Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

Nghệ sỹ và tài năng

Trong nghệ thuật, nhân tố “tự nhiên” ở người nghệ sỹ và thái độ riêng tư của họ đối với thế giới không chỉ thể hiện phong cách diễn đạt độc đáo mang tính cá nhân mà còn là yếu tố đặc thù của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, nghệ thuật không thể tồn tại nếu thiếu những yếu tố đó. Nếu như trong khoa học, chủ thể sáng tạo không bộ lộ rõ trong kết quả nghiên cứu khoa học như vậy, thì trong nghệ thuật, trong hình tượng nghệ thuật thể hiện rõ thực tại, cũng như nhân cách độc đáo, đặc sắc có một không hai của người nghệ sỹ.
Trong sáng tạo nghệ thuật, những phẩm chất di truyền bẩm sinh có ý nghĩa quan trọng tồn tại dưới dạng mần mống. Đó là những tiền đề tâm, sinh lý và thuộc bình diện phát sinh loài (phylogénétíque) của tài năng.
Quá khứ và hiện tại của văn hoá nhân loại được hiện thực hoá, xã hội hoá trong tài năng thông qua sự phát sinh cá thể (ontogenès). Bởi vậy, tài năng chính là sự thống nhất độc đáo, không lặp lại giữa nhưng cơ cấu cảm xúc và cơ cấu lý tính của chủ thể sáng tạo nghệ thuật hay nói môt cách khác nó là mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc tâm - sinh lý – lý trí – tình cảm, cá nhân – xã hội của chủ thể sáng tạo nghệ thuật ở tính đơn nhất của người nghệ sỹ. Quan hệ này được thể hiện ở tác phẩm nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật là kết quả của một loại lao động đặc biệt của người nghệ sỹ.
Là hệ thống tổ chức phức tạp của nhân cách nghệ sỹ mang tính độc đáo có một không hai, tài năng qui định phương hướng và khả năng sáng tạo; qui định các loại hình nghệ thuật mà nhà nghệ sỹ lựa chọn; phạm vi các hứng thú và các khía cạnh quan hệ của người nghệ sỹ với thực tại.
Không thể hình dung tài năng của nghệ sỹ nếu thiếu phương pháp cá nhân và phong cách với tính cách là những nguyên tắc ổn định để thể hiện quan niệm và ý đồ bằng nghệ thuật. Tính độc đáo của tài năng nghệ sỹ không chỉ được thực hiện trong tác phẩm nghệ thuật, mà còn như sự độc đáo của hoạt động nghệ thuật, như quá trình sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật của họ. Những nghệ sỹ chân chính độc đáo không chỉ ở kết quả sáng tạo của mình – trong những tác phẩm nghệ thuật đã hoàn thành, mà ở trong phương pháp thể hiện chúng ở phong cách sáng tác chúng – nhưng yếu tố qui định cá tính có một không hai của bất kỳ hình tượng nghệ thuật nào do họ tạo ra.
Tất cả những vấn đề nêu ở trên là điều kiện cần nhưng chưa đủ để hiện thực hoá mang tính riêng biệt của người nghệ sỹ; chính vì vậy qúa trình sáng tạo của người nghệ sỹ đều chịu ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp bởi những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định.
Tài năng của người nghệ sỹ chỉ có thể hiện thực hoá trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định. Có những thời đại nhất định trong lịch sử xã hội loài người đã tạo những điều kiện thuận lợi để phát huy và hiện thực hoá tài năng nghệ thuật của người nghệ sỹ. Chẳng hạn, một thời đại lớn đòi hỏi những người khổng lồ về tư tưởng và tầm vóc và nó đã sinh ra những người như vậy như: Lêonađờvanhxi, Mikenlănggiơ, Raphaen của thời kỳ phục hưng.
Công nhận ý nghĩa quyết định của các điều kiện kinh tế – xã hội và chính trị, cũng như không khí tinh thần trong việc hiện thực hoá tài năng tuyệt nhiên không phải là tuyệt đối hoá chúng. Người nghệ sỹ không chỉ là sản phẩm của thời đại, mà còn là người sáng tạo ra thời đại.
Để đào tạo nghệ sỹ có tài năng, phục vụ cho lý tưởng xã hội, nhất là lý tưởng chính trị thì yêu cầu trước hết là phải có sự nâng niu, qúi trọng tài năng, dồn tâm sức vun đắp tài năng; chống khuynh hướng chèn ép tài năng, làm cho tài năng bị thui chột, chỉ vì thói hư danh, đố kỵ, ích kỷ và vụ lợi. Mặt khác, việc đào tạo nghệ sỹ không thể chỉ ở việc trang bị tư duy luân lý, mà phải đi sâu phát triển khả năng cảm thụ đối với tư duy hình tượng, làm như vậy để tránh biến những người có năng khiếu và tài năng nghệ thuật trở thành những cán bộ lý luận hoặc những nhà quản lý văn hóa đơn thuần.
Một vấn đề cũng rất quan trọng là việc sử dụng tài năng. Trong mọi trường hợp giáo dục và đào tạo mới chỉ là một khâu, một mắt xích trong toàn bộ sự chuẩn bị cho hoạt động và phát triển của các tài năng. Vì vậy, việc tạo nguồn nhân lực cho tài năng cần có sự kết hợp và sự thống nhất giữa gia đình, nhà trường và xã hội, giữa việc đào tạo và việc sử dụng tài năng. Nhà trường có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tài năng, nhưng xã hội không dùng đến và dùng không đúng hoặc chưa phát huy hết khả năng vốn có của nhân tài cũng dẫn đến sự mai một các tài năng. Bởi vậy, việc phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng tài năng là một hệ thống nhất quán, cần phải có chính sách đúng đắn và có kế hoạch quản lý cụ thể của nhà nước.

