Chiêm nghiệm, tiếng nói thầm kin ở mỗi con người trong hành trình cuộc đời mà mấy ai bày tỏ? Đôi khi được bày tỏ có thể là những tiếng tiếng thở dài khôn nguôi của sự nuối tiếc. Và cũng có thể là tiếng hát của một bản tình ca muôn thuở.
Sự mơ hồ trong nét thể hiện của người mẫu, sự lạ thường của thành phần nửa khuôn mặt cùng kỹ thuật vẽ đầy điêu luyện của đại danh họa Leonardo da Vinci trong bức tranh Mona Lisa đều gây tò mò cực đại cho giới học giả 500 năm kể từ ngày Nàng 'ra đời'. Tất cả đó đều gắn liền với hai từ "bí ẩn".
Những bí ẩn trong bức họa Mona Lisa
Đại danh họa người Ý Leonardo da Vinci (1452 – 1519) được công nhận là một thiên tài toàn năng của thế giới. Ông cũng nổi tiếng là một người rất bí hiểm, ông thường dùng biểu tượng trong tác phẩm để gửi đi thông điệp.
Bức tranh nàng Mona Lisa của Leonardo da Vinci của ông chính vì thế đã tạo cảm hứng cho rất nhiều nhà phân tích, từ nghệ thuật tới khoa học, từ phân tích quang học tới phân tích tâm lý học.
Bức họa Nàng Mona Lisa của Da Vinci.
Đến nay, sau 500 năm kể từ ngày ra đời, người ta đã khám phá ra 8 bí ẩn trong bức họa. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa hiểu hết được dụng ý của Da Vinci.
"Nếu bạn đứng trước một hình ảnh to lớn của Mona Lisa, bạn sẽ hiểu tức thì vì sao nàng lại nổi tiếng như vậy. Đó là thứ mà bạn phải nhìn tận mắt", kỹ sư người Pháp Pascal Cotte nhận định.
Mật mã ẩn trong đôi mắt
Theo phát hiện mới nhất của các nhà nghiên cứu Italia, trong mắt nàng Mona Lisa có chứa nhiều con số và chữ cái nhỏ xíu.
“Ở mắt phải của Mona Lisa có ký tự LV, rất có thể đó là tên viết tắt của Leonardo da Vinci. Còn mắt trái cũng có ký tự nhưng chưa xác định được đó là chữ CE hay B. Ở vòm mắt có số 72, hoặc L và số 2. Bức tranh này đã gần 500 năm tuổi rồi nên không còn sắc nét nữa” – ông Silvano Vinceti, Chủ tịch Ủy ban Di sản văn hóa quốc gia Italia cho biết.
Nụ cười bí ẩn
Theo các nhà nghiên cứu, Leonardo Da Vinci đã sử dụng kỹ thuật ông tự học"Sfumato" để pha trộn các chất màu sơn, đặc biệt là xung quanh các góc của mắt và miệng nàng Mona Lisa.
Kỹ thuật này được cho là đã tạo ra một ảo giác về "nụ cười bí ẩn" cho nàng Mona Lisa.
Theo đó, khi người xem chú ý vào đôi mắt nàng, họ vẫn có thể thấy nàng đang cười qua trường mắt. Tuy nhiên, chỉ một khoảnh khắc nhìn xuống làn môi, nụ cười... dường như tan biến.
Cảm xúc trên gương mặt Mona Lisa
Năm 2005, để đánh giá trạng thái cảm xúc của khuôn mặt nàng Mona Lisa, các nhà khoa học thuộc trường Đại học Amsterdam (Hà Lan) phối hợp cùng các học giả trường Đại học Illinois (Mỹ) đã tính toán gương mặt Mona Lisa trên góc độ khoa học hơn.
Theo đó, gương mặt nàng hiện lên 83% hạnh phúc, 9% chán ghét, 6% sợ hãi, tức giận 2%, ít hơn 1% trung tính và 0% ngạc nhiên.
Tỉ lệ vàng trên khuôn mặt Mona Lisa
Trong toán học và nghệ thuật, hai đại lượng được gọi là có "tỷ lệ vàng" nếu tỷ số giữa tổng của các đại lượng đó với đại lượng lớn hơn bằng tỷ số giữa đại lượng lớn hơn với đại lượng nhỏ hơn.
Từ bức tranh, ta có thể thấy khuôn mặt nàng Mona Lisa nằm gọn trong một hình chữ nhật vàng và cấu trúc phần còn lại của bức tranh cũng cấu trúc theo một vòng xoắn ốc vàng.
Mona Lisa có lông mày và lông mi
Năm 2007, theo kết quả cuộc nghiên cứu mới nhất của kỹ sư Pascal Cotte người Pháp, bức họa Mona Lisa không phải là không có lông mày và lông mi như nhiều người vốn nghĩ.
Sau khi quét (scan) bức tranh bằng máy ảnh Multi-spectral 240-megapixel do ông tự thiết kế, trong đó sử dụng 13 dải sóng từ tia tử ngoại cho tới hồng ngoại, ông phát hiện đôi mắt của Mona Lisa có nét khác.
Bức ảnh cận cảnh về đôi mắt trái của Mona Lisa làm lộ ra một nét bút lông trên vùng lông mày của nàng. Sau khi phát hiện điều này, người ta vẫn chưa thể tìm ra dụng ý mà Da Vinci muốn 'nói' khi ẩn dấu nét vẽ về bộ lông mày và lông mi của nàng.
Mona Lisa là người đang mang thai
Chuyên viên Bruno Mottin, thuộc Trung tâm nghiên cứu và phục chế các bảo tàng của Pháp (C2RMF), cho biết trang phục của Mona Lisa mang rất nhiều điểm nghi vấn.
Với phương pháp chụp phản xạ hồng ngoại, bí mật này được vén lên một cách không ngờ: đó là kiểu áo để lộ đôi vai trần. Và có những mảnh voan rất mỏng phủ bên ngoài chiếc áo này, phủ nhẹ lên bờ vai trái và luôn cả phần lưng ghế.
Ngoài ra, mảnh voan cũng dường như được may ghép với phần viền trên cổ áo thêu rất khéo và được khoác lên như một lớp áo mặc ngoài.
Đến đây thì mọi chuyện khá rõ ràng: kiểu trang phục này rất thịnh hành vào thời Phục hưng - một kiểu áo cánh dành cho trẻ em và cả phụ nữ đang mang thai hoặc vừa mới sinh con.
Bác sĩ người Anh Kenneth Kill cũng nhận định, trong bức tranh của danh họa thời Phục hưng đã truyền tải trạng thái mãn nguyện của người phụ nữ đang mang thai.
Bí ẩn trong đôi tay Mona Lisa
Một trong những câu hỏi hóc búa khác nữa trong họa phẩm này là vị trí của cánh tay phải, nằm ngang dưới bụng nàng. Đây là lần đầu tiên có một họa sĩ đặt cánh tay và cổ tay của người mẫu ở vị trí như vậy.
Cotte phát hiện thấy màu vẽ ở ngay dưới cổ tay phải hoàn toàn khớp với màu lớp vải phủ đầu gối nàng. Vì vậy điều này hoàn toàn có nghĩa: cánh tay và cổ tay nàng đỡ một tấm chăn.
"Cổ của cánh tay phải ở ngay trên bụng. Nhưng nếu bạn nhìn kỹ trong ánh sáng hồng ngoại, bạn sẽ hiểu rằng nàng đã đỡ một tấm chăn phủ bằng cổ tay mình", Cotte nói.
Mặc dù phát hiện ra điều này, nhưng kỹ sư người Pháp vẫn chưa hiểu thông điệp mà Da Vinci muốn nói là gì.
Hình ảnh động vật xuất hiện phía sau nàng Mona Lisa
Theo các chuyên gia, nếu nối hoàn chỉnh những nét vẽ trong khung cảnh phía sau nàng Mona Lisa và xoay 1 góc thích hợp, chúng ta có thể thấy hình ảnh đầu con trâu, đầu sư tử và khỉ.
Hình ảnh đầu khỉ phía sau Mona Lisa
Hình ảnh đầu sư tử phía sau Mona Lisa
Hình ảnh đầu trâu phía sau Mona Lisa
Nhiều người còn tin rằng còn có một con cá sấu hoặc một con rắn ẩn trên tay trái của nàng Mona Lisa.
Cho đến nay, sự mơ hồ trong nét thể hiện của người mẫu, sự lạ thường của thành phần nửa khuôn mặt... chính là yếu tố góp phần vào sức mê hoặc của bức tranh suốt hàng trăm năm qua.
Bức
ảnh nổi tiếng nhất của cựu phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính đang
là chủ đề tranh cãi lan rộng trên thế giới về tính chân thực của thể
loại ảnh báo chí.
Visa pour I’Image Perpignan là
festival nhiếp ảnh báo chí lớn nhất thế giới tổ chức hằng năm ở thành
phố Perpignan, miền nam nước Pháp.
Năm 2014, các cựu phóng viên chiến
trường Việt Nam gồm Đoàn Công Tính, Mai Nam, Chu Chí Thành, Hứa Kiểm đã
được mời tham dự sự kiện này.
Trong đó bức ảnh bộ đội Trường Sơn đu
dây vượt thác của nhà nhiếp ảnh Đoàn Công Tính đặc biệt gây ấn tượng ở
festival. Tờ The New York Times của Mỹ đã chọn bức ảnh làm tiêu điểm cho
loạt ảnh giới thiệu về ảnh chiến trường Việt Nam tại Perpignan.
Tiếp theo tiếng vang của festival, vào
giữa tháng 4-2015 ban tổ chức Visa pour I’Image Perpignan tiếp tục giới
thiệu triển lãm này tại Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội. Bức ảnh bộ đội
đu dây của nhiếp ảnh gia Đoàn Công Tính một lần nữa được chọn in poster
chính cho triển lãm.
Trên mạng lan truyền hai bức ảnh với
những chi tiết khác nhau được các nhiếp ảnh gia, nhà nghiên cứu...so
sánh. Bên trái là bức ảnh của ông Đoàn Công Tính in trong sách ảnh
Khoảnh khắc năm 2001. Bên phải là bức ảnh được giới thiệu tại Festival
Visa pour l'Image Perpignan 2014.
Bất ngờ bùng nổ tranh cãi
Tuy nhiên, hiện các nhà nhiếp ảnh, nhà
nghiên cứu... trên thế giới đang tranh luận về tính chân thực của bức
ảnh. Họ gây áp lực lên ban tổ chức Visa pour I’Image Perpignan đề nghị
giải thích, đồng thời thông báo đến các tờ báo từng đăng tải bức ảnh
này.
Trên trang blog cá nhân, nhà nhiếp ảnh
Đan Mạch Jorn Stjerneklar đã kể lại câu chuyện ông gặp nhà nhiếp ảnh
Đoàn Công Tính thế nào.
Vào một ngày cuối tháng 4-2015, ông cùng
một nhà báo nữ Đan Mạch khác là Helle Maj đến gặp nhà nhiếp ảnh Đoàn
Công Tính tại nhà riêng để thực hiện loạt bài phỏng vấn về các nhà nhiếp
ảnh chiến trường.
Khi tác giả Đoàn Công Tính đưa cho ông
quyển sách ảnh Khoảnh khắc của Đoàn Công Tính in năm 2001, Stjerneklar
phát hiện ở trang thứ 162, bức ảnh bộ đội Trường Sơn đu dây khác hẳn bức
ảnh ông thấy tại festival Visa pour I’Image Perpignan 2014.
Theo tường thuật của Stjerneklar, khi
ông hỏi tác giả tại sao hai bức ảnh lại khác nhau, ông Đoàn Công Tính đã
nhìn xuống và giải thích rằng do phim gốc bị hư nên có sự can thiệp
trên.
Stjerneklar kể về ấn tượng của ông khi
lần đầu tiên nhìn thấy bức ảnh ở Pháp năm 2014: “Nó là một biểu tượng.
Không gì khác hơn nữa!”.
Nhưng khi nghe lời giải thích của Đoàn
Công Tính ở nhà riêng một năm sau, cảm giác của Stjerneklar là: “Giây
phút đó tôi như người thuộc thế giới khác!”.
Những so sánh về những điểm giống nhau,
khác nhau của hai bức ảnh cũng lan đi trên mạng xã hội với nhiều cảm
giác sững sờ, kinh ngạc của những người từng hâm mộ bức ảnh trên thế
giới.
Tờ The New York Times sau đó đã gỡ bức
ảnh xuống kèm theo lời giải thích của ban biên tập. Tác giả, nhà nghiên
cứu thể loại ảnh chiến trường David Campbell (Mỹ) cũng tung lên một bài
viết dài với sự nghiên cứu của các đồng nghiệp, trong đó có cả câu
chuyện của Stjerneklar.
Dường như các ý kiến của David Campbell,
Stjerneklar đều không chủ ý buộc tội nhà nhiếp ảnh Đoàn Công Tính.
Nhưng họ chỉ trích và gây sức ép gay gắt lên ban tổ chức festival Visa
pour I’Image Perpignan 2014.
Họ đặt vấn đề trách nhiệm tuyển chọn vì
festival ảnh báo chí lớn nhất này có tiêu chí là không chấp nhận ảnh sắp
đặt, sao lại để “vuột” một vụ mà họ gọi là xìcăngđan lớn như thế!
Bức ảnh đẹp là sản phẩm... Photoshop
Trao đổi với nhiếp ảnh gia Đoàn Công
Tính, ông thừa nhận có buổi gặp gỡ với nhà nhiếp ảnh Đan Mạch Jorn
Stjerneklar và nhà báo Helle Maj tại nhà riêng hồi cuối tháng 4-2015.
Ông cũng xác nhận đã giải thích với
Stjerneklar rằng do phim gốc không đạt chất lượng nên ông phải nhờ kỹ
thuật Photoshop để tạo nên bức ảnh trên.
Đoàn Công Tính giải thích rõ hơn rằng do
phim gốc không đạt chất lượng nên ngay trong thời chiến tranh ông đã
không gửi đi đâu mà cất giữ ở nhà.
Sau này ông lấy ra, đem đến phòng lab
nhờ họ dùng kỹ thuật Photoshop để tạo thêm phông nền là thác nước để
hoàn chỉnh bức ảnh. Cả bức ảnh của năm 2002 và 2014 đều là kết quả của
hai lần Photoshop khác nhau.
“Vì bức ảnh này không nổi tiếng nên tôi
lưu trong đĩa cùng hàng trăm bức ảnh khác chỉ để chơi cá nhân. Đến khi
ông Patrick Chavel - người tuyển chọn của Festival Visa pour I’Image
Perpignan 2014 - đến thì tôi đưa họ luôn cái đĩa. Vì không trực tiếp gửi
ảnh nên tôi không biết là họ chọn bức ảnh này!” - Đoàn Công Tính cho
hay.
Trước đây, Đoàn Công Tính được nhiều lần mời ra nước ngoài triển lãm ảnh chiến tranh nhưng ông chưa hề đem theo bức ảnh này.
Tác giả cũng giải thích ngoài việc in
trong quyển sách ảnh Khoảnh khắc xuất bản năm 2001, bức ảnh này chưa hề
được công bố trên báo chí trước Festival Visa pour I’Image Perpignan
2014.
Nhưng trước những tranh cãi hiện nay do
bức ảnh mang lại, tác giả của bức ảnh nổi tiếng Nụ cười thành cổ Quảng
Trị đã bày tỏ sự tiếc nuối: “Khi sự việc xảy ra, người đại diện của
Festival Visa pour I’Image Perpignan 2014 có đến đây đặt vấn đề tôi sẽ
giải thích thế nào. Tôi cũng giải thích hoàn toàn như vậy. Tuy nhiên, vì
những sai sót cá nhân của mình mà khiến họ bị lôi vào sự việc xôn xao
hiện nay, tôi cũng đã gửi lời xin lỗi”.
Lời xin lỗi vì những sơ suất đã được gửi
đi nên bài học khi “chơi” với thế giới càng là một kinh nghiệm nhớ đời,
không chỉ cho riêng một người.
Mở
tivi xem phim Việt cả nhà cùng xem, các bậc phụ huynh không kịp tắt vì
cảnh nóng quá nhiều, quá nóng, trong khi con cái chưa đủ tuổi trưởng
thành. Các nhà làm phim bất chấp nghệ thuật, cứ cởi áo và lên giường,
cởi đồ đi tắm, một kiểu làm nghệ thuật vô cùng thảm bại.
Phim
ảnh tất nhiên có yếu tố sex, nhưng “ngôn ngữ” sex không thô bạo theo
kiểu “chuông reo là cởi” như phim Việt. Diễn viên cũng quá dễ dãi, càng
cởi càng thích. Khỏi cần học nghề diễn, cứ mạnh dạn đóng phim như phim
sex là được. Người xem có nghề không hiểu cảnh giường chiếu đó phục vụ
cho nội dung gì ngoài mục đích sex để câu khách.
Nhiều “hot boy”, “hot girl” tự chụp ảnh
khỏa thân rồi tung lên mạng để gây sự chú ý hoặc khoe thân. Nếu được mời
đi đóng phim, đạo diễn bảo cởi thì càng trúng ý. Cách để nổi tiếng
trong giới giải trí bây giờ không cần tài năng, mà bằng những chiêu PR
rẻ tiền như vậy.
Phim không cần nội dung hay, không cần
lời thoại sâu sắc, không cần ngoại cảnh hoành tráng. Chỉ cần giường
chiếu, phòng tắm, xe hơi và căn biệt thự với một số chân dài là đủ. Ai
cũng có thể trở thành diễn viên chính, miễn là chân dài và có chút ồn ào
tai tiếng trong làng giải trí.
Mới đây, giới “nghệ thuật” sốc vì Ngọc
Trinh chi 18 tỉ đồng để thực hiện bộ phim “Vòng eo 56” do cô viết kịch
bản. Bộ phim sẽ “chiếu” về cuộc đời của chính Ngọc Trinh. Đạo diễn cam
đoan sẽ cho ra lò tác phẩm nghệ thuật kể về cuộc đời của Ngọc Trinh với
những câu nói nổi tiếng như: “Không tiền cạp đất mà ăn”, “Yêu tôi tốn
kém lắm”, “Tôi giỏi nhất là làm gái ngoan”.
Người mẫu nội y này có tài hở hang và có
thân hình đẹp để sống bằng nghề của mình, nhưng viết kịch bản và đóng
phim thì quả là đe dọa nghệ thuật. Ngọc Trinh có tiền, bỏ ra để đóng
phim về mình và có sẵn fan hâm mộ đang sốt ruột chờ phim ra lò. Còn tác
phẩm đó chất lượng thế nào cũng chẳng ai quan tâm, người ta xem Ngọc
Trinh với những cảnh nóng bốc lửa chứ đâu phải xem phim.
Biết sao được, thị hiếu thẩm mỹ ngày nay
đang có vấn đề. Người ta thích bạo lực và tình dục thì các nhà làm phim
đáp ứng thị hiếu tầm thường đó thay vì nâng thẩm mỹ của cộng đồng lên
bằng lao động nghệ thuật để có những cuốn phim chất lượng thực sự.
Âm nhạc, phim đều ở tầm hàng chợ, cho
nên thẩm mỹ của công chúng đa số cũng dừng ở mức hàng chợ. Ngày 26.3,
tại sân bay Nội Bài, một số ca sĩ của các nhóm nhạc Hàn Quốc như ShINee,
SISTAR, EXO hay Apink phải một phen sướng ngất khi chứng kiến fan Việt
ra đón “thần tượng”. Có những fan nữ lăn đùng ra khóc ngất vì hạnh phúc
khi thấy được tận mắt thần tượng của mình. Thật không hiểu nổi.
Càng không hiểu nổi một điều: Thị hiếu thẩm mỹ thấp đẻ ra những bộ phim rẻ mạt.
Hay vì loại nghệ thuật rẻ mạt sinh ra lớp công chúng có thẩm mỹ thấp như hiện nay.
Chỉ
sau 2 ngày chia sẻ clip con gái đang nhảy trên nền ca khúc Respect của
danh ca Aretha Franklin lên Facebook, clip của bà mẹ tên Elissa Colón ở
North Carolina (Mỹ) có gần 34 triệu lượt người xem
Quan niệm triết học mácxít khẳng định hoạt động sáng tạo là một năng lực, phẩm chất của con người đóng vai trò chủ thể của lịch sử. Năng lực và phẩm chất của con người rất đa dạng và phong phú, thể hiện trong hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn, như năng lực trí tuệ, thể chất, chuyên môn, v.v... hoặc các phẩm chất như chính trị, đạo đức, khoa học, thẩm mỹ, v.v...
Cơ sở lý luận về hoạt động sáng tạo của quan điểm mácxít đều xuất phát từ lý luận chung về con người, và bản chất của con người. Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph. Ăngghen viết : “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”[1]. Đồng thời lao động còn là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau căn bản giữa hoạt động bản năng của động vật với hoạt động sáng tạo của con người. Điều đó cũng đã được Ph. Ăngghen khẳng định: “Hàng chục vạn năm, - thời gian này trong lịch sử trái đất cũng tương đương như một giây đồng hồ trong một đời người - đã trôi qua, trước khi xã hội loài người xuất hiện từ đàn vượn leo trèo trên cây...giữa đàn vượn và xã hội loài người có sự khác nhau đặc biệt gì ? Đó là lao động... Lao động bắt đầu cùng với việc chế tạo công cụ”[2].
Như vậy, theo Ph. Angghen, hoạt động sáng tạo hiểu theo nghĩa rộng nhất gắn liền với hoạt động đầu tiên của con người là hoạt động sản xuất vật chất, về bản chất là hoạt động sáng tạo ra công cụ, và công cụ có nghĩa là sản phẩm chỉ riêng của con người. Hoạt động sáng tạo bao gồm những dấu hiệu đặc trưng:
Trong tính cụ thể của hoạt động sáng tạo phải có yếu tố của cái mới. Điều đó có nghĩa là, sáng tạo là một nhu cầu vừa mang tính chủ quan và vừa mang tính khách quan của con người. Cái mới, không chỉ thể hiện trong mối quan hệ với cái cũ, mà nó thể hiện như một quá trình của hoạt động sáng tạo, như là cái mang tính dự báo, cái khẳng định, cái thay thế cái cũ và đồng thời là tiêu chuẩn của mọi sự phát triển.
Trong tính cụ thể của hoạt động sáng tạo là tính độc đáo của cái mới, của những ý tưởng, làm cơ sở cho sự xuất hiện của những giải pháp mới, dưới những hình thức nào đó mà nó có khả năng thực hiện được những nhiệm vụ trong hoạt động nh. Tận thức và thực tiễn nói chung của con người. Tính độc đáo của cái mới không chỉ là một phát kiến trong ý tưởng thuần túy, mà là ý tưởng xuất hiện bởi tính mục đích và nhu cầu có tính khách quan mà về nguyên tắc con người có thể thực hiện được trong thực tế. Đó là sựxuất hiện tình huống có vấn đề và việc tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết những tình huống đó dưới nhiều hình thức khác nhau.
Hoạt động sáng tạo trong tính cụ thể phải dẫn đến hiệu qủa hoạt động và chất lượng sản phẩm cao hơn, hoàn thiện hơn. Nhưng hoạt động sáng tạo thể hiện như thế nào trong hoạt động nhận thức, xét về tính mục đích, phương pháp thao tác và ứng dụng nó?
Trước hết, cần xác định vị trí của tư duy sáng tạo trong hoạt động nhận thức nói chung của con người. Lẽ tất nhên, tư duy sáng tạo không đồng nhất với toàn bộ quá trình nhận thức và cũng không thể là một hình thức phản ánh đơn cực mà nó được thể hiện như một quá trình bao gồm những liên kết thành một chuỗi những hình thái tâm lý sáng tạo khác nhau. Trong đó, về cơ bản cơ chế hoạt động bao gồm: Cảm xúc sáng tạo – ý tưởng sáng tạo – hành động sáng tạo.
1. Cảm xúc sáng tạo được hiểu như một nhu cầu tự thân, trỗi dậy với niềm đam mê sáng tạo được nảy sinh từ những tình huống có vấn đề đặt ra cho chủ thể sáng tạo những cảm hứng, tạo nguồn cảm ứng mãnh liệt, v.v…
2. Tư duy sáng tạo, đó là những ý tuởng sáng tạo có thể nảy sinh từ những cảm xúc sáng tạo trực tiếp như đã nói ở trên hoặc đã được nung nấu từ lâu trong ý đồ sáng tạo của chủ thể sáng tạo dưới hình thức định hướng căn bản,
3. Hành động sáng tạo, đó là nhu cầu sáng tạo phải được thực hiện bằng những công việc cụ thể thể hiện ý tưởng sáng tạo thành tư duy lôgíc hay hiện vật, vật chất hoá tư tưởng sáng tạo. Hành động sáng tạo, dẫn đến kết quả của hoạt động sáng tạo luôn được xem xét ở thái độ sáng tạo của chủ thể. Đó là nhu cầu thoả mãn sự sáng tạo theo hai khuynh hướng chính là mục đích hưởng thụ hay cống hiến; nhưng nhìn chung nó nhằm thoả mãn nhu cầu sáng tạo trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nóin chung của con người.
Tư duy sáng tạo rất đa dạng, phong phú, bởi nó bao gồm tính đa chiều của nhiều loại hình phản ánh khác nhau trong hệ thống phức tạp của hoạt động nhận thức. Vấn đề quan trọng trong hệ thống đó có bao nhiêu loại tư duy cơ bản, mà thiếu nó thì không thể hiểu được nguồn gốc, bản chất và tính qui luật trong hoạt động nhận thức.
Nhiều công trình nghiên cứu về tâm lý học sáng tạo trong những năm gần đây của khoa học tâm lý, đã chỉ ra các hình thức biểu hiện và cơ cấu vận động của các loại tư duy căn bản, mà trong đó tư duy sáng tạo như một tích hợp những loại tư duy căn bản của con người. Vậy có bao nhiêu loại tư duy căn bản và tư duy sáng tạo là tích hợp của nó được thể hiện như thế nào?
Thật khó có thể trình bày một cách đầy đủ về các loại tư duy, mặc dầu trong tính hệ thống của nó người ta vẫn có thể xác định được vị trí và vai trò của của từng loại tư duy trong hoạt động nhận thức nói chung của con người; nhưng về cơ bản chúng ta có thể nêu lên những loại tư duy căn bản sau:
1. Tư duy lôgíc;
2. Tư duy thuật toán;
3. Tư duy hình tượng;
4. Tư duy ngôn ngữ;
5. Tư duy biện chứng;
6. Tư duy khoa học;
7. Tư duy kỹ thuật;
8. Tư duy kinh tế;
9. Tư duy mặc tưởng, v.v…
Hoạt động sáng tạo là một thuộc tính chung của hoạt động con người, chứ không phải chỉ là hoạt động khoa học và càng không qui giản về hoạt động nghệ thuật. Lẽ tất nhiên, hoạt động sáng tạo khoa học và nghệ thuật là những hình thức cao nhất của hoạt động con người trong đó, sáng tạo nghệ thuật là hình thức hoạt động đặc thù loại biệt.
Từ lâu con người đã biết đến các khả năng dự báo, các tố chất kích thích và các định hướng do nghệ thuật mang lại đối với hoạt động sáng tạo của con người. Bởi vì, nghệ thuật với khả năng gợi mở của nó đã làm phát triển các năng lực trực tiếp của hoạt động sáng tạo. Đó là những năng lực cảm hứng, tưởng tượng và trực giác, phát hiện... Thực ra, vai trò của nghệ thuật đối với hoạt động sáng tạo còn có thể nghiên cứu ở nhiều phương diện khác như : nghệ thuật như là môi trường của hoạt động sáng tạo, nghệ thuật như là hình thức đặc thù của hoạt động sáng tạo.
[1] C. Mác & Ph. Angghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 215.
Để xây dựng một nền nghệ thuật mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta luôn chủ trương coi nghệ sỹ là chiến sỹ trên mặt trận văn nghệ phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nước. Nhưng để cho nghệ thuật đáp ứng được những yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng hiện nay và để cho nghệ sỹ – chiến sỹ thực hiện được hoài bão của mình thì phải phát huy mọi nguồn lực và mọi khả năng sáng tạo của hoạt động nghệ thuật.
Sáng tạo nghệ thuật luôn gắn liền với tự do sáng tác. Tự do sáng tác, trước hết là tự do sáng tạo của người nghệ sỹ, của nhà phê bình lý luận và cả của công chúng trong thưởng thức tác phẩm nghệ thuật. Đó là cảm hứng của sự tìm tòi, khám phá cái mới của nhà nghệ sỹ; là sự cảm nhận những cảm xúc thẩm mỹ chân thực khi nhận định, đánh giá nghệ thuật của nhà lý luận phê bình; là sự lựa chọn tiếp nhận thