thăm quê, chị có ghé thăm bà Võ Thị Cầm (thân sinh ông Vương Đình Huệ, Trưởng ban Kinh tế Trung ương). Bà Cầm đã vào tuổi 90, vẫn còn minh mẫn lắm. Bà đọc bài thơ do bà làm tặng người mẹ của mình, khiến nữ nhạc sĩ xúc động rơi nước mắt. Và An Tuyên đã nhờ cụ chép lại bài thơ làm kỷ niệm.

Bài thơ của mẹ ông Vương Đình Huệ được phổ nhạc - Ảnh 1 
Nữ nhạc sỹ Lê An Tuyên thăm bà Võ Thị Cầm
Bài thơ là tấm lòng của một người con luôn mang ân tình của mẹ. Dù nghèo khó đến mấy vẫn nuôi con khôn lớn thành người. Và chính bà Cầm cũng là một người mẹ từng vượt qua nhiều gian khổ khó khăn để nuôi con học giỏi, thành tài. Khi đứa con trai của bà là Vương Đình Huệ lên làm Bộ trưởng, người ta mới biết bà đã có thời kỳ khó khăn như thế nào qua lời bà kể về người con của mình:
“Tui lấy chồng sinh được 8 đứa con nhưng sinh Huệ là khó nhất. Chuyển dạ từ chập tối đến sáng bảnh mắt mới đẻ. Khi sinh nó bé tí nhưng nhờ trời, nó không bệnh tật gì mà chóng lớn… Huệ nó chăm học lắm, có nhiều lúc nó chong đèn học thâu đêm. Những khi đèn dầu hết, nó học nhờ ánh trăng và bắt chước người xưa bắt đom đóm bỏ vào quả cà rỗng để học. Có hôm nó học khuya quá, thương con, nhà còn nắm gạo, tui nấu cháo cho nó nhưng nó không chịu ăn. Nó bảo mẹ ăn đi mà lấy sức, con không đói đâu. Nó bê cháo đến nài cho mẹ ăn làm tui cảm động cứ ôm lấy con mà khóc”.
Bài thơ của mẹ ông Vương Đình Huệ được phổ nhạc - Ảnh 2 
Ảnh minh họa (cắt từ video)
Chính vì làm một người mẹ như vậy mà bà đã có những chia sẻ sâu sắc với người mẹ của mình. Bà nói, bà làm bài thơ tặng mẹ mà nước mắt cứ trào ra. Trở lại nước Đức, người nữ nhạc sĩ trong lúc ngồi trông cửa hàng đang vắng khách, đem bài thơ ra đọc lại, và, cảm xúc âm nhạc đã đến với chị.
Chị thấy bài thơ bà Cầm tặng người mẹ của bà cũng tựa nỗi lòng chị với người mẹ của mình, những bà mẹ miền Trung lam lũ quanh năm thờ chồng nuôi con khôn lớn trưởng thành. Chị đã phổ bài thơ thành ca khúc Mẹ tôi. Bài hát “Mẹ tôi” được thu thanh, do Đinh Trang thể hiện, và nữ nhạc sĩ đã gửi cho Vương Đình Huệ nghe để chuyển tới mẹ anh.
Bài thơ của mẹ ông Vương Đình Huệ được phổ nhạc - Ảnh 3 
Trái sang: Lê Thanh Thản, Hồ Đức Phớc, Nguyễn Trọng Tạo, Vương Đình Huệ.
Vương Đình Huệ rất thích bài hát này, nhưng anh bảo tên bài hát “Mẹ tôi” đã có khá nhiều, An Tuyên nên tìm một cái tên gì khác, hoặc nhờ anh Nguyễn Trọng Tạo… An Tuyên từ Đức gọi về cho tôi, và bài hát đã được mang tên mới: ÂN TÌNH MẸ. Cuối tháng 3/2015, tôi vào Nghệ An, gặp Vương Đình Huệ về dự lễ khai trương Mường Thanh Cửa Lò, biết mẹ anh không được khỏe. Rồi bà phải vào cấp cứu ở bệnh viện. Nay bà đã qua cơn hiểm nghèo. Hy vọng bài hát “Ân tình Mẹ” sẽ làm vui lòng bà, như một thang thuốc quý với người mẹ thân yêu.

video

Ca khúc "Ân tình mẹ" - thơ: Võ Thị Cầm, Nhạc: Lê An Tuyên - Thể hiện ca sỹ Anh Thơ
  • Nguyễn Trọng Tạo

Thứ Tư, ngày 08 tháng 4 năm 2015

Cổ vật xe kéo triều Nguyễn được đấu giá trên 1,3 tỷ đồng sẽ hồi hương



Chiều 6/4, ông Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, cho biết, chiếc xe kéo tay của Hoàng Thái hậu Từ Minh (mẹ vua Thành Thái), sẽ được đưa từ Pháp về Cố đô Huế vào ngày 14/4 tới, để triển lãm trong dịp Festival Nghề truyền thống Huế 2015.

Chiếc xe kéo tay vua Thành Thái tặng mẹ.
Chiếc xe kéo tay vua Thành Thái tặng mẹ.
Theo ông Hải, ngày 13/6/2014, ở phiên đấu giá tại Pháp, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã đấu giá thành công chiếc xe kéo này với giá 55.800 euro (khoảng 1,3 tỷ đồng), trong đó UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế chi 42.800 euro, số còn lại do các tổ chức, kiều bào đóng góp.
Chiếc xe kéo là cổ vật đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài được đấu giá thành công và đưa về nước.

Bí mật chưa kể trên màn ảnh

"Biệt động Sài Gòn" là một tác phẩm đặc sắc của điện ảnh Việt Nam. Câu chuyện tình đầy xúc động của nhân vật Tư Chung, người lính biệt động phải sống cuộc sống giả vợ chồng với đồng đội để hợp thức hóa "vỏ bọc" nhưng vẫn một lòng thủy chung son sắt đã trở thành bản tình ca đẹp được ái mộ qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, câu chuyện tình của người được cho là nguyên mẫu trong phim - chiến sĩ biệt động Trần Văn Lai - lại khác khá xa và mới chỉ được chuyển tải một phần trên màn ảnh.

Chủ Nhật, ngày 29 tháng 3 năm 2015

300 lá thư viết tay và mối tình day dứt của Trịnh Công Sơn với em gái "Diễm xưa"


Đăng Bởi -
Thu tinh Trinh Cong Son gui Dao Anh
Nguồn ảnh: Internet.

Ít ai biết được rằng Dao Ánh chính là người đã gọi tên cảm xúc cho rất nhiều ca khúc nổi tiếng của Trịnh Công Sơn: Tuổi đá buồn, Mưa Hồng, Còn tuổi nào cho em, Như cánh vạc bay, Lời buồn thánh, Chiều một mình qua phố, Ru em từng ngón xuân nồng…

Dao Ánh gửi thư an ủi anh rể… hụt
Những lúc Trịnh Công Sơn đến nhà thăm Diễm thì Dao Ánh - em gái của Diễm còn là một cô bé, nhỏ hơn Diễm đến 4-5 tuổi, chạy loăng quăng theo chị. Không ngờ chỉ mấy năm sau Dao Ánh trở thành một thiếu nữ xinh đẹp với khuôn mặt bầu bĩnh, dễ thương khác thường.
Sau khi biết chị mình không vượt qua được những ngăn cách và chia tay với Trịnh Công Sơn, cô em Dao Ánh hết sức cảm thông nên đã viết thư an ủi và chia sẻ cùng nhạc sĩ, nhờ Vĩnh Ngân – em ruột của Trịnh Công Sơn chuyển. Bức thư là những lời động viên và tình cảm thân thương của Dao Ánh dành cho chàng trai thất tình. Trong lúc chưa nguôi ngoai vết thương lòng, Trịnh Công Sơn cũng cảm động nên liền viết thư trả lời và tình cảm nảy sinh. 

Thu tinh Trinh Cong Son gui Dao Anh
Ngô Vũ Dao Ánh (lúc 16 tuổi) và Trịnh Công Sơn thời trẻ 
Lúc đó, Dao Ánh còn đang là cô nữ sinh của trường Đồng Khánh còn Trịnh Công Sơn vừa mới tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn và đang giảng dạy tại thành phố B'lao (nay là Bảo Lộc - Lâm Đồng).
Chàng thanh niên có dáng thư sinh sống đơn độc trên một ngọn đồi, nơi đó quanh năm toàn mây mù bao phủ. Niềm vui duy nhất của Trịnh Công Sơn lúc đó là đón nhận những bức thư của Dao Ánh. Có những lá thư đọc đến thuộc từng dấu chấm phẩy, rồi còn cẩn thận gấp lại gối xuống đầu giường với hy vọng hằng đêm gặp được người yêu trong giấc mơ.  
Về phần mình, Trịnh Công Sơn chia sẻ về những ngày dài hoang vu, những buổi sáng thức dậy trong im lặng, những buổi tối trăng non… Khi  đó, bóng hình duy nhất trong trái tim nhạc sĩ là Dao Ánh. Anh gọi tên Dao Ánh không biết bao nhiêu lần trong thinh không… Anh dệt lên trong tâm tưởng một hình ảnh thật trinh nguyên, một Dao Ánh với “mái tóc thật dài, với tâm hồn lá non và tiếng cười hồn nhiên như một buổi sáng mùa xuân…”. 
Cuộc tình lãng mạn của họ kéo dài 4 năm chỉ chủ yếu qua những lá thư. Ít ai ngờ rằng, khi ấy, Dao Ánh mà Trịnh Công Sơn yêu tha thiết mới chỉ vừa tròn… 15 tuổi!
300 lá thư tình gửi cho Dao Ánh
Trịnh Công Sơn viết thư cho Dao Ánh hàng ngày, có ngày viết tới mấy lần, buổi trưa, chiều, và tối. Đi tới 1 vùng khác, ông cũng viết thư cho Dao Ánh. Viết xong một tình khúc, Trịnh lại báo tin cho Ánh: “Anh vừa viết xong một bản nhạc cho Ánh: Ru mãi ngàn năm, Ru em từng ngón xuân nồng” (thư B’lao 26.2.1965).
Trong những bức thư gửi cho Dao Ánh, Trịnh Công Sơn luôn thể hiện nỗi nhớ thương da diết dành cho người yêu bé nhỏ: “Anh nhớ Ánh, nhớ Ánh , nhớ Ánh mà không nói được với ai. Như tiếng kêu của một loài kiến nhỏ. Làm thế nào Ánh nghe thấy... Ánh ơi, Ánh ơi, Ánh ơi, Ánh trở về buổi trưa mắt buồn, áo trắng... Rất mong thư Ánh mỗi ngày mỗi giờ mỗi tháng mỗi năm...” (trích bức thư Trịnh Công Sơn gửi cho Dao Ánh ngày 16/2/1965).
“Anh bây giờ đang có một điều cần nhất là: Yêu Ánh vô cùng. Anh đang nhớ lắm đây. Tình yêu đó bỗng đổi dạng như một phép lạ...” (thư gửi ngày 16/9/1966).
Tuy vậy, sau gần 4 năm gắn bó, Trịnh Công Sơn biết rằng không thể mang lại cho Dao Ánh một mái ấm gia đình như cô mong muốn nên ông chủ động chia tay và nhận hết tội lỗi về mình. Trong bức thư chia tay, Trịnh Công Sơn viết: "Anh xin cảm ơn bốn năm ròng rã nâng niu tình yêu đó. Cũng xin cảm ơn những buổi đợi chờ thật dịu dàng không bao giờ còn có được…”.
Bức thư đầu tiên anh nói lời cảm ơn, và bức thư chia tay cuối cùng, anh cũng nói lời cảm ơn. Mỗi lá thư của anh như một đoản văn đầy chất thi ca, chứa đựng tâm trạng lo âu, dằn vặt triền miên về kiếp người, lòng tin vào những điều tốt đẹp đang dần mất đi trong cõi nhân gian.

Moi tinh Trinh Cong Son voi em gai “Diem xua”: duyen chi tinh em!-hinh-anh-1
Từng món quà của Trịnh được Dao Ánh nâng niu cất kỹ 
 Năm 1975, Dao Ánh theo chồng sang Mỹ và không quên mang theo tất cả những kỷ vật đã có với nhạc sĩ. Từ những bức thư tình, những bài hát viết tay của nhạc sĩ dành cho bà, những kỷ vật như cọng cỏ khô, chiếc lá ép… đều được bà Dao Ánh nâng niu gìn giữ như báu vật. Tổng cộng có khoảng 300 bức thư viết tay được trao đi gửi lại. (In thành cuốn sách Thư tình gửi một người, NXB Trẻ, năm 2011)
Những lời cuối cùng Trịnh Công Sơn viết cho Dao Ánh là những ngày nhạc sĩ nằm trên giường bệnh. Vẫn là những lời an ủi thật dịu dàng: “Ánh cố gắng tìm được những niềm vui nhỏ nhắn trong cuộc sống bình thường là quý giá lắm rồi. Chúc Ánh một cái tết thú vị dù chỉ một mình hay với người khác…”.
Những ngày cuối đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bị ốm nặng, Dao Ánh cũng trở về Việt Nam chăm sóc ông. Bà cũng đã gửi tặng lại gia đình nhạc sĩ này hơn 300 bức thư tình mà ông đã gửi cho bà thuở còn yêu nhau. 
Bà chia sẻ: “Trả lại những kỷ vật này cũng đồng nghĩa với việc tôi đang tự “giết” mình. Mấy chục năm qua, nhờ nó mà tôi luôn cảm thấy anh Sơn lúc nào cũng ở bên cạnh. Nhưng anh Sơn là của mọi người nên tôi không có quyền giữ nó cho riêng mình”.
Cái tên Dao Ánh tuy không được nhắc đến nhiều nhưng được ngầm hiểu là giai nhân trong hàng loạt những Mưa hồng, Tuổi đá buồn, Như cánh vạc bay, Chiều một mình qua phố, Lời buồn Thánh… Và dấu ấn đậm nhất có thể kể đến là Xin trả nợ người được sáng tác khi bà Dao Ánh lần đầu về nước vào năm 1993, sau gần 20 năm xa cách.
Như Mây 


Ngẫu hứng Trần Tiến 3

Xin thưa, loạt bài "Ngẫu hứng Trần Tiến" là do chính Trần Tiến viết, không phải Trần Tiến kể bọ Lập viết như nhiều người nhầm. Trần Tiến viết xong, gửi bản thảo cho tui, tui chỉ sửa lỗi đánh máy và đăng lên, có vậy thôi. Nay nói lại lần nữa cho mọi người được rõ.


Anh Tiến kể chuyện Lập nghe….
Vũng Tàu sáng nay gió lớn quá, sóng bạc. Người ta cứ vu cho biển, nào đẹp dịu dàng như cô gái, nào khó tính như một bà già. Mấy anh “nghệ” thì rắc rối nhất, mượn biển nói đủ chuyện mộng mơ như chích choè cái. Nhưng anh Sơn thì đàn ông hơn. Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi/ Tôi xô biển lại, sóng về đâu..
Ngẫu hứng Trần Tiến 3 - Ảnh 1Biển Vũng Tàu
Anh chỉ mong viết được như anh Sơn, vậy mà có lần anh ấy nói, chỉ mong viết được bài ”Bằng lòng đi em về với quê anh …”  của Tiến. Chả biết anh ấy nói có thật không. Bọn ta như lũ leo núi. Thằng này  ghen với thằng kia. Mà ngọn núi thì vẫn thế, chẳng bao giờ quan tâm đến cao thấp. Mà biển kia cũng vậy, chẳng bao giờ quan tâm mình xấu đẹp hay bạc bẽo.
Thực ra, chúng ta còn ”trần gian” lắm. Mấy chục triệu năm nay chúng ta đã đánh mất con mắt thứ ba tuyệt vời. Cái tai thứ ba thính hơn tai chó.
Ngày anh ở rừng, trong cơn sốt rét mê mệt, có lần anh nghe được tiếng thì thầm ngoài vũ trụ, anh nhìn thấy màu núi rừng Trường Sơn.  Lạ lắm. Trước kia, anh có đọc đâu đó về chuyện này, tưởng là chuyện bịa. Ngẫm lại chính mình, làm sao có thể cõng trên lưng con bé múa to đùng của đoàn, nhảy vượt qua vách hào giao thông cao bằng đầu mình, chạy như điên vì sợ đạn bắn. Chuyện này cả đoàn anh sau này còn nhắc. Chị Ngô Thị Tuyển hồi chiến tranh, chắc phải “xách dép”. Có những giây phút con người có sức mạnh, hoặc những khả năng ghê gớm. Trong sáng tác, anh em mình vẫn gọi là “thời khắc thăng hoa” vàng ngọc trời cho đấy.
Ngẫu hứng Trần Tiến 3 - Ảnh 2Chạy nạn thời chiến tranh (Ảnh Philip - Jones, minh họa)
Anh thường thấy người ta cay cú vì chuyện gì đó ghê gớm lắm mà trở nên người thành đạt. Hoặc nghèo đói, hoặc bị sỉ nhục, hoặc bị sét đánh nữa…Nhưng chắc chẳng có ai muốn được đói, được sỉ nhục, được bị sét đánh để viết được một tiểu thuyết hay, Lập nhỉ. Hè..
Vũng Tàu sáng nay thật dữ dội, anh có thể luyên thuyên hoài đủ chuyện giời ơi. Nhưng sẽ nhạt làm sao cái thứ văn chương chữ nghĩa của kẻ trần gian mắt thịt tai trâu. Giá mình tu để có được con mắt “huệ nhãn” nhìn được các em xinh tươi đẹp đến đâu, có được cái tai chó thần để nghe được khúc khải hoàn của những vì sao nâu lùn đang hát karaoke trên bầu trời. Nói vậy cho vui chứ mình ngu gì đổi mười năm còn lại để tập thiền, đi tu. Vớ vẩn. Nói như Trần Trọng Kim, hãy ở nơi ”hình nhi hạ” vẫn vui hơn cõi trên nhiều. Thánh nhân thích đãi kẻ khù khờ, tai trâu. Thánh nhân chẳng bao giờ đãi Thánh nhân. Làm Thánh nhân khổ chết mẹ, em nhỉ.
 Lập à.
Anh cứ mơ được viết văn như em. Hay tại vì lâu quá anh không có thời gian đọc văn nước ta, và nước chúng nó. Anh đọc và cứ cười một mình như thằng điên.
Ngẫu hứng Trần Tiến 3 - Ảnh 3
Nghệ thuật là hấp dẫn. Chuyển tải gì tính sau. Thực có quan trọng quái gì đâu mà cần phải chuyển tải. Ai cũng sáng tác nhạc và viết văn được cả thôi, Vì trời không phân công “công tác” thôi. Thằng Tạo viết ca khúc cũng dễ thương vậy. Ông Nguyễn Đình Thi viết nhạc, ông Văn Cao vẽ… Trời cho thì nhận.
Đừng nghĩ nhiều đến chuyển tải thông điệp. Chẳng có thông điệp nào mới cả. Nhưng sẽ rất mới nếu sống thật mình. Làm tình thì có gì là mới. Những ai yêu ta thật, dù chả biết kỹ thuật gì, vẫn cứ làm ta mê đi là sao. Nói ỡm nói ờ mà cứ sướng là sao.
Anh ơi, nhìn này, nó là cây lúa đấy.
Chàng ồ lên, thế à. Thích nhỉ, cây lúa đẹp nhỉ.
Ha ha... tình yêu thì lúc nào cũng vui, dù chẳng có thông điệp gì mới.
Nhưng này, sao em lại đưa chuyện làm ăn của chúng ta vào Blog. Và cũng chẳng xin phép anh. Hư quá. Em cần biết gì đó về anh, thì anh kể chuyện lăng nhăng để em hiểu thêm được chút nào, hay chút ấy. Sao em lại tung lên chia sẻ với bạn bè.
 Sáng nay thằng Tạo gọi điện khen anh viết hay. Ơ, văn chương mạt rồi hay sao mà em đưa cái thứ nhí nhố này lên, hả em?
baodansinh.vn gửi tới độc giả một ca khúc của tác giả Trần Tiến
Ca khúc: Phiên chợ xa (album Du ca Đồng quê)
Ca sĩ: Trung Kiên


Theo Facebook Xứ Cát - Nhạc sỹ Trần Tiến

Ngẫu hứng Trần Tiến 1

NGUYỄN QUANG LẬP: Trong một lần trà dư tửu hậu, tui đã ra đề bài cho Trần Tiến, nói "Ngẫu hứng Trần Tiến" đó, anh viết đi. Tưởng là anh viết nhạc, té ra anh viết văn xuôi. Cứ viết xong đoạn nào anh lại nhấc máy đọc cho nghe đoạn đó. Những đoạn văn xuôi rất có hồn, bởi vì nó rất thật, càng thú vị hơn khi biết anh viết ra nó trong cơn say. Nguyễn Trọng Tạo đọc "Ngẫu hứng Trần Tiến" đã gọi điện cho Trần Tiến khen hay, ông nói: "Văn Trần Tiến đúng là văn sột soạt". "Ngẫu hứng Trần Tiến" gồm 27 kì, tui lần lượt đăng trên fb Xứ Cát để lưu, với hy vọng Trần Tiếp tục dòng văn ngẫu hứng rất thú vị này.


Ngẫu hứng Trần Tiến 1 - Ảnh 1
Anh Tiến kể chuyện Lập nghe...
Cái áo bông sột soạt em ạ, cái áo bông mẹ may cho anh mặc đến trường trong ngày mùa đông buốt giá, vừa đi vừa sột soạt. Anh là “cán sự” văn hồi phổ thông, chả hiểu sao gọi là thế. Anh đi thu bài của bạn bè nộp cho thầy, có thế thôi, gọi là cán sự. Hôm ấy đi khắp lớp, vừa đi vừa sột soạt, cả lớp cười bò, ngượng thật. Mẹ được lão bộ đội già tặng mẹ sấp vải lính, chắc hắn định "cưa” người mẹ nguyện suốt đời ở giá nuôi anh. Mẹ may cái vỏ áo bông mà không có bông. Trong đó mẹ nhét đầy báo Nhân dân, Hà nội mới. Chắc ngày ấy chỉ có 2 tờ thế thôi em giai nhỉ.
Âm nhạc thời tuổi thơ, chả có dân ca, dân keo. Chỉ có chiếc áo bông vừa đi vừa sột soạt.
Mẹ chắc thương anh nhất nhà, cũng chẳng hiểu vì sao, anh Cả lấy roi đánh anh có một lần thôi, mẹ mắng hoài. Cả đời nuôi tám đứa con nên người, mẹ chưa bao giờ đánh con, chỉ có bố đánh mẹ thôi. Mà cũng chỉ có một lần anh nhìn thấy, nhưng nhớ hoài không quên. Sau này anh mới biết, chuyện đó là thường của thời ấy.
 Mẹ gọi anh: Cu đểnh đồi Nồng của mẹ đâu rồi. Anh đi tìm mãi cái đồi Nồng tuổi thơ mà chẳng còn ai nhớ nó ở đâu nữa.
Mẹ anh mất, anh đang ở cuối nước, nơi có người Chà Và sinh sống. Những người Chà Và tìm cách đưa anh về sớm nhất để nhìn mẹ lần cuối…
” Mẹ ơi, sớm nay xuân về/Mẹ trông ra ngoài hiên vắng/Mẹ mong đứa con xa nhà/Rồi mùa xuân, anh ấy sẽ về“
Mùa xuân gọi- Trần Tiến

Mẹ sinh ra anh trong cuộc chạy loạn năm 47, trong tiếng bom đạn sối sả trên ngọn đồi ấy. Bố giận Tây lắm, mới đặt tên con là Trần Việt Tiến. Mà anh thì chỉ là một nhạc sỹ quèn, chả được cái tích sự gì. Làm sao mà giúp nước… Tiến. Ôi dào…
Anh Hiếu kể: Bọn Tây đi càn bắt được nhà mình, em thì cứ khóc dằn dặt, thằng da đen chạy đến tát em một cái. Mẹ trợn trừng định đánh lại. Bố bảo im, không được làm thế. Bố tìm thằng quan ba gì đó, sì sồ tiếng Pháp, đại loại là: Nước Pháp văn minh mà đánh trẻ con à. Thằng da đen phải cúi đầu xin lỗi Trần Việt Tiến. Hí….
Em nhắc anh kể chuyện gì có tư tưởng ư.
Anh làm gì có tư tưởng. Tư tưởng của anh toàn là bọn lếu láo truyền cho. Mac-Lê không nói làm gì. Bọn Niết-sờ, Ca-mút sờ rồi Gôtama-sờ... thì hay đấy, nhưng họ lại là nguyên nhân của chiến tranh, bởi những thằng học trò, hoặc quá khích, hoặc lợi dụng.
Những ngày trẻ dại, anh em mình ngốc nhỉ. Lao vào chủ nghĩa "Tưởng bở" như con thiêu thân. Thần tượng ngày ấy của anh là ai, em biết không. Paven Coọc-sa-ghin... Ha ha...
Vậy mà bây giờ anh lại cực đoan, không có thần tượng. Buồn cho thế giới không còn thần tượng. Họ đi chùa, sám hối, thậm chí mang bom thánh chiến, chắc cũng do… thói quen có tư tưởng.
À, anh có một thằng em, lủng lẳng trong quần. Mỗi lần anh nói chuyện nhạc nhiếc, phim phiếc, triết chiếc, tư tưởng tư tiếc là nó đi chơi chỗ khác em ạ. Đến giờ cần đến nó. Thật khổ.
Họa sỹ Lê văn Hiệp yêu thằng em lãng mạn, môi giới cho một em, con bà Thái Thị Liên, vợ ông nhà thơ Đặng Đình Hưng. Năm ấy  anh ngốc như chưa ai ngốc thế. Nàng tiễn anh lên đường đi Sầm Nưa, chiến khu của Lào. Anh viết bao nhiêu bài thơ, bao nhiêu bài hát tặng nàng.
Mùa hè ấy, mặt trời như nóng bỏng hơn/ Cây cỏ như xanh tươi hơn...
Toàn bộ thi ca, nhạc nhẽo được gửi trở lại chân núi Phu Khen.
Đêm đó là đêm diễn cho ông Suphanuvong và Đảng CS Lào. Anh mang thư của nàng (hiếm lắm mới chuyển được sang Lào,ngày đó) lên đỉnh núi, xé ra, hồi hộp mong tin nàng. Chẳng có gì, chỉ có thư của mình. 
Thằng ngu!... Ông Đỗ Nhuận hoảng hốt đi tìm. Anh bước từ đỉnh núi xuống, và chưa bao giờ hát hay đến thế.
Đó là mối tình đầu của anh. Chuyện con gái Hoàng thân xin chính phủ Việt Nam cưới anh không được là vì thế thôi. Cũng may. Làm nhạc sỹ thích hơn làm phò mã chứ.
Có một lần, anh nhục như con chó.
Anh sốt rét ác tính. Đơn vị phải đi. Đường chín Nam Lào mà. Mặt trận mở ra rồi đóng lại, chỉ  một vài hôm là chuyển đi. Anh bị người ta vứt xuống hố chôn. Cô bạn y tá yêu anh, thương anh, nên không nỡ chôn. Trời cho chưa chết.
Không còn gì trên người. Anh cứ đi, đi không được thì bò, đuổi theo đơn vị. Đường giao liên mất dấu vì bom. Anh lạc vào rừng đầy bom nổ chậm, vậy mà không chết mới hay. Chuyện đó sau này, nơi anh bò đến xin cứu, họ mới nói anh hay.
Bò đến được ánh đèn rất xa, nơi có con người. Té ra một trạm dây trần của lính ta. Anh gục xuống và thiếp đi. Không biết bao lâu tỉnh dậy, thấy mình vẫn nằm trước cửa hầm. Lính tưởng mình thám báo VNCH không cứu. Xác chết sống lại, làm gì có giấy tờ.
Lính tra khảo. Mình đành khai báo: "Anh là Trần Tiến, tác giả bài ca Thanh niên ra tiền tuyến đây. Họ còn không tin, bắt hát"...  "Chết mẹ. Trần Tiến thật". Sau này, cũng lại họ kể lại: "Vì cha ấy có giọng trầm trầm... mới tin và mới cứu".
Thế là, sau này, anh càng già, giọng càng như gà thiến. Anh phải cố giả giọng trầm trầm để có người đãi rượu đấy. Hề...
Ca khúc Thanh niên ra tiền tuyến - Nhạc và lời Trần Tiến
Theo Facebook Xứ Cát

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 3 năm 2015

Ngẫu hứng Trần Tiến 2

Anh bảo anh Sơn (Trịnh Công Sơn) cần phải nghiên cứu giao hưởng, và viết cái gì đó lớn hơn. Anh Sơn bảo: “Chịu khó học thì cũng viết được. Nhưng chưa chắc một bản giao hưởng tồi lại có thể giá trị hơn một câu hò hay".

Anh Tiến kể chuyện Lập nghe…
Anh nấu phở được lắm, em ạ. Ngày nào bảo vợ rủ bạn bè, anh dạy cho. Có ngày anh lừa được 3800 USD tiền dạy nấu phở đấy.
Ngẫu hứng Trần Tiến 2 - Ảnh 1
Nhà anh to thế, ngày mới giải phóng Thủ đô phải nhường lại (tất nhiên không có giấy tờ gì). Đã thế, mẹ anh phải giặt giũ giường chiếu, chăn màn cho cái nhà trọ phố ga, chính là nhà mình. Đau đớn. Anh còn bé phải xuống giặt giúp mẹ trong cái nắng thiêu đốt của ngày giải phóng. Anh không sao quên lũ rệp. Rệp từ giường leo vào người, vào bàn tủ chăn chiếu, lại còn hãnh diện leo lên trần nhà nhìn xuống. Coi mẹ con anh, nhà tư sản đếm trên đầu ngón tay của Hà thành ngày bình yên… như rác.
Rồi một ngày mẹ anh bị “chuyển công tác“. Đi rửa bát cho một hàng phở. Tất nhiên anh thương mẹ, đi rửa bát giúp mẹ.
Thằng cửa hàng trưởng còn bắt anh nắm than, rửa thùng phở to đùng. Hồi đó anh mê hát. Cứ rúc trong thùng phở to đùng nghêu ngao những bài ca cách mạng… Nhưng tất nhiên là của... Nga la tư. Anh đang học lớp 9 PT mà.
Ngẫu hứng Trần Tiến 2 - Ảnh 2Hình minh họa
Mỗi sớm, thợ được nhà nước tặng một tô phở “không người lái”. Ông phụ trách chuyên môn, tức người nấu phở chính, thấy kỳ kỳ, ai cũng tô phở “không người lái”, mà khi ông đùa, lấy đũa lật lên... toàn thịt.
Là người gốc Phúc Kiến lang bạt kỳ hồ vê xứ Giao Chỉ. Dân nấu phở toàn từ Giao Cù Nam Định lên Kẻ Chợ hành nghề. Làng ông chỉ có họ Cồ. Ông giỏi nhất, trong đám phở gánh nổi tiếng Hà Thành tên Cồ Cử.
Ông Cồ Cử chú ý quan sát thấy tô phở “chính phủ cho” của anh giai em  chỉ là phở ” chân chính”, không có đoạn ”ăn cắp”. Thế là, không biết sao, bốn đứa con trai thì không truyền bí quyết nấu phở, chỉ truyền cho kẻ lơ ngơ như anh.
Chỉ hai năm sau anh đã là ca sỹ khá nổi tiếng. Một hôm máu lên, anh tìm cách mời cả Công ty ăn uống Hoàn Kiếm đi xem anh hát. Ông Cồ Cử hồn nhiên đứng dậy giữa rạp.
- Ê , thằng Tiến rửa bát nhà mình kìa. Hay quá, con trai !
Thực ra  anh vẫn ân hận. Bí quyết nhà Cồ,  chót giao nhầm cho kẻ ngu. Giá anh cứ nấu phở thì âm nhạc Việt Nam vẫn tiến lên, có gì khác đâu.
 Thời bao cấp đói chết mẹ. Anh Hiếu, chị Huyền đi hát phục vụ xong đói quá, lại bò về nhà mẹ, sai thằng em đi bắt trộm chim bồ câu của ông bác để nấu cháo. Anh leo lên mái nhà ba lầu, thò tay không vậy mà cũng bắt được. Bây giờ nghĩ lại thấy anh hùng thật. Cả thời tuổi trẻ chả thấy nghệ thuật, triết học, triết cháo gì sất, chỉ thấy thèm ăn. Rủ thằng Lưu Quang Vũ đi cướp tàu hỏa chở xe đạp gì đó của Tàu viện trợ, à xe gì nhỉ… quên rồi. Xe Phượng Hoàng. Thằng Vũ hăm hở lắm. Kế hoạch nó bày ra  cứ như cao bồi viễn tây. Hôm sau đến giờ hành sự, nó lại ha hả cười. Rồi hai thằng lại bỏ hết đồng tiền cuối cùng nhờ thằng Hưng “đói” (Hoàng Hưng) đi buôn giấy ảnh bỏ đi của bộ Quốc phòng. Giấy ảnh chả thấy đâu, Thằng Hưng “đói” bị truy nã. Ông trung tướng Hữu Ước kể lại, ngày ấy vì làm đàn em các anh, loong toong mang dùm giấy ảnh mà phải đi tù 2 năm. Chả biết có đúng không.
Cuộc cãi vã đáng để ý nhất là đối đầu triết học với anh Sơn (Trịnh Công Sơn) và Duật (Phạm Tiến Duật). Tất nhiên là hai buổi riêng. Duật điên quá kêu người bỏ tù anh ở ngay nhà Trọng Khôi. Còn anh Sơn chỉ cười cười. Biết mình thua thằng con nít nên anh không chấp. Anh bảo anh Sơn cần phải nghiên cứu giao hưởng, và viết cái gì đó lớn hơn. Anh Sơn bảo: “Chịu khó học thì cũng viết được. Nhưng chưa chắc một bản giao hưởng tồi lại có thể giá trị hơn một câu hò hay.”
Anh ấy có lý em nhỉ.
Dân Sinh xin gửi tới độc giả một ca khúc trong album "Có một thời như thế"
Điệp Khúc Tình Yêu
Tác giả: Trần Tiến
Thể hiện: Ca sĩ Hồng Nhung
 
Theo Facebook Nguyễn Quang Lập

Thứ Ba, ngày 17 tháng 3 năm 2015

Trần Tiến - Nguyễn Quang Lập "đấu hót"

16/03/2015 19:58

Trần Tiến, một nhạc sỹ tài hoa với nhiều bài hát có sức lan toả rộng rãi, trong đời sống thực là một con người đào hoa, bụi bặm, lấm láp... Nguyễn Quang Lập, một nhà văn tài năng, cũng rất "rắc rối" và "phức tạp" trong đời thực... Khi hai cá tính này trao đổi, tâm sự với nhau về đời, về văn, về nhạc... sẽ hé lộ nhiều chuyện về lao động sáng tạo nghệ thuật, rất thú vị, như muôn vàn lao động khác của đời sống dân sinh. Có khoảng gần 30 đoạn "đấu hót nội tâm" của nhạc sỹ Trần Tiến gửi cho nhà văn Nguyễn Quang Lập, gọi là Ngẫu hứng Trần Tiến được đánh số thứ tự từ 1, 2, 3... là những đoạn văn xuôi "rất đặc biệt" mà baodansinh.vn muốn chia xẻ với bạn đọc. Trước hết xin giới thiệu đoạn Nguyễn Quang Lập "hí họa" về Trần Tiến...

Kỳ I: KIẾP "DU CÔN CÔN CA"
Hôm đến dự lễ 100 năm ngày sinh Lưu Trọng Lư, gặp Trần Tiến, chưa kịp nói chuyện gì, anh đã ghé tai mình, nói công tác nhậu của mày dạo này thế nào? Mình cười, nói yếu kém đi rất nhiều nhưng vẫn còn chơi được. Anh đập đùi vui vẻ, nói thế là hay rồi, xong cuộc này về nhà Nguyễn Mạnh Tuấn nhậu nhé. Tao hẹn với nó rồi. Mình nói anh cũng quen cụ Lưu Trọng Lư à. Anh nói chứ sao, tao có một chương trình thơ Lưu Trọng Lư nhạc Trần Tiến rất ấn tượng, đến chết cũng không quên.

Mình đến dự lễ vì tình đồng hương chứ không hề quen biết cụ Lưu Trọng Lư. Nhà mình với nhà cụ đối diện nhau qua sông Gianh. Nếu vạch một đường vuông góc với sông Gianh từ nhà cụ thì đường đó băng qua nhà mình ở bên kia bờ. Cụ rời nhà đi làm cách mạng từ khi mình chưa đẻ làm sao mình biết được cụ. Mình rất tự hào được là đồng hương của cụ, dù cụ ở huyện Bố Trạch nhưng lúc nào mình cũng coi cụ cùng làng cùng xóm với mình.  Anh Lưu Trọng Văn, con trai cụ, gọi điện cho mình, nói chết quá mày ạ, cuốn tuyển tập Lưu Trong Lư in lộn huyện Bố Trạch quê tao ra huyện Quảng Trạch quê mày, dân Bố Trạch đang phản đối ầm ầm. Mình nhăn răng cười he he, nói rứa thì dân Quảng Trạch lời to.
Thật sự nể anh em Lưu Trọng Văn quá, chả cần biết nhà nước có nhớ hay không, tự mình tổ chức một lễ kỷ niệm cho cha thật sang trọng và ấm áp, khách dự toàn những người nổi tiếng nhất làng văn nghệ trong thành phố. Có cả cụ Phạm Duy, chị Trà Giang. Cụ Nguyễn Văn Tý đi đứng không còn vững nữa cũng cố lết đến, thật cảm động.  Chẳng bù con cái những cụ khác, chết là hết, nhà nước có làm gì thì làm chứ họ chẳng bao giờ nghĩ tới. Có một nhà văn cực nổi tiếng, viết sách rất nhiều, nhưng khi cụ mất đi con cháu trong nhà không hề có ý thức thu gom bản thảo, sách vở của cụ để lưu giữ. Mình muốn tái bản một cuốn sách của cụ, khi hỏi các con cụ thì ai cũng lắc đầu cười trừ, họ chẳng biết cuốn đó giờ nằm ở phương nào. Thế mới biết anh em Lưu Trọng Văn thật có hiếu.
Nhưng buổi lễ dài quá, có lẽ nó lẫn giữa hội thảo với lễ kỷ niệm, càng về cuối càng không biết cái lễ này sẽ kết ra làm sao. Trần Tiến bấm nháy mình chuồn, nói đi ra từng thằng một nhé, đừng để Lưu Trọng Văn thấy, nó buồn. Mình ngồi nghe cũng đã nản, nghe anh rủ là đi liền. Anh khoác vai mình ra xuống cầu thang, nói vẫn biết mình bỏ dở cuộc này là rất tệ nhưng cái tính tao thế, đứng đắn một lúc thì được chứ đứng đắn dài dài là chịu không thấu. Mình cười hì hì, nói anh em mình giống nhau.
Trần Tiến - Nguyễn Quang Lập Trần Tiến và tác giả
Mình quen Trần Tiến từ năm 1987, khi anh kéo băng nhạc Rock đen trắng ra Huế diễn hai đêm, đêm nào người xem cũng chật rạp. Diễn xong anh kéo mình với anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) nhậu nhẹt thâu đêm. Chả hiểu sao đêm thứ hai Thanh Lan bỏ đoàn vào Sài Gòn, một mình Trần Tiến gánh cả chương trình hai tiếng đồng hồ, chương trình vẫn sôi động như thường.  Khán giả vô cùng hào hứng, tuyệt không một ai bỏ về.
Khả năng tự tung tự tác của Trần Tiến thật phi thường. Năm 1992, anh với Hồng Ngọc ghé qua nhà mình ở Quảng Trị, nói tao thấy cái xe Jeep ở Lao Bảo thích quá mà không đủ tiền, mày bày trò cho tao kiếm tiền đi. Mình cười hề hề, nói xong ngay. Nhưng anh tính hát vo à. Anh nói chỉ cần mày kiếm cho tao cái ghi ta thùng là được. Mình ok liền, mượn ngay rạp hát Quảng Trị, rồi lên đài truyền thanh thị xã loan báo, nói a lô a lô nhạc sĩ Trần Tiến và ca sĩ Hồng Ngọc rất cảm động khi đi qua Quảng Trị, mảnh đất 81 ngày đêm máu và nước mắt, đã quyết định dừng chân lại nơi đây, thực hiện một chương trình ca nhạc Tình yêu và Đất nước…. Bà con thị xã Quảng Trị kéo đến chật kín rạp, chưa bao giờ rạp này khách đông đến thế. Với một cái ghi ta thùng, Trần Tiến và Hồng Ngọc chơi trọn một chương trình rất hấp dẫn, dân Quảng Trị sướng ngây ngất. Mấy năm sau hãy còn nhắc.
Trần Tiến kiếm tiền rất dễ nhưng chưa bao giờ thấy anh giàu. Kiếm bao nhiêu anh nhậu bấy nhiêu, nhậu đến xu cuối cùng, chẳng cần biết ngày mai rồi sẽ sống ra sao. Hôm về Huế diễn, anh nhậu với mình đến sáng. Anh gọi bia rượu đồ mồi tơi tới cho hơn chục người nhậu nhẹt say sưa. Mình say, ngủ tới trưa mới tỉnh thì nghe nói anh bắt xe tải vô Sài Gòn rồi. Chả hiểu sao anh không đi tàu lại đi xe tải, mình đoán chắc ông này lãng tử thích đi xe tải vi vu thỏa chí tang bồng, đâu biết anh vét hết tiền nhậu đêm đó, đến nỗi không có tiền mua một cái vé tàu. Năm sau gặp, hỏi thì anh cười khì, nói khổ thân tao, đã không tiền phải xin đi nhờ xe tải, vào đến Bình Thuận xe tải đâm phải một xe tải khác, thằng xế gãy chân, tao nằm đói một ngày trời mới xin được xe khác vô Sài Gòn.
Năm 1996 anh sang Nga, du ca khắp nước Nga. Lúc về gặp mình ở Hà Nội, chỉ thấy anh đứng nói suông không hề kéo mình vào quán như mọi lần. Mình trêu anh, nói bác bây giờ khẳm tiền rồi, chắc đang ở tình trạng thiếu năm phân đầy trăm cây, tiết kiệm ghê quá. Anh moi ra một rúp, nói thu nhập chuyến du ca của tao đây này. Mình chả tin. Anh cười, nói người ta du ca, tao du côn ca. Kiếm được đồng nào nhậu và yêu đồng đó, bò về tới đây được là phúc. Cái kiếp du côn ca của tao thật chán mớ đời.
Hi hi… nghĩ cái số kiếp Trần Tiến cũng hay. Thuở bé nhạc nhẽo chả quan tâm, chỉ chúi mũi học giỏi cả toán lẫn văn, thế rồi bỗng trở thành nhạc sĩ. Trần Tiến học cấp 2 trường Trưng Vương Hà Nội, trường này trước 1962 toàn con gái, sau mới tuyển cả học sinh nam. Anh khoe, nói tao là lứa đầu tiên vác cu về trường Trưng Vương đấy nhé. Cấp 2 Trần Tiến giỏi văn nổi tiếng trường, đã giỏi văn lại hát hay, mấy em học cùng trường mê tít. Lên cấp 3 lại học giỏi toán cực kỳ, giải nhất toán Miền Bắc năm 1963 hay 1964 chi đó. Anh nói chiến tranh đã biến số kiếp tao thành kiếp du côn ca, nếu không có chiến tranh rất có thể tao làm toán giỏi như Ngô Bảo Châu, hèn ra cũng viết văn được như mày.
Đúng vậy. Tốt nghiệp phổ thông vừa lúc chiến tranh phá hoại miền Bắc bùng nổ, Trần Tiến đi TNXP vào tận Bố Trạch, Quảng Bình “phá đá mở đường Trường Sơn”. Từ đó mới tòi ra bài hát TNXP ra tiền tuyến, sau sang Lào anh có thêm bài Cô gái Sầm Nưa. Trần Tiến trở thành nhạc sĩ lừng danh từ khi nào không biết.
Chuyện năm người- Trần Tiến
video
Hồi bé mình nghiện bài Cô gái Sầm Nưa, hát đi hát hát lại cả trăm lần nhưng chả biết tác giả là ai. Một hôm rượu say với anh, mình trương gân cổ hát rống lên mấy câu, sai nhịp lạc phách tùm lum. Anh trợn mắt lên nhìn mình, nói này thằng kia, đừng có xúc phạm bài hát của tao. Khi đó mới biết Trần Tiến có những bài hát rất nổi tiếng từ tuổi hai mươi. Phục lăn.
 Năm 1979 chiến tranh biên giới, khi đó mình đang học năm cuối Bách Khoa, có một nhóm ca khúc chính trị biểu diễn ở sân trường. Ba cô gái rất xinh ôm ghi ta hát bài Những đôi mắt mang hình viên đạn xúc động đến nỗi mình đã bật khóc, cả ngàn sinh viên đêm ấy đứng lặng ngắt, nước mắt rưng rưng. Chả hiểu sao mình cứ đinh ninh bài ấy là của Phan Nhân, hôm qua đây thôi mình mới ớ người, té ra là của Trần Tiến.
Cuộc nhậu ở nhà Nguyễn Mạnh Tuấn kéo dài tới ba giờ chiều, nói đông nói tây cuối cùng cũng quay về câu chuyện biển Đông đang nổi sóng. Trần Tiến có khá nhiều ca khúc chính trị nổi tiếng nhưng anh rất ghét phải ngồi nghe chuyện chính trị. Ngồi nhậu đâu hễ người ta bàn chuyện chính trị là anh kiếm cớ chuồn liền. Có lẽ duy nhất buổi nhậu hôm qua là anh không bỏ về. Anh ngồi im nghe anh em bàn tán, mặt mày buồn xo.
Bất chợt Trần Tiến cất tiếng hát. Anh hát bài Những đôi mắt mang hình viên đạn. Lúc đầu còn hát nhỏ sau anh hát to, rất to. Sự bùng nổ cảm xúc cố kìm nén hiếm hoi của Trần Tiến: Đoàn quân lặng im, nhìn đàn em bé, từng đôi mắt đen xoe tròn, từng đôi mắt mang hình viên đạn, từng đôi mắt sáng lên cháy lên như ngàn viên đạn, từng đôi mắt quê hương trao cho đoàn quân/ Người chiến sĩ hãy giữ lấy… Anh đột ngột dừng lại giữa chừng, ngồi rũ ra không nói gì.
 Rất lâu sau anh ngước lên rưng rưng nhìn mình, nói biển Đông đang nổi sóng mà tao già mất rồi mày ạ. Khốn thế.
Theo FB Xứ Cát - Nguyễn Quang Lập

Bức tranh chưa từng công bố của Trịnh Công Sơn

Đăng Bởi -

Trinh Cong Son
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Không phải một,  mà có đến ba tác giả nổi tiếng cùng đặt cọ, ký tên vào bức tranh độc đáo mà họ vẽ ra trong một dịp tình cờ. Bức tranh chưa hề được công bố này là tác phẩm  kỳ lạ của tình bạn văn nghệ giữa họa sĩ Trịnh Cung, họa sĩ Tôn Thất Văn và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Ba tên tuổi lớn cùng v
Đấy là một bức sơn dầu được treo ở tư gia của nhà báo Kinh Thi (phóng viên báo Bóng Đá). Tranh đẹp, bố cục và màu sắc hài hòa, đường nét tuy có đẳng cấp cao, nhưng lại đơn giản, dễ xem. Điều đặc biệt là bức tranh này có đến ba chữ ký mà trong số đó, ít nhất có đến hai tên tuổi lớn trong làng hội họa Việt Nam: Họa sĩ Trịnh Cung và họa sĩ Tôn Thất Văn. Còn lại cũng là một tên tuổi lừng lẫy, dù ông không hẳn là họa sĩ thực thụ. Đó chính là Trịnh Công Sơn.
Âm nhạc xem ra chưa đủ để Trịnh Công Sơn phát tiết hết nghệ sĩ tính của mình, nên ông đến với hội họa. Họa sĩ Tôn Thất Văn khi ở “đỉnh cao phong độ” thì lại nổi tiếng chủ yếu trong lĩnh vực tranh lụa. Nhưng họ vẫn dễ dàng phối hợp cùng nhau, tạo những đường nét tinh tế, trong một bức tranh sơn dầu.
Bây giờ, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và họa sĩ Tôn Thất Văn đều đã ra người thiên cổ. Chỉ còn mỗi họa sĩ Trịnh Cung, ông nói: “Muốn vẽ chung, dĩ nhiên các họa sĩ đều phải ở cùng một đẳng cấp, một cung bậc nào đấy về mặt chuyên môn, nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Phải thật hiểu nhau, ăn ý với nhau nữa. Khi họa sĩ này đi một đường màu, anh ta đã phải đoán được đường màu tiếp theo của họa sĩ kia sẽ như thế nào. Muốn vậy, tất cả đều phải hiểu rõ sở thích của nhau, quan điểm của nhau, tính tình của nhau. Chỉ tương đồng về đẳng cấp chuyên môn thì chưa đủ”.

Buc tranh chua tung cong bo cua Trinh Cong Son-hinh-anh-1
 Bức tranh chưa từng được công bố của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và hai người bạn 
họa sĩ  Tôn Thất Văn - Trịnh Cung
Họa sĩ Trịnh Cung cũng nói thêm rằng trên thế giới cũng đã có những tác phẩm do nhiều họa sĩ cùng vẽ, nhưng dĩ nhiên là hiếm hoi. Bản thân ông nhớ lại: Đã cùng vẽ với Trịnh Công Sơn và Tôn Thất Văn trong một dịp khác. Nhưng lần ấy, vì một tình huống không hay, tác phẩm mà họ ưng ý đã bị một người dùng sơn phá hủy. Điều thú vị là: Họa sĩ Trịnh Cung nhớ rõ đến từng chi tiết về tác phẩm đã bị phá hủy, nhưng với bức tranh còn đang tồn tại thì ban đầu ông... không hề nhớ!
Số phận kỳ lạ của bức tranh
Chuyện thú vị xảy ra cách đây hơn 20 năm. Họ gặp nhau ở tư gia của một người bạn để hàn huyên chuyện cũ, nhân dịp trong nhóm có người ở xa mới về. Chủ nhà là người thích vẽ, nên thường sẵn có vải bố, khung, sơn, cọ...Thế rồi, chuyện này nối tiếp chuyện kia, cho đến khi tác phẩm vẽ chung giữa ba nghệ sĩ nổi tiếng Trịnh Cung, Trịnh Công Sơn và Tôn Thất Văn được hoàn thành. Dụng cụ, chất liệu làm nên bức tranh đều là những thứ sẵn có, ngẫu nhiên.
Người chủ nhà trong “cuộc nhậu” dẫn đến việc khai sinh bức tranh trong câu chuyện là thân phụ của nhà báo Kinh Thi. Bức tranh đang được gia đình anh gìn giữ như một kỷ vật thú vị. Anh kể: Trong thập niên 1960, bố tôi có một quán cà phê ở Huế. Quán tuy không lớn, nhưng là nơi lưu giữ nhiều kỷ niệm về thời trai trẻ của ông. Đấy là nơi gặp gỡ hàng ngày của những người bạn trong giới văn nghệ như Trịnh Cung, Tôn Thất Văn, Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Hoàng Phủ Ngọc Phan... Theo thời gian, và theo thời cuộc, nhóm bạn văn nghệ ấy phân tán mỗi người mỗi ngả. Sau này, mỗi người là mỗi danh phận khác nhau, có mỗi cuộc sống khác nhau. Nhưng kỷ niệm cũ, tình bạn văn nghệ, những chi tiết về quán cà phê ở Huế - có tên ngắn gọn là “Bạn” cách đây đã nửa thế kỷ, họ đều không quên”.
Ấy là những chuyện mà anh Kinh Thi chỉ nghe kể lại. Riêng về bức tranh thì anh nhớ từng chi tiết, vì đã tận mắt chứng kiến “cuộc chơi” của bố và bạn bè. Anh kể: “Hôm ấy, tôi đi học về thì thấy trong nhà khá đông khách. Bức tranh khi ấy đang nằm trên giá vẽ, vẫn chưa hoàn thành. Bố và bạn bè vừa trò chuyện, vừa bình luận về bức tranh đang vẽ, bên bàn rượu, riêng họa sĩ Trịnh Cung là người duy nhất trong nhóm không uống rượu. Thi thoảng, một người lại bước đến giá vẽ, cầm cọ. Cứ thế cho đến khi tác phẩm hoàn thành và các họa sĩ ký tên lên tranh, tặng bố”.
Câu chuyện về bức tranh lạ lùng vốn đã đầy tính ngẫu nhiên. Với bản thân nhà báo Kinh Thi, người đang gìn giữ tác phẩm chưa bao giờ công bố ấy, đấy càng là kỷ niệm “để đời”. Anh kể: “Ở thời điểm 1992 ấy, tôi đang là sinh viên của Trường Đại học Thủy sản, nên phải thường xuyên đi thực tập ở các tỉnh duyên hải. Vậy mà hôm ấy, tôi lại ở nhà nên mới bất ngờ được xem cuộc vẽ tranh kỳ lạ của các họa sĩ nổi tiếng. Âu cũng là cơ duyên. Tôi vốn không mặn mà với lĩnh vực hội họa. Nhưng với bức tranh này, tôi đã thích ngày từ đầu, và vẫn cảm thấy thích thú mỗi khi xem lại bức tranh, suốt hơn hai mươi năm qua”.
  • Thanh Quế/ Lao Động

Ngày xuân, luận bàn về quân tử và tiểu nhân

Trong giao tiếp, đôi khi người Việt ta vẫn hay nhắc đến 2 từ "quân tử" - "tiểu nhân". Khái niệm "quân tử" - "tiểu nhân" tuy của Trung Quốc nhưng lại khá phổ biến trong văn hoá Việt. 

Thứ Tư, ngày 11 tháng 3 năm 2015

Hình ảnh con dê trong thơ ca


Con dê (còn gọi là Dương, Vị, Mùi...) xuất hiện trên trái đất từ thời hồng hoang và thường sống nơi rừng núi hoang vu. Dê là loài được người Việt thuần hóa đã lâu, thành vật nuôi ở rừng núi, ở trang trại, trong chuồng nhiều gia đình. Trong 12 con giáp, dê ở hàng thứ 8 - trước con khỉ và sau con ngựa. Con dê từ lâu đã là thành tố quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của người Việt Nam, kể cả ở các loại hình văn học - nghệ thuật, như trong thơ ca.

Công tử Bạc Liêu mất 50 kg vàng để chinh phục Hoa hậu Đông Dương

Đăng Bởi -
 Cong tu Bac Lieu
Trần Ngọc Trà, thường gọi là cô Ba Trà, được mệnh danh là "Hoa hậu Đông Dương"

Trần Trinh Huy (1900-1973) vốn là một tay chơi nổi tiếng ở Sài Gòn và miền Nam những năm 1930, 1940. Chính sự giàu có, hào hoa, lịch lãm, chịu chơi mà những bông hoa nào mới nhất, đẹp nhất ở những nơi ông hay lui tới đều phải dành cho ông. 

Người vợ đầu tiên
Ba Huy chính thức cưới vợ vào năm 1934, một cô gái Bạc Liêu chính hiệu là bà Ngô Thị Đen. Bà sinh được một người con gái đặt tên là Trần Thị Lưỡng. 
Nhưng ít ai biết trước đó 10 năm, Ba Huy đã có con với một cô gái Pháp. Một lần, khi đến tiệm cà phê nổi tiếng nằm bên bờ sông Siene, Ba Huy bị ánh mắt sâu thẳm của cô Marie hớp hồn. Ban đầu Ba Huy tính chơi qua đường cho vui, nhưng rồi Ba Huy thấy yêu thương Marie thật sự, chủ động để cho có con và đặt tên là Richard. 
 Cong tu Bac Lieu
Marie - người tình Pháp của công tử Bạc Liêu 
Khi cậu bé được 7 tháng, Ba Huy phải lên đường về nước. Năm 1936, tức gần 6 năm sau khi Ba Huy từ Pháp trở về Bạc Liêu, Marrie dẫn con trai 6 tuổi về gặp cha. Công tử Bạc Liêu đã dẫn vợ con về ra mắt bố mẹ, nhưng 2 mẹ con Marie chỉ ở lại Bạc Liêu một thời gian rồi về lại Pháp vì lúc đó Ba Huy vừa kết hôn với con gái  ông Bá hộ Mín.
Thông tin không chính thức cho hay số tiền ông bà Hội đồng cho mẹ con Marie tương đương vài chục ký vàng - đủ để Marie sống và nuôi Richard ăn học tới tuổi trưởng thành. 
50 kg vàng để chinh phục Hoa hậu Đông Dương
Trần Ngọc Trà, thường gọi là cô Ba Trà, thuở ấy được mệnh danh là "Hoa hậu Đông Dương" khiến các ông phủ, ông huyện, các công tử, thầy thông, thầy ký đều nhìn cô thán phục, thèm thuồng. Công tử Bạc Liêu đã tiêu tốn khoảng chục triệu đồng Đông Dương, tương đương 40 - 50kg vàng để theo đuổi người đẹp bằng những món đồ quý đắt giá như dây chuyền, nhẫn hột xoàn, thậm chí cả nhà cửa, xe hơi.
Tuy nhiên, cô Ba Trà chọn một người đàn ông khác làm chồng và cuộc đời của cô cũng kết thúc trong nghèo khó.
Lần thất tình duy nhất
Một tối nọ, ông đến nhà hàng Soái Kình Lâm cùng vài người bạn để “giải sầu” bằng rượu Tây và nghe ca nhạc. Ba Huy chợt sững sờ trước ca sĩ trẻ T.T mới nổi, vừa ký hợp đồng phục vụ hàng đêm ở nhà hàng này. Đôi chân dài ẩn hiện trong chiếc váy ngắn, thân hình bốc lửa trong chiếc áo thun màu hồng bó sát và đặc biệt là đôi mắt long lanh, sâu thẳm như thôi miên Công tử Bạc Liêu. Cùng với sắc đẹp cháy bỏng ấy là giọng hát mượt mà trong các ca khúc lãng mạn buồn man mác của Lam Phương, Phạm Duy...
Lâu lắm rồi Ba Huy mới diện kiến một người con gái tài sắc vẹn toàn đến vậy, làm mê hồn người đàn ông đệ nhất đa tình Ba Huy. Ba Huy kêu người bồi bàn tới, dúi cho một nắm tiền và bảo: “Cậu nói với ca sĩ T.T có Công tử Bạc Liêu mời một ly rượu làm quen”. Thế nhưng, cô ca sĩ trẻ không mảy may đếm xỉa đến Công tử Bạc Liêu lừng danh đang dõi mắt về phía cô. Có thể cô ca sĩ trẻ kia chưa từng được nghe nói Công tử Bạc Liêu là ai, nên cô mới xúc xiểm như thế, Ba Huy tự an ủi. 
Đêm sau, Công tử Bạc Liêu một mình đến nhà hàng, ông đưa một xấp tiền dày cho chủ nhà hàng, rồi bảo: “Ông nói rõ cho cô T.T biết Công tử Bạc Liêu là ai rồi "bo" cho cô ta tất cả số tiền này. Bảo là tôi mời cô ta đến bàn uống một ly làm quen”. Người chủ nhà hàng đã hết lòng thuyết phục, nên đêm đó, sau khi trình diễn, ca sĩ T.T đến gật đầu chào, uống với Công tử Bạc Liêu một ly rồi lẳng lặng ra đi, chỉ để lại cho Ba Huy một ánh mắt vô hồn.
Không chịu thua, ngày hôm sau, Ba Huy lại đến nhà hàng vào lúc trưa, nói với người chủ: “Đêm nay, tôi muốn bao nguyên nhà hàng của ông, chi phí bao nhiêu tôi trả đủ. Ông chỉ dọn một bàn thật sang với thức ăn ngon nhất cho một thực khách, còn trên sân khấu thì chỉ có ca sĩ T.T hát phục vụ”. Chủ nhà đăm chiêu trả lời: “Thưa công tử, doanh số của nhà hàng tôi một đêm đến 100 ngàn đồng lận...”. Công tử Bạc Liêu móc ngay 100 ngàn đồng (tương đương gần nửa ký vàng) ra đập xuống bàn. 
Đêm ấy, Công tử Bạc Liêu một mình ngồi giữa nhà hàng rộng mênh mông vừa uống rượu vừa nghe T.T hát hết bản này đến bản khác. Cú chơi “không đụng hàng” này của Công tử Bạc Liêu một lần nữa làm chấn động giới ăn chơi Sài Gòn, tạo ra thêm một giai thoại về Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy. Hôm sau, nhiều tờ báo đồng loạt viết bài tường thuật giật gân về chuyện “một mình một nhà hàng” của Công tử Bạc Liêu. Có tờ báo lại vẽ biếm họa cảnh Công tử Bạc Liêu tay chống cằm nhìn như muốn rớt tròng mắt vào một nàng con gái sexy trên sân khấu. Kể cả cái đêm “độc quyền” ấy, cô ca sĩ T.T cũng chỉ ghé lại bàn uống với Ba Huy vài ly rượu rồi chia tay.
Suốt thời gian dài, người ta thấy bữa nào Ba Huy cũng đến nhà hàng Soái Kình Lâm và gửi tiền boa cho T.T, nhưng đáp lại chỉ là ly rượu xã giao cùng nụ cười bí hiểm, ngoài ra không có gì hơn. Là người từng bách chiến bách thắng trên tình trường, Ba Huy như càng bị cám dỗ, kích thích, lại lao vào như con thiêu thân, gửi tặng cô ca sĩ trẻ rất nhiều tiền của, nhưng cô vẫn một mực khước từ những “lời đề nghị khiếm nhã” của Công tử Bạc Liêu. Lần đầu tiên một người vang danh trong chốn tình trường như Ba Huy cảm thấy "lực bất tòng tâm", nhưng ông cũng bắt đầu nhận ra mình đã quá già, không còn sức hút đối với các cô gái trẻ, dù có vung ra bao nhiêu tiền đi nữa.
Những người vợ chính thức 
 Cong tu Bac Lieu
 Công tử Bạc Liêu và bà Ngô Thị Đen - vợ chính thức
Sau bà  Ngô Thị Đen, Ba Huy có cưới thêm bàTrần Thị Hai. Bà Hai ở với Công tử Bạc Liêu sinh được 2 người con trai, đặt tên là Trần Trinh Nhơn và Trần Trinh Đức. Anh Trần Trinh Đức là hậu duệ duy nhất của Công tử Bạc Liêu hiện nay đang sống ở quê nhà Bạc Liêu, nhưng sống nghèo khó, vừa mới được trao “nhà tình thương”.
Người vợ cuối cùng được Ba Huy cưới hỏi đàng hoàng nhỏ hơn ông tới 40 tuổi. Bà tên Nguyễn Thị Ba, xuất thân trong gia đình nghèo, sống bằng nghề gánh nước mướn ở cạnh công viên Tao Đàn - Sài Gòn.
Vào cuối thập niên 1960, Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy đã về sống hẳn ở Sài Gòn với cô vợ cuối cùng, nhỏ hơn ông 40 tuổi, có với ông 4 người con.
Trải qua không biết bao nhiêu là chuyện tình, không đếm xuể những nhân tình qua tay Công tử Bạc Liêu nhưng cuối đời ông Trần Trinh Huy chủ yếu sống trong bệnh viện, ở bên ngoài những đứa con, cháu của ông tiếp tục ăn chơi vô độ, tàn phá gia sản của gia đình. Đầu năm 1973, sức khỏe của Công tử Bạc Liêu càng suy sụp nặng nề. Ba Huy từ giã cõi đời trong cô độc, dù ông có hàng chục bà vợ, hàng trăm cô nhân tình, 4-5 dòng con.
  • Theo Tinmoi.vn