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

Đặc trưng của một số loại hình nghệ thuật cơ bản

1. Kiến trúc và trang trí
Kiến trúc và trang trí là các loại hình nghệ thuật xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau bởi tính đặc thù của nó. Kiến trúc và trang trí đều có ý nghĩa thực dụng rất rõ nét; một mặt nó là lĩnh vực tinh thần – sáng tạo nghệ thuật và lĩnh vực vật chất – sáng tạo trong sản xuất vật chất. Thật khó có thề hình dung một công trình kiến trúc từ nhà ở, đến thánh đường của các nhà thờ Thiên chúa giáo, Hồi giáo, đình chùa Phật giáo lại thiếu sự luân chuyển nhịp nhàng, uyển chuyển và sự kết hợp các đường nét hình học cách điệu và các yếu tố tạo hình hợp thành hoa văn – họa tiết. Cũng chính vì vậy, trang trí như một bộ phận hợp thành toàn bộ công trình kiến trúc, song mặt khắc bản thân nó cũng có thể được coi là một tác phẩm nghệ thuật hội họa riêng biệt, độc đáo.
- Kiến trúc là một loại hình nghệ thuật mà cho đến ngày nay trong nghệ thuật vẫn còn diễn ra những cuộc tranh cãi rằng, nó có thuộc nghệ thuật hay không[1]? Xét về chức năng của nó, thì kiến trúc là thực dụng[2], nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất của xã hội, và trước hết là nhu cầu về nhà ở, công trình để lao động, nghỉ ngơi và điều hành các chức năng xã hội. Nhưng đồng thời kiến trúc là một nghệ thuật riêng biệt, trong đó cũng như nghệ thuật ứng dụng, điều có ý nghĩa quan trọng không chỉ là chức năng thực dụng, công dụng thực tế của các công trình, mà còn là bản chất thẩm mỹ của chúng, sự tác động giữa tư tưởng – tình cảm, sự thỏa mãn nhu cầu cái đẹp của con người.
Đặc trưng của ngôn ngữ của nghệ thuật kiến trúc là ở chỗ, trong hai tính năng phục vụ lợi ích và thẩm mỹ, thì tính năng phục vụ lợi ích có ý nghĩa nội dung, mang tích mục đích, tính năng thẩm mỹ mang ý nghĩ hình thức. Cho nên, các hình tượng của nó trước hết, mang tính chất ích dụng; mặt khác cái đẹp về hình thức kết hợp cái ích dụng vật chất – tinh thần lại phản ánh những tư tưởng chung, về sự khẳng định cuộc sống, về tầm vĩ đại, về sự hùng mạnh của những tư tưởng thẩm mỹ về cái đẹp.
Là nghệ thuật chiếm lĩnh không gian, bằng phương pháp tạo hình, nên cái đẹp trong kiến trúc được tạo dựng thông qua hình khối, đường nét, các tỷ lệ, nhịp điệu và kiểu dáng cao – thấp, rộng – hẹp, cong – thẳng, mau – thưa. Nhưng do những điều kiện lịch sử, tôn giáo khác nhau mà các phong cách kiến trúc cũng khác nhau. Do đó, kiến trúc châu Âu khác với kiến trúc châu Á, kiến trúc Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo cũng khác nhau. Chẳng hạn như kiến trúc Bigiăngtanh, Rômăng, Gôtích trong thời kỳ Trung cổ[3].
Trong đặc trưng ngôn ngữ của nghệ thuật kiến trúc tác động, gợi ý nghĩa bằng đặc tính chất liệu của nó từ đất, đá, gỗ, mây, tre, nứa, lá, kim loại. Kiến trúc bao gồm nhiều thể loại được phân theo chức năng của công trình như kiến trúc dân dụng, kiến trúc công cộng, kiến trúc tôn giáo, công viên.
- Trang trí cũng là loại hình có từ lâu đời gắn bó mật thiết với nghệ thuật kiến trúc, mà đặc điểm nổi bật của nó cũng bao hàm tính năng phục vụ lợi ích và thẩm mỹ. Đặc trưng của nghệ thuật trang trí là hình trang trí hoặc hoa văn. Các yếu tố hợp thành hoa văn là họa tiết và nhịp điệu. Trong đó các họa tiết kết hợp các đường nét hình học theo một kiểu nào đó thì nhịp điệu lại nối các họa tiết với nhau thành một khối thống nhất, lặp đi, lặp lại nhiều lần tạo sự hài hòa, nhịp nhàng và thống nhất giữa các yếu tố trong một tác phẩm trang trí.
Nghệ thuật trang trí bao gồm nhiều thể loại, từ sự trang điểm cho con người, đến trang trí nội thất và tạo dáng, tạo mẫu mã hàng hoá nói chung, thuộc về mỹ thuật công nghiệp, có tên gọi là Design. Trong xã hội hiện đại ngày nay, Design càng có vai trò hết sức quan trọng góp phần làm đẹp thế giới các đồ vật từ những vật dụng sinh hoạt thường ngày đến hàng hoá, đến môi trường sống, làm việc và hoạt động nói chung của con người
2. Điêu khắc
Điêu khắc là loại hình nghệ thuật không gian, nó phản ánh hiện thực bằng hình khối không gian ba chiều có thể tích. Đối tượng căn bản gần như độc nhất của điêu khắc là con người. Do chỗ điêu khắc hầu như không thể hiện bối cảnh, hoàn cảnh hoạt động của nhân vật, việc thể hiên hình tượng hầu như hoàn toàn dựa vào cách thể hiên diện mạo bên ngoài của con người; nhưng nó còn phát hiện bản chất bên trong của đối tượng, thể hiện những phẩm chất tiêu biểu của đối tượng.
Tượng là không gian hình khối, được chia thành hai loại như tượng tròn, tượng nửa khối gắn nổi trên mặt phẳng gọi là tượng đắp nổi. Trong tượng tròn có nhiều nhân vật (đối tượng) là cách gọi theo chức năng và qui mô của nó như tượng đài, tượng trang trí (do đặt nơi công cộng ngoài trời hay trong nội thất). Chính vì vậy, sản phẩm của điêu khắc có nhiêu loại như tượng tròn, chạm nổi, khắc chìm với những kích cỡ to, nhỏ khác nhau, tượng trang trí, chân dung.
Chất liệu có ý nghĩa rất quan trọng với ngôn ngữ điêu khắc và nó luôn thề hiện ở chất liệu gỗ, đá, thạch cao, kim loại… Câu “Tượng đồng bia đá” nói lên tính chất vững bền của các chất liệu được dùng trong điêu khắc. Tính độc đáo của hình tượng của điêu khắc mà đối tượng là con người thường thể hiện ở việc xây dựng tư thế, động tác điển hình có tính khái quát cao liên quan tới tính cách đặc trưng của nhân vật. Chẳng hạn, tượng “Đavít” của Mikenlănggiơ[4], tượng Phù Đổng Thiên Vương, hoặc tượng Trần Hưng Đạo ở thành phố Hồ Chí Minh, tượng đài chiến sỹ Điện Biên…
Các chủ đề của điêu khắc của chúng ta hiện nay, rất phong phú, đa dạng, đòi hỏi phải có nhiều tác phẩm điêu khắc nhiều hơn nữa để phản ánh lịch sử hào hùng của dân tộc cũng như với hai cuộc chiến tranh chống thực dân, đế quốc và sự nghiệp đổi mới đất nước. Nhưng thật đáng tiếc chúng ta còn quá ít các tượng đài, chứ chưa nó đến nhóm quần thể tượng đài hoành tráng có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử, để giáo dục truyền thống.
3. Hội họa
Hội họa là nghệ thuật không gian mặt phẳng – tìm không gian ba chiều trên mặt phẳng. Tuy chỉ ghi được một khoảnh của hành động, song nó vẫn có khả năng thể hiện được ý nghĩa của cử chỉ, động tác của đối tượng và nó cũng thể hiện được hình khối của đối tượng dưới những hình thức cụ thể khác nhau. Khi cảm thụ tác phẩm hội họa chúng ta vẫn có cảm giác được chiều sâu, độ gần xa về khoảng cách của bố cục theo tiêu điểm, diện về mặt đường nét, mầu sắc của đối tượng phản ánh, thậm chí cả cảm giác được cái sinh động, sống động như thật của đối tượng.
Trong hội họa đường nét, màu sắc là ngôn ngữ đặc trưng của hội họa. Hội họa có ưu thế đặc biệt trong việc phản ánh thế giới với mọi màu sắc phong phú, tinh tế của nó và hòa sắc của tác phẩm làm cho nó có sức biểu hiện sâu sắc, tế nhị về tình cảm. Ánh sáng, bóng tối và sự kết hợp uyển chuyển giữa các đường nét, màu sắc với các thủ pháp xa – gần (khoảng cách phù hợp) của hội họa tạo ra cảm giác không gian ba chiều[5]. Khả năng tạo hình của hội có ý nghĩa rất lớn, nó nói lên được tư tưởng và tình cảm con người trên mọi cung bậc và sắc thái khác nhau. Song hội họa chỉ có thể gợi lên quá trình phát triển của các biến cố trong phạm vi những khoảnh khắc mà nó thể hiện chứ không miêu tả được đầy đủ quá trình phát triển sinh động của hiện thực như văn chương, điện ảnh, hoặc sân khấu.
Về thể loại hội họa có tranh trên giá, tranh hoành tráng, tranh chân dung, tranh phong cảnh, tranh “bố cục”, tranh tĩnh vật…
4. Âm nhạc
Âm nhạc là loại hình nghệ thuật thời gian, chiếm lĩnh nhịp điệu, tiết tấu, âm vực; nghĩa là nó sử dụng âm thanh để thể hiện tâm tư, tình cảm, tư tưởng và những mong muốn của con người. Hình tượng của nghệ thuật âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của bảy nốt nhạc với các thăng trầm của nó biến hoá vô tận như là các chữ cái của ngôn ngữ.
Các âm vực trầm bổng với sắc thái cao độ – trường độ (trầm, bổng – nhanh, chậm) là hai thuộc tính cơ bản của ngôn nhữ âm nhạc tạo nên giai điệu – sắc thái ngôn ngữ của âm nhạc. Người nghệ sỹ xây dựng nên những hình tượng âm nhạc: giai điệu, nhịp điệu, hoà âm, điệu thức, âm sắc. Trong đó giai điệu có tính quyết định trong một tác phẩm âm nhạc. Bằng sự vận dụng các yếu tố và thuộc tính trên, thế giới âm thanh vật lý được “nhân tính hoá” trở thành những hình tượng mang ý nghĩa thẩm mỹ, diễn tả sâu sắc thế giới tâm hồn con người.
Điều đáng chú ý là âm nhạc phát hiện các trạng thái nội tại mà không cần phải miêu tả các hình thái bên ngoài của chúng như các loại hình nghệ thuật khác, nó chỉ tập trung biểu hiện cảm xúc và rung động trong quá trình phát triển liên tục và năng động của nó với tất cả cá sắc thái và sự chuyển hoá phong phú. Chính vì vậy người ta coi âm nhạc nói với con người bằng “ngôn ngữ trực tiếp của tâm hồn”, vì rằng cơ sở nội dung trong hình tượng âm nhạc trước hết là những cảm xúc, những tình cảm của con người.
Đối với âm nhạc, tình cảm không chỉ là đối tượng phản ánh gần gũi, sinh động, tinh tế nhất mà còn là phương tiện để trình bày một chân dung cuộc sống rộng lớn, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Âm nhạc là một phương tiện mạnh mẽ, tinh tế, năng động để giáo dục thẩm mỹ, tình cảm cho con người.
Về thể loại, âm nhạc có: thanh nhạc (ca khúc, tổ khúc, opéra); khí nhạc (étude, sonata, conserto, symphonie).
5. Văn chương
Văn chương giữ một vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các loại hình nghệ thuật. Bởi ngôn ngữ của văn chương làm cơ sở biểu hiện cho nhiều loại hình nghệ thuật (làm kịch bản cho sân khấu, điện ảnh, phần lời cho âm nhạc, vũ điệu, lời bình cho cho việc đánh giá các tác phẩm nghệ thuật khác). không phải ngẫu nhiên mà người ta thuờng chia đôi văn chương và nghệ thuật.
Ngôn ngữ văn chương là ngôn từ, hay nói chính xác là ngôn ngữ của con người làm phương tiện xây dựng hình tượng để phản ánh cuộc sống. Với lợi thế của ngôn từ, văn chương có thể đề cập tới mọi phương diện của đời sống hiện thực; có khả năng phản ánh linh hoạt, nhanh nhạy và đầy đủ, chính xác đến mọi góc cạnh tính cách của nhân vật hoặc của cuộc sống xã hội. Là loại hình nghệ thuật có khả năng tạo hình và có khả năng biểu hiện đa dạng, nó không những có thể mô tả con người với những hành động cụ thể trong khoảnh khắc và cả quá trình, mà còn có thể nói rõ và đầy đủ những tư tưởng, tình cảm của con người một cách tinh vi và sâu sắc.
Đối với loại hình nghệ thuật khác thì hình tượng nghệ thuật tồn tại ngay trong bản thân tác phẩm, ở ngoài chủ thể cảm thụ, nhưng đối với văn chương thì hình tượng chỉ hiện lên trong trí tưởng tượng của người đọc, ở chủ thể cảm thụ. Đặc điểm này làm cho văn chương sống trong tư tưởng, trong sự tích cực chủ động tưởng tượng, liên tưởng, sáng tạo của người thưởng thức. Vì ngôn ngữ văn chương là tiếng nói, thể hiện trực tiếp tư duy con người – công cụ, phương tiện vật chất hoá tư duy và công cụ, phương tiện thông tin phổ biến nhất của con người.
Văn chương có khả năng phản ánh cả hiện thực thế giới bên ngoài và nội tâm bên trong con người một cách đầy đủ và chính xác. Do đó, nghệ thuật văn chương thường kết hợp với các loại hình nghệ thuật khác để có thể tăng thêm sức mạnh tiềm ẩn của nó, sự tác động của nó. Ví như thơ được đọc, ngâm trên nền nhạc đệm, tiểu thuyết có tranh minh họa.
Về thể loại, văn chương có: tự sự (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết); trữ tình (thơ trữ tình, tùy bút)…
6. Sân khấu[6]
Sân khấu là loại hình nghệ thuật tổng hợp có lịch sử lâu đời. Bằng sự kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật khác như văn chương, hội họa, kiến trúc, âm nhạc, múa và hiện nay còn bao gồm cả điện ảnh. Sân khấu tạo nên các hình tượng nghê thuật sống động đối với công chúng nghệ thuật. Ngôn ngữ đặc trưng là hành động (hành động hình thể, hành động tâm lý, hành động ngôn ngữ), thông qua diễn xuất của diễn viên. Hành động sân khấu là hành động kịch, hành động mang tính xung đột, nhằm biểu hiện tư tưởng của kịch mang tính nhất quán chứ không phải bất kỳ hành động có tính chất ngẫu nhiên nào.
Kịch bản văn chương là cơ sở của chủ đề tư tưởng, là cái cốt của tác phẩm sân khấu. Diễn viên là người biểu hiện ý đồ của vở diễn, nhưng họ có vai trò đặc biệt quan trọng đến sự thành công hoặc thất bại của vở diễn. Ngoài nhân tố cơ bản là hành động kịch, nghệ thuật sân khấu còn có những phương tiện như âm nhạc, múa, trang trí, đạo cụ hỗ trợ cho diễn xuất. Ở đây, vai trò của diễn viên là vô cùng quan trọng.
Về thể loại, sân khấu có: kịch nói, kịch hát, kịch rối, kịch truyền hình, truyền thanh, kịch câm…
7. Điện ảnh
Điện ảnh là loại hình nghệ thuật trẻ, nó xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên, sau khi ra đời nó đã trở thành loại hình quan trọng bậc nhất xét về tính quần chúng rộng lớn của nó, đáp ứng cao nhu cầu thẩm mỹ của thời đại.
Sự ra đời của điện ảnh gắn liền với tiến bộ của khoa học – kỹ thuật và công nghệ; nó kết hợp các thành tựu của khoa học và công nghệ với các phuơng tiện của nhiều loại hình nghệ thuật khác tạo cho điện ảnh có tính tổng hợp cao nhất.
Phương tiện ngôn ngữ của điện ảnh cũng là hành động nhưng nó khác với sân khấu. Ở đây hành động nhân vật vẫn là yếu tố hạt nhân, nhưng đồng thời nghệ thuật quay phim, dựng phim, cũng có một ý nghĩa quyết định. Bởi hình ảnh phim là hình ảnh không gian đa chiều hết sức đa dạng và phong phú được đạo diễn và nghệ sỹ quay phim biến đổi liên tục theo những góc độ, tầm cỡ, cự ly khác nhau để biểu đạt tư tưởng, tính cách, nhân vật.
Cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật điện ảnh lệ thuộc vào nghệ thuật dựng phim khi xét nó từ quá trình kịch bản văn học sang kịch bản phim, kịch bản phân cảnh đến dựng phim đó là cả một quá trình sáng tạo thể hiện ý đồ của đạo diễn trong việc tạo ra tác phẩm điện ảnh. Ngoài ra còn có vô số các yếu tố nghệ thuật và kỹ thuật khác có vai trò hỗ trợ quan trọng dưới nhiều hình thức khác nhau: âm nhạc và âm thanh nói chung (tiếng động), ánh sáng, hội họa, trang trí - thiết kế nhân vật và bối cảnh. Với kỹ thuật điện toán (kỹ thuật số), ngày nay điện ảnh đã tiến những bước dài về kỹ thuật (kỹ xảo) về kỹ thuật hỗ trợ cho điện ảnh.
Về thể loại, điện ảnh có: phim nghệ thuật trong điện ảnh và phim truyền hình, phim họa hình, phim tài liệu, phim thời sự.


[1] Theo quan điểm của IU.A.Lukin và V.C.Xagherơsíccốp – các nhà mỹ học Liênxô .
[2] Appliqué – tiếng Pháp: thực hành – ứng dụng, có nghĩa là đưa những phương thức và phương tiện thẩm mỹ vào thực tế cuộc sống, trong đó tính lợi ích như một yếu tố thẩm mỹ khách quan.
[3] Các kiểu kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo thời trung cổ.
[4] Tượng cao hơn 5,5 mét, là hình tượng người lực sỹ khoả thân khổng lồ, đầy sức mạnh với vẻ hùng dũng, oai phong. Hiện nay, tác phẩm này vẫn còn ở quang trường Phơlôrăngxơ (Italya).
[5] Phải nói đến những kiệt tác: “Mona Lisa hoặc La Joconde”, hoặc bức tranh “Bữa tiệc cuối cùng” của Lêônađờvanhxi.
[6] Nhóm nghệ thuật tổng hợp (sân khấu, điện ảnh). Nghệ thuật tổng hợp vận dụng tất cả các phương thức và phương tiện thể hiện của nghệ thuật độc lập: Văn học, âm nhạc, múa, hội họa, trang trí, kiến trúc… Trong điện ảnh có quay phim, dựng phim, nhiếp ảnh…

Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2010

Sự hình thành các loại hình nghệ thuật

1. Sự hình thành các loại hình nghệ thuật
Sự hình thành và phát triển của các loại hình nghệ thuật một mặt phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định; mặt khác do chính yêu cầu và nhiệm vụ khách quan của sự phát triển nghệ thuật. Hơn nữa, do tính đặc thù của mỗi loại hình, loại thể của nghệ thuật là cái không thể thay thế bằng một loại hình, loại thể nghệ thuật khác. Chẳng hạn, sự hình thành, phát triển của sân khấu và loại thể của nó không thể thay thế đuợc bằng hội họa; văn chương không thể thay thế bằng âm nhạc, rồi chính âm nhạc cũng không thể chỉ dừng lại ở thanh nhạc mà còn có khí nhạc.
Ở một phương diện khác sự hình thành, phát triển các loại hình, loại thể của nghệ thuật còn do tính đa dạng, phong phú và năng động của các phương tiện vật chất – kỹ thuật đem lại khả năng tạo hình – biểu hiện ngày càng hiệu quả hơn để con người có thể khám phá, khai thác, khơi dậy tầng sâu ý thức – tâm hồn con người trong sáng tạo nghệ thuật. Đặc biệt ngày nay, khi nhu cầu thẩm mỹ của con người đòi hỏi ngày càng đa dạng và ngày càng cao hơn, trí tuệ hơn bởi sự phát triển của tri thức và vai trò của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại.
Lịch sử phát triển của nghệ thuật cho đến nay, về cơ bản người ta qui ra có bảy loại hình: kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, hội họa, văn chương, sân khấu, điện ảnh. Ngoài ra, còn có nghệ thuật trang trí, múa, nhiếp ảnh, mỹ thuật công nghiệp, truyền hình nghệ thuật, xiếc. Mỗi loại hình lại có nhiều loại thể khác nhau. Chẳng hạn, loại hình văn học có tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, ký, thơ, kịch bản. Hoặc sân khấu có kịch nói, kịch hát, kịch rối, kịch truyền hình.
2. Phân nhóm các loại hình và loại thể của nghệ thuật
Dựa trên những đặc điểm phản ánh bằng ngôn ngữ nghệ thuật chung giống nhau và cũng căn cứ tính riêng biệt của các loại hình nghệ thuật trong hoạt động sáng tạo lẫn khả năng tác động của nó đến công chúng nghệ thuât, con người phân thành các nhóm nghệ thuật khác nhau.
Có nhiều cách để phân nhóm nghệ thuật. Song về cơ bản sự phân nhóm các loại hình nghệ thuật theo các tiêu chí như:
- Bản thể (onthologie) – không gian và thời gian;
- Ký hiệu (sémiologie) – miêu tả không miêu tả;
- Tính năng – một tính năng hai tính năng;
- Tổng hợp – độc lập / liên kết.
a. Nhóm loại hình không gian và thời gian
Phân định nhóm nghệ thuật không gian và thời gian theo tiêu chí bản thể (onthologie) là tĩnh – động bởi năng lực thẩm mỹ của con người về thị giác – thính giác.
- Nghệ thuật không gian: kiến trúc - trang trí, điêu khắc, hội họa – đồ họa, nhiếp ảnh nghệ thuật, mỹ thuật công nghiệp.
Đặc điểm chung của nghệ thuật không gian, - đó là nghệ thuật tĩnh hay nghệ thuật tạo hình, có sở trường diễn đạt sự vật một cách cụ thể – theo nghĩa nhìn thấy được trước mắt và đứng im. Khả năng này giúp cho con người tạo nên môi trường không gian đẹp quanh mình, giúp cho con người chiêm ngưỡng tác phẩm và hình tượng nghệ thuật trong sự tĩnh tại và mang lại cho con nguời một sự lắng đọng cảm xúc. Hơn thế nữa, hình tượng nghệ thuật được xây dựng theo ấn tượng thị giác, phù hợp vói sư hấp dẫn của cảm thụ thị giác. Tuy nhiên, do tính không gian tĩnh tại lại có những hạn chế nhất định về sự thể hiện tính phát triển, sự hoạt động. Chính vì vậy, các nghệ sỹ thường tìm mọi cách tạo nên ảo giác chuyển động (sở đoản) trong hình thái đứng yên của tác phẩm, của hình tượng được xây dựng tác phẩm. Chẳng hạn, hội họa là hình thức không gian mặt phẳng, nghệ sỹ phải tìm cách tạo ảo giác về chiều sâu, về không gian ba chiều, dựa vào thấu thị học và sắc độ.
- Nghệ thuật thời gian (âm nhạc – múa, văn chương).
Đặc điểm chung của nghệ thuật thời gian có sở trường là diễn đat sự biến đổi và phát triển, diễn đạt được tính quá trình của tâm trạng và hành động của nhân vật thông qua nghệ sỹ biểu hiện. Chính vì vậy, từ phương thức xây dựng hình tượng đến cấu trúc và tác phẩm, kể cả ngôn ngữ đặc trưng của nhóm nghệ thuật này theo nguyên tắc quy luật thời gian mang tính chất quá trình và tính phát triển. Nhưng cũng vì mang tính thời gian, sở trường lại đi liền với sở đoản bởi dường như thiếu đi đứng yên, tĩnh tại trong không gian, nên các nghệ sỹ khắc phục bằng cách tạo ảo giác về không gian, về sự tĩnh tại. Đó là lối xây dựng hình tượng kiểu nhắc lại (dạng điệp khúc), trùng lập theo hình xoáy ốc và dùng ngôn ngữ đa thanh.
b. Nhóm nghệ thuật tổng hợp và liên kết: sân khấu, điện ảnh, múa
Đặc điểm chung của nghệ thuật tổng hợp là vận dụng tất cả các phương thức và phương tiện thể hiện của nghệ thuật độc lập. Nó một cách khác đây là nhóm nghệ thuật liên kết nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau trong một loại hình nghệ thuật nhất định. Ví dụ: Sân khấu và điện ảnh là một loại hình nghệ thuật tổng hợp nhưng đều phải có cơ sở kịch bản văn học và kết hợp với âm nhạc, múa, hội họa, trang trí, kiến trúc…
c. Nhóm nghệ thuật đơn tính và lưỡng tính
Phân định nhóm nghệ thuật thuần nhất chỉ mang một tính năng – chức năng thẩm mỹ và nghệ thuật ứng dụng mang hai tính năng – chức năng ích dụng và tính năng thẩm mỹ, trong đó tính năng ích dụng là cơ bản, tính năng thẩm mỹ là thứ yếu.
- Nghệ thuật đơn tính (một tính năng):
1. Điêu khắc: điêu khắc tròn – đắp nổi, tượng nhỏ trang trí, tượng đài, tượng hoành tráng.
2. Hội họa – đồ họa: tranh trên giá, tranh hoành tráng, tranh chân dung, tranh phong cảnh, tranh “bố cục”, tranh tĩnh vật.
3. Văn chương: Tự sự (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết); trữ tình (thơ trữ tình, tùy bút)
4. Âm nhạc: thanh nhạc (ca khúc, tổ khúc, opéra); khí nhạc (étude, sonata, conserto, symphonie).
5. Múa: múa biểu hiện, múa giao tế, kịch múa.
6. Sân khấu: kịch nói, kịch hát, kịch rối.
7. Điện ảnh: phim nghệ thuật trong điện ảnh và truyền hình (phim truyện, phim tài liệu, phim họa hình).
- Nghệ thuật lưỡng tính (hai tính năng):
1. Kiến trúc (kiến trúc dân dụng, kiến trúc công cộng, kiến trúc tôn giáo, công viên).
2. Mỹ thuật ứng dụng (thủ công, mỹ nghệ, mỹ thuật công nghiệp – đồ dùng – công cụ, trang trí, hoa văn).
3. Điêu khắc ứng dụng (tượng thờ, tượng giáo khoa, tượng đồ chơi).
4. Hội họa – đồ họa ứng dụng: tranh thờ, tranh thánh, tranh tuyên truyền – áp phích, tranh quảng cáo, đồ họa thương nghiệp, tiền, tem, minh họa quảng cáo…
5. Nhiếp ảnh nghệ thuật.
6. Văn chương ứng dụng: văn tuyên truyền – chính luận, thông tấn báo chí, văn chương minh họa (chính trị, đạo đức, khoa học, tôn giáo).
7. Múa ứng dụng: múa tôn giáo, múa thể thao (balé trên băng, thể dục nhịp điệu), múa kiếm, múa lân…
8. Âm nhạc ứng dụng: nhạc môi trường, nhạc tôn giáo, nhạc lễ binh, nhạc trị liệu.
9. Sân khấu ứng dụng: kịch tuyên truyền – minh họa, hoạt cảnh – diễu hành có hoá trang.
10. Điện ảnh ứng dụng (trong điện ảnh và truyền hình): phim thời sự, phim tài liệu (giáo khoa – khoa học).
11. Xiếc.
12. Thể thao nghệ thuật.

Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2010

Đặc trưng của nghệ thuật

1. Hình tượng nghệ thuật
a. Hình tượng nghệ thuật là gì?
Nếu không chú ý đến những đặc trưng của phương pháp khái quát riêng của nghệ thuật, một trong những hình thái của ý thức xã hội, thì không thể hiểu được đặc điểm của nghệ thuật, và sự tác động đặc thù của nghệ thuật đối với cuộc sống xã hội của con người. Bởi vì, nghệ thuật khác với các hình thái của ý thức xã hội khác ở đặc trưng cảm tính – cụ thể, đặc trưng tình cảm thể hiện ở phạm trù hình tượng.
Phạm trù hình tượng là một phạm trù mang tính khái quát phản ánh tính hệ thống của các khái niệm, phạm trù qui luật về đặc trưng thẩm mỹ của nghệ thuật. Vì tất cả những lý giải về nghệ thuật đều xuất phát từ vấn đề hình tượng.
Có thể nói tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng, và cũng có thể định nghĩa vắn tắt nghệ thuật là một hệ thống những hình tượng. Mọi định nghĩa hình tượng nghệ thuật hầu như không quán triệt hết nội dung và ý nghĩa của phạm trù này; nhưng người ta có thể hiểu hình tượng nghệ thuật bởi những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của nó:
- Hình tượng là hình thức đặc thù của tư duy nghệ thuật, là sự phản ánh hiện thực trong tính toàn vẹn, sinh động, cảm tính, cụ thể theo qui luật của cái đẹp.
- Hình tượng là cơ cấu hài hoà của những yếu tố chủ quan và khách quan, cảm tính – lý tính, cụ thể – khái quát, cá biệt – phổ biến; nhưng được trình bày bằng con đường thông qua cái khách quan, cái cảm tính, cụ thể, cá biệt để phát hiện cái chủ quan, cái lý tính, cái khái quát, cái phổ biến.
- Hình tượng là một cơ cấu hài hòa tinh thần – vật chất, trong đó nội dung của hiện thực được trình bày theo những thủ pháp và phương tiện trực quan, gợi cảm, ẩn dụ, đa nghĩa của quá trình hư cấu nghệ thuật, nhằm được sự miêu tả và biểu hiện.
Trong tất cả các yếu tố tạo thành hình tượng nghệ thuật nói trên, thì yếu tố cảm xúc – cá biệt mang tính cách cá nhân của chủ thể sáng tạo là quan trọng nhất. Có thể coi như đó là cái phôi, cái tế bào đầu tiên để tạo nên hình tượng và hình tượng là cơ sở để hình thành tác phẩm nghệ thuật.
Hình tượng nghệ thuật là một phương tiện đặc thù của nghệ thuật để phản ánh hiện thực dưới một hình thức cảm tính – lý tính, cụ thể – khái quát, cá biệt – phổ biến để con người cảm thụ, đánh giá, sáng tạo theo qui luật của cái đẹp.
b. Các cấp độ của hình tượng nghệ thuật
Hình tượng nghệ thuật tồn tại như một chỉnh thể thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng, trong đó cái chung đã được cá biệt hóa, cái cá biệt đã được khái quát hóa. Mỗi hình tượng nghệ thuật là một cái riêng độc đáo, là sự không lặp lại bất kỳ cái riêng nào khác được thể hiện bằng các thủ pháp nghệ thuật khác nhau: hư cấu, tưởng tượng, ước lệ…
Các cấp độ của hình tượng nghệ thuật, thông thường nó được phân tích, làm sáng tỏ ở khía cạnh phép biện chứng giữa lý tính và cảm tính, khách quan và chủ quan, điển hình và khái quát. Việc nghiên cứu các cấp độ tồn tại của hình tượng nghệ thuật là công việc hết sức quan trọng đối với việc làm rõ đặc trưng của nghệ thuật. Bởi vì là cơ sở phương pháp luận để xem xét bất cứ khía cạnh nào của hình tượng nghệ thuật, nhất là vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh thần con người.
- Cấp độ tư tưởng của hình tượng nghệ thuật giúp chúng ta nhận thức được quan niệm về nghệ thuật của các tư tưởng và trào lưu mỹ học khác nhau trong lịch sử. Nhờ vậy, nghệ thuật ẩn dấu và bộc lộ trong mình những ý nghĩa triết – mỹ sâu xa của hình tượng, cái mà hình tượng – nghệ thuật “vượt” ra khỏi giới hạn tâm lý của chủ thể dưới góc độ cá nhân, khi quan niệm nghệ thuật được nhận thức bằng toàn bộ sự phát triển của văn hóa mang tính toàn nhân loại.
- Cấp độ tâm lý của hình tượng nghệ thuật là cấp độ tình cảm và cảm xúc nghệ thuật. Các tình cảm và cảm xúc tâm lý chứa đựng trong hình tượng nghệ thuật thể hiện là thế mạnh riêng của sự phản ánh cuộc sống hiện thực. Bởi vì, không có cảm xúc thì sẽ không có hình tượng trong bất cứ loại hình nghệ thuật nào.
- Cấp độ vật chất của hình tượng nghệ thuật là cấp độ mà thiếu nó cũng không thể có sự tồn tại của hình tượng nghệ thuật. Đó là những chất liệu vật chất được sử dụng trong các các loại hình loại thể của nghệ thuật cũng như ngôn ngữ, âm thanh, mầu sắc và sự kết hợp chúng để vật chất hóa hình tượng trong nghệ thuật.
Sự phân chia các cấp độ của hình tượng nghệ thuật chỉ là ước lệ. Vì thực ra hình tượng nghệ thuật là một chỉnh thể phản ánh thế giới hết sức mền dẻo, uyển chuyển, người cảm thụ có thể cảm nhận được độ tinh tế, nông sâu của nó là tùy thuộc vào trình độ thẩm mỹ của mỗi con người. Chỉ có điều, các cấp độ đó của hình tượng nghệ thuật có ý nghĩa rất lớn trong việc đi sâu vào các cung bậc tình cảm – lý trí, chung – riêng trong đời sống tinh thần con người.
2. Nội dung và hình thức của nghệ thuật
Tác phẩm nghệ thuật là khâu quan trọng nhất của nghệ thuật, là đối tượng cảm thụ đặc biệt của cảm thụ thẩm mỹ. Tác phẩm nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của có mục đích của con người và nền văn hoá chứ không phải là đối tượng của tự nhiên. Có thể coi tác phẩm nghệ thuật là một thế giới đặc thù trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật.
Tác phẩm nghệ thuật có trình độ hoàn thiện và biểu cảm nhất định, có nội dung phù hợp với hình thức, có khả năng tác động trực tiếp bằng hình tượng mang tính toàn vẹn – cảm tính cụ thể làm rung động cảm xúc của người xem, người đọc, người nghe khi cảm thụ nó.
a. Nội dung của tác phẩm nghệ thuật
Nội dung của tác phẩm nghệ thuật do đối tượng của tác phẩm nghệ thuật qui định. Đó chính là quan hệ thẩm mỹ của con người với thế giới hiện thực thông qua tư tưởng và chủ đề của tác phẩm nghệ thuật trong quá trình sáng tạo của người nghệ sỹ.
Nội dung của tác phẩm nghệ thuật bao gồm hai yếu tố khách quan và chủ quan. Yếu tố khách quan là các thuộc tính thẩm mỹ của cái đẹp, cái bi, cái hài, cao cả trong cuộc sống được nghệ sỹ phản ánh vào tác phẩm theo chủ đề nhất định. Nói một cách khác, đây chính là đối tượng của nghệ thuật. Còn yếu tố chủ quan là ý tưởng sáng tạo của người nghệ sỹ nói lên các xem xét, đánh giá và giải quyết chủ đề theo ý đồ chủ quan của nghệ sỹ.
Vấn đề tình yêu là vấn đề của bản thân cuộc sống, nhưng đồng thời nó cũng là chủ đề (đề tài) tình yêu mà người nghệ sỹ có thể lựa chọn đưa vào tác phẩm với tính cách là đối tượng phản ánh của nghệ thuật. Song quan niệm về tình yêu và cách đánh giá, giải quyết vấn đề tình yêu lại là ý đồ chủ quan của người nghệ sỹ. Chẳng hạn, Xuân Diệu – Hoàng tử thơ lãng mạn trong thi ca Việt Nam hiện đại đã viết:
Nào là tình yêu tới sẽ ra sao?
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm lòng ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu …
Nào là yêu đến thành kẻ si tình:
Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá
Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì.
Nào là nỗi đau khổ bạc bẽo trên đường tình:
Yêu là chết trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu
Người ta phụ, hoặc thờ ơ… chẳng biết.
Như vậy, những yếu tố cấu thành nội dung của tác phẩm nghệ thuật là tư tưởng của tác phẩm và chủ đề của tác phẩm nghệ thuật.
Tư tưởng của tác phẩm, trước hết là tư tuởng thẩm mỹ của nghệ sỹ được thể hiện thông qua tác phẩm bằng các hình tượng nghệ thuật nhất định và cũng qua đó công chúng nghệ thuật có thể cảm thụ, đánh giá được ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm. Lẽ tất nhiên quan niệm nghệ thuật, tư tưởng của nghệ thuật gắn bó sâu sắc với các quan niệm và tư tưởng xã hội, chính trị, đạo đức, tôn giáo. Chẳng hạn, tư tưởng của Truyện Kiều là sự phản ánh mang tính chất khái quát thân phận của người phụ nữ tài sắc trong xã hội phong kiến bằng hình tượng cảm tính cụ thể, độc đáo qua nhân vật Thúy Kiều; là thái độ phê phán và lòng căm ghét, khinh thị bọn quan lại buôn người, dâm ô, tráo trở; là tình cảm khoan dung, nhân đạo đã mang lại cho người đọc những rung động cảm xúc, những ấn tượng, những suy nghĩ, những thương cảm về thân phận của nàng Kiều.
Chủ đề của tác phẩm phải gắn liền với tư tưởng của tác phẩm thông qua sự lựa chọn của người nghệ sỹ. Trong đó tư tưởng của tác phẩm được thể hiện thông qua nhận thức, đánh giá, sáng tạo của nghệ sỹ trong cánh đặt vấn đề giải quyết vấn đề do chủ đề đặt ra và ngược lại chủ đề làm cho tư tưởng thêm sâu sắc, tư tưởng phát triển chủ đề.
Tư tưởng và chủ đề là hai yếu tố của nội dung nghệ thuật trong quá trình sáng tạo của nghệ sỹ. Tư tưởng không thể bộc lộ ngoài chủ đề và chủ đề không thể thể hiện nếu không có tư tưởng. Chẳng hạn, tư tưởng của Truyện Kiều là phản ánh thân phận người phụ nữ tài sắc trong xã hội phong kiến thông qua chủ đề thân phận Thúy Kiều. Nhưng trong tác phẩm nghệ thuật không chỉ có một chủ đề, mà có chủ đề chính hoặc thêm nhiều chủ đề phụ. Cũng vì vậy mà trong một tác phẩm nó có thể có rất nhiều chủ đề chính. Chẳng hạn, chủ đề chiến tranh và hòa bình của L.Tônxtôi.
b. Hình thức của tác phẩm nghệ thuật
Hình thức là cách thể hiện nội dung của tác phẩm nghệ thuật. Nội dung và hình thức của một tác phẩm nghệ thuật là mặt thống nhất qui định lẫn nhau. Hình thức là tổ chức, là cơ cấu bên trong của nội dung tác phẩm. Cho nên, hình thức là cách thể hiện nội dung và cách thức thể hiện đó bao gồm hai đặc điểm cơ bản. Một là nội dung của tác phẩm thể hiện bằng gì; hai là nó được thể hiện như thế nào?
Thứ nhất, để vật chất hoá và khách thể hoá nội dung của tác phẩm nghệ thuât, cần phải sử dụng những phương tiện vật chất kỹ thuật, đó là phương tiện tạo hình – biểu hiện mà nghệ sỹ dùng để thực hiện ý đồ sáng tác của mình. Để xây dựng hình thức cho một tác phẩm nghệ thuật thì nghệ sỹ có thể chỉ sử dụng một vài phương tiện vật chất – kỹ thuật phù hợp với những loại hình nghệ thuật nhất định và nó chỉ thành yếu tố của hình thức tác phẩm khi chúng được sắp xếp, tổ chức thành kết cấu, thành những nội dung nhất định trong tác phẩm nghệ thuật.
Mỗi một loại hình của nghệ thuật đều có một hệ thống các phương tiện tạo hình – biểu hiện riêng như là ngôn ngữ đặc trưng của mình. Ví dụ, ngôn ngữ đặc trưng của Am nhạc và múa có chung yếu tố ngôn ngữ là nhịp điệu. Kết cấu của nhịp điệu của âm nhạc là giai điệu, múa là động tác và nó đều mang tính ước lệ, không mô phỏng theo âm thanh hay động tác có thật trong hiện thực. Ngôn ngữ đặc trưng của sân khấuhành động (hành động hình thể, hành động tâm lý và hành động ngôn ngữ), thông qua diễn xuất của diễn viên. Hành động sân khấu là hành động kịch, hành động xung đột, nhằm biểu hiện tư tưởng của kịch. Ngoài ra nghệ thuật sân khấu còn có các phương tiện vật chất – kỹ thuật khác như âm nhạc, múa, trang trí, đạo cụ hỗ trợ cho diễn xuất của các diễn viên.
Thứ hai, ngoài những yếu tố vật chất kỹ thuật, ngôn ngữ, chất liệu để tạo hình – biểu hiện tác phẩm còn có sự liên kết chúng lại để tạo thành bố cục của tác phẩm phản ánh nội dung của nó. Hình thức của tác phẩm không chỉ là tạo dáng bên ngoài, mà còn là cơ cấu bên trong của nội dung. Chính vì vậy, yếu tố quan trọng và phổ biến của hình thức tác phẩm là bố cục, tức là cấu trúc bên trong của tác phẩm để thông qua đó bộc lộ nội dung như sự phân bố, sắp xếp các bộ phận của tạo hình – biểu hiện theo một hệ thống nhất định.
Xây dựng bố cục, tức là tìm thủ pháp và giai pháp thích hợp với tư tưởng nhằm thể hiện nội dung của tác phẩm một cách tốt nhất có hiệu quả nhất và cũng vì vậy nếu như bố cục không phù hợp sẽ làm phần quan trọng của nội dung hoặc không thể hiện đúng nội dung và ý nghĩa của tác phẩm. Ví du, bố cục trong hội họa bị chi phối bởi đặc điểm về thị giác, về điểm nhìn khi xem tranh, tức là phụ thuộc vào yêu cầu có tính chất tâm – sinh lý. Do vậy sự sắp xếp hình và màu sắc, sắc độ đậm, nhạt trên tranh nhằm làm rõ tính tư tưởng và ý đồ sáng tạo của họa sỹ là một quy tắc thông thường của hội họa. Tuy nhiên, tùy theo những điều kiện lịch sử nhất định, từng trường phái và từng nghệ sỹ lại có lại có cách bố cục riêng, bởi một ngôn ngữ đặc thù riêng. Chẳng hạn, phép bố cục cân xứng, hài hòa của hội họa phục hưng, lối tả thực chính xác theo thấu thị học của hội họa hiện thực, chủ nghĩa cổ điển.
Sự đảo lộn những trật tự bố cục truyền thống, đi vào biểu hiện chủ quan là trào lưu hội họa hiện đại như chủ nghĩa ấn tượng, siêu thực, trừu tượng mà kết cấu, bố cục tuân theo nội tâm, đó mới chính là nguồn gốc của nhu cầu và khả năng sáng tạo hoặc phải vẽ cái tồn tại trong tâm hồn“Tôi”, để thoả mãn những nhu cầu thấu triệt mối liên hệ đích thực giữa con người và vũ trụ. Các nhà trừu tượng muốn đưa hội họa lên siêu việt và đem thần trí con người tạo ra một vũ trụ khác, một cõi thực thứ hai.
c. Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật
Nội dung và hình thức là hai mặt thống nhất và đều có vị trí quan trọng đối với giá trị của tác phẩm nghệ thuật. Bởi chúng đều là cơ sở cho sự tồn tại trong tính hiện thực của một tác phẩm nghệ thuật. Trong đó nội dung qui định hình thức; mặt khác tính chất đa dạng, phong phú và mức độ hoàn thiện hay không hoàn thiện của hình thức lại qui định mức độ hoàn thiện hay không hoàn thiện của nội dung.
Khi khẳng định vai trò quyết định của nội dung đối với hình thức, thì hình thức cũng có tính tích cực đối với nội dung, khi xem xét tính phù hợp hoặc không phù hợp của nó có bộc lộ đầy đủ nội dung hoặc cũng có thể làm sai lệch nội nội dung của tác phẩm nghệ thuật. Do vậy, một tác phẩm nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ cao không chỉ do nội dung tư tưởng tiến bộ, phản ánh đúng chân lý khách quan của cuộc sống mà còn do hình thức nghệ thuật hoàn thiện, hoàn mỹ của nó.
Tính tích cực của hình thức nghệ thuật vốn là sức mạnh tiềm ẩn của trong ngôn ngữ đặc trưng mang tính đa dạng, phong phú của các loại hình, loại thể của nghệ thuật và cả những chất liệu vật chất – kỹ thuật được sử dụng trong thủ pháp của nghệ thuật. Chẳng hạn, để diễn tả tính nhậy cảm, tinh tế nhất trong thế giới tình cảm của con người thông qua năng lực phản ánh của thính giác thì có lẽ âm nhạc là thích hợp hơn cả; nhưng ngược lại nếu miêu tả tính không gian, sinh động cụ thể về thế giới của màu sắc thông qua năng lực phản ánh của thị giác thì không có gì sánh bằng hội họa.
Trong sáng tạo nghệ thuật, bao giờ nghệ sỹ cũng đi từ nội dung đến hình thức, xuất phát từ nội dung là cái tương đối ổn định và tìm kiếm những hình thức đa dạng tương ứng để biểu hiện. Trong quá trình sáng tạo của người nghệ sỹ, khi tác phẩm mới được hình thành thì nội dung đó còn nằm trong trí tưởng tượng sáng tạo, ý đồ sáng tạo của nghệ sỹ chứ chưa phải là nội dung hoàn chỉnh và nó chỉ hoàn chỉnh khi đã được thể hiện ở những hình thức thích hợp với nó.

Thứ Bảy, 20 tháng 3, 2010

Chức năng của nghệ thuật

1. Chức năng của nghệ thuật[1]
Nghệ thuật có nhiều chức năng, nhưng chủ yếu là chức năng nhận thức, đánh giá, sáng tạo và chức năng giáo dục. Ngoài ra còn có chức năng giao tiếp, chức năng giải trí…
a. Chức năng nhận thức
Nghệ thuật thể hiện vai trò của mình trong hoạt động nhận thức, với tính cách là sự tái hiện một cách đặc thù thế giới hiện thực. Sự tái hiện đặc thù của nghệ thuật không chỉ khẳng định nhận thức nghệ thuật là một hình thái của sự nhận thức thế giới, mà quan trọng hơn là ở chỗ, nó có khả năng tổng hợp và phát triển mọi hình thức phản ánh của hoạt động nhận thức của con người.
Qui luật chung của hoạt động nhận thức là biện chứng giữa nhận thức cảm tính và lý tính. Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của qúa trình nhận thức. Đó là sự phản ánh trực tiếp hiện thực bằng các hình thức phản ánh như cảm giác, tri giác, biểu tượng. Thông qua nhận thức cảm tính, con người liên hệ một cách trực tiếp thế giới những hiện tượng riêng biệt, là sự phản ánh những mối liên hệ đơn giản, bên ngoài giữa các hiện tượng đó, hình thành kinh nghiệm sống và tri thức kinh nghiệm. Tư duy trừu tượng giai đoạn tiếp theo của qúa trình nhận thức, - đó là sự phản ánh gián tiếp bằng các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận. Sự phản ánh này, loại bỏ tính chất không cơ bản, thứ yếu của sự vật, hiện tượng và khái quát những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ mang tính chất chung, tính bản chất và tính qui luật của sự vật.
Với tính cách là sự tái hiện đặc thù về thế giới, chúng ta có thể thấy rất rõ là, khác với tri giác, biểu tượng, khái niệm… bản chất nhận thức của nghệ thuật làm cho nó khác với các hình thức khác của hoạt động nhận thức. Bởi vì, nhận thức bằng nghệ thuật không thể được qui vào một hình thức phản ánh, một giai đoạn nào của qúa trình nhận thức, mà nó nổi lên như sự thống nhất giữa các yếu tố lý trí và tình cảm. Mặt khác, nhận thức bằng nghệ thuật có khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa thế giới hiện thực; nhưng biểu hiện của tư tưởng khái quát hóa, trừu tượng hóa đó không đồng nhất với những “tính hình tượng” vốn là lĩnh vực hết sức trừu tượng ví như trong triết học và khoa học.
Khi tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật với sức truyền cảm và năng lực phổ quát của nó, nghệ thuật có khả năng tổng hợp, bổ sung, mở rộng và khởi nguồn cho các hình thái nhận thức khác trong đời sống tinh thần con người. Chẳng hạn, nghệ thuật không chỉ gắn bó với hệ tư tưởng chính trị ở khả năng tác động tư tưởng thẩm mỹ vào ý thức con người, do đó, để thực hiện các chức năng xã hội nhất định của mình, các giai cấp đã sử dụng nghệ thuật nó để tuyên truyền cho những tư tưởng chính trị của họ.
Trong mối quan hệ với luân lý và đạo đức, nghệ thuật có mối quan hệ không kém chặt chẽ so với chính trị. Bản chất nhận thức của nghệ thuật và ý nghĩa thẩm mỹ của nó có lẽ bộc lộ rõ nét nhất trong mối quan hệ với nhận thức khoa học. Bởi vì, nghệ thuật có khả năng gợi mở to lớn trong việc nhận thức chân lý khoa học, nhất là khả năng tiên đoán và tính vượt trước của nghệ thuật so với thế giới hiện thực.
b. Chức năng đánh giá
Hoạt động đánh giá là một trong những vấn đề chủ yếu và quan trọng nhất của hoạt động tinh thần của con người. Bởi vì, mục đích của nhận thức không phải chỉ vì bản thân nhận thức; mà nhận thức còn phải đáp ứng những yêu cầu và nhiệm vụ của hoạt động thực tiễn xã hội. Cho nên, hoạt động đánh giá không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn về mặt thực tiễn như một yếu tố cải tạo thế giới. Bởi vậy, vai trò của nghệ thuật trong hoạt động đánh giá dựa trên hệ tiêu chí cơ bản là: Chân - Thiện - Mỹ. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, trong hoạt động đánh giá đạo đức và đánh giá thẩm mỹ của nghệ thuật còn được xác định bởi tính lịch sử, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc.
Trước hết, chức năng đánh giá của nghệ thuật được thể hiện trong hoạt động đánh giá khoa học. Nếu trong khoa học, việc nhìn nhận các hiện tượng đươc đề ra là một hệ thống tri thức của con người về thế giới hiện thực, là sự diễn đạt những kết qủa nghiên cứu được trên con đường đi tới chân lý dưới dạng những khái niệm, phạm trù, hệ thống lý thuyết thì điều quan trọng nhất của đánh giá khoa học là kết quả ứng dụng tri thức khoa học trong hoạt động thực tiễn xã hội.
Việc khẳng định cái gì đó là đẹp điều đó không hẳn dựa trên tiêu chuẩn thuần túy là một giá trị “truyền thống” của nghệ thuật, nhưng thông qua nghệ thuật cũng là một tiêu chuẩn của đánh giá chân lý khoa học.
Trong đánh giá nghệ thuật ẩn chứa ở bản thân nó cái thuyết phục mạnh mẽ của tri giác cảm quan trực tiếp, chứ không cần chứng minh bằng thực nghiệm, không khái quát thành một thẩm định thực nghiệm khoa học. Sự liên hệ và khả năng thẩm định của nghệ thuật ở trong hai trường hợp – tri giác nghệ thuật và suy lý chân lý khoa học, đều là sự phát hiện, đều là sự thẩm định chân lý một cách tổng hợp trực tiếp.
Thứ hai, chức năng đánh giá của nghệ thuật trong hoạt động đánh giá đạo đức thể hiện ở năng lực đánh giá thẩm mỹ của nghệ thuật – tìm hướng đi - đánh giá đạo đức và nhân cách của con người.
Tác phẩm nghệ thuật giáo dục và nâng cao đạo đức của con người không chỉ ở chỗ, nó truyền cho người cảm thụ khoái cảm thẩm mỹ mà còn gợi nhắc những chuẩn mực của đạo đức lành mạnh, lòng yêu lao động, nâng cao tính nhân đạo và giáo dục tính cách đạo đức cá nhân. Bởi vậy, nghệ thuật chân chính, khi tác động đến thế giới tinh thần con người, nó không chỉ phát triển thị hiếu thẩm mỹ, mà nó còn đánh giá cái đẹp thông qua cái thiện – cái mang ý nghĩa nhân văn của xã hội. Nói cách khác, chức năng đánh giá đạo đức của những tác phẩm nghệ thuật đối với chủ thể đánh giá – tiếp nhận thể hiện đầy đủ nhất ở chức năng tổ chức xã hội của nghệ thuật, ở tính chất xã hội hóa con người dưới góc độ khác nhau với các chuẩn mực hành vi đạo đức không chỉ mang ý thức hệ, mà còn có ý nghĩa toàn nhân loại.
Thứ ba, chức năng đánh giá của nghệ thuật thế hiện trong hoạt động đánh giá thẩm mỹ. Một trong những hình thức tập trung nhất của hoạt động đáng giá thẩm mỹ là hoạt động đánh giá nghệ thuật. Đánh giá nghệ thuật không chỉ thể hiện năng lực chiếm hữu và sáng tạo thẩm mỹ, mà còn hướng toàn bộ năng lực thẩm mỹ của con người vào việc đánh giá đối tượng hiện thực do chính con người sáng tạo theo qui luật của cái đẹp.
Xét về hình thức, chủ thể đánh giá nghệ thuật có nhiều hình thức khác nhau; nhưng sự sống còn của các tác phẩm nghệ thuật trước hết là thuộc về chủ thể đánh giá cảm thụ là công chúng của nghệ thuật. Đây là loại chủ thể rộng lớn, mang tính phổ biến, đa dạng và phức tạp nhất. Về thực chất, loại chủ thể đánh giá này nhằm mục đích thỏa mãn thẩm mỹ về hưởng thụ, tiêu dùng và thưởng thức nghệ thuật. Nhưng họ là loại chủ thể có tính quyết định nhất về giá trị thẩm mỹ và vấn đề sống còn của nghệ thuật, trong đó trước hết là số phận của tác phẩm nghệ thuật.
Hiển nhiên, điều phức tạp trong mối liên hệ: hiện thực - nghệ sỹ - tác phẩm - công chúng là tác phẩm nghệ thuật chỉ được thể hiện ý nghĩa của nó trong qúa trình cảm thụ và đánh giá thẩm mỹ của công chúng. Đánh giá nghệ thuật là hệ chuẩn phổ biến của đánh giá thẩm mỹ. Bởi vì, nghệ thuật là hình thái cao nhất của quan hệ thẩm mỹ.
c. Chức năng sáng tạo của nghệ thuật
Hoạt động sáng tạo là một thuộc tính chung của hoạt động con người, chứ không phải chỉ là hoạt động khoa học và càng không qui giản về hoạt động nghệ thuật. Lẽ tất nhiên, hoạt động sáng tạo khoa học và nghệ thuật là những hình thức cao nhất của hoạt động con người trong đó, sáng tạo nghệ thuật là hình thức hoạt động đặc thù.
Trước hết, khi cảm thụ nghệ thuật, nghệ thuật có khả năng tạo nguồn cảm hứng sáng tạo. Cảm hứng mà nghệ thuật đem lại cho con người không chỉ là sự kích thích nguồn cảm hứng sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật và khoa học mà còn trong hoạt động sáng tạo nói chung của con người.
Cảm thụ nghệ thuật như là những rung động cảm xúc đặc biệt về những nhu cầu khách quan cần phải thỏa mãn, mà trước hết là nhu cầu thẩm mỹ và đồng thời với nó là các nhu cầu khác của con người. Trong đó nó có khả năng thỏa mãn nhu cầu sáng tạo, tạo lên niềm hứng thú, sự đam mê cho con người để có thể theo đuổi những mục đích nhất định. Nghệ thuật với tính cách là một môi trường rộng lớn của tình cảm – lý trí, nơi tạo ra nguồn cảm hứng, sự say mê, hứng thú có tính chất bền vững và trực tiếp đối với mọi hoạt động sáng tạo của con người.
Thứ hai, nghệ thuật có khả năng phát triển trí tưởng tượng sáng tạo. Trong bất kỳ hoạt động nào của con người, từ việc học tập, lao động cho đến sáng tạo, trò chơi chỉ có thể mang lại kết qủa theo ý muốn thì đều có sự tham gia của trí tưởng tượng. Tưởng tượng không chỉ là một trong những năng lực của hoạt động nhận thức và đó cũng là năng lực đặc trưng của họat động sáng tạo.
Vai trò của tưởng tượng được thể hiện trong tất cả các cấp độ, các hình thức của họat động sáng tạo, nhưng đối với nghệ thuật thì đặc điểm của trí tưởng tượng đã xuất hiện trong qúa trình sáng tạo của nghệ sỹ và được thể hiện ở tác phẩm nghệ thuật. Đến lượt nó, công chúng nghệ thuật khi cảm thụ tác phẩm nghệ thuật lại phát triển năng lực sáng tạo cho trí tưởng tượng, trở thành cội nguồn mạnh mẽ của qúa trình tích lũy nhưng năng lựợng xã hội trong hoạt động sáng tạo của con người.
d. Chức năng giáo dục
Chức năng giáo dục của nghệ thuật trước hết là giáo dục thẩm mỹ. Đó là quá trình nâng cao năng lực thẩm mỹ của mỗi con người trong đó có việc bồi dưỡng các cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ. Xây dựng những tình cảm lành mạnh, trong sáng, mạnh mẽ để con người có thể phân biệt rạch ròi giữa cái cũ – cái mới, giữa cái xấu – cái đẹp là công việc trọng tâm của giáo dục thẩm mỹ. Vì vậy, chức năng giáo dục của nghệ thuật chủ yếu thể hiện ở những nội dung sau đây:
- Giáo dục các quan điểm thẩm mỹ đúng đắn, khoa học và tiến bộ.
- Giáo dục khả năng cảm thụ, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật.
- Giáo dục các xúc cảm thẩm mỹ trong sáng và tốt đẹp dựa trên hệ tiêu chí cơ bản: chân thiện mỹ.
- Giáo dục các thị hiếu lành mạnh trong việc giải quyết mối quan hệ giữa thị hiếu cá nhân – xã hội.
- Giáo dục lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp và lý tưởng xã hội chân chính.
- Giáo dục hoàn thiện các quan hệ xã hội thông qua giáo dục chính trị – tư tưởng, đạo đức trong tình yêu, tình bạn, tình đồng nghiệp, tình đồng chí, quan hệ cá nhân – tập thể – dân tộc – tổ quốc.

e. Chức năng giải trí của nhệ thuật. 
Chức năng này được thể hiện trong trong tất cả các loại hình, loại thể của nghệ thuật, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần, nhu cầu thẩm mỹ của con người về các phương điện khác nhau của đời sống văn hóa. Đặc biệt, trong các loại hình nghệ thuật có tính chất giải trí, như hài, thể thao, lễ hội văn hóa…
Chủ thể tiếp nhận những giá trị nghệ thuật, ngoài tính tư tưởng, tính nghệ thuật phần còn lại đáp ứng nhu cầu giải trí. Nhu cầu đó thực chất là nhu cầu văn hóa ở tính đa dạng, phong phú mà nghệ thuật có thể bù đắp những khoảng trống về mặt tâm hồn, áp lực của cuộc sống để nâng đỡ, định hướng những giá trị xã hội của nghệ thuật trong đời sống văn hóa của con người. Đó là những giá trị chân thiện mỹ…
Chức năng giải trí của nghệ thuật, không đơn thuần chỉ là giải trí thuần túy, mà thông qua chức năng này con người có khả năng nhận thức, đánh giá, sáng tạo... khi cảm thụ các giá trị của nghệ thuật...


[1] Có một số giáo trình mỹ học hiện nay khi phân tích các chức năng của nghệ thuật chủ yếu được phân tích ở các chức năng thẩm mỹ của nghệ thuật. Nhưng thực ra chức năng của nghệ thuật phải được nghiên cứu rộng rãi hơn nhiều trong toàn bộ đời sống tinh thần của con người kể cả chức năng cải tạo hiện thực của nó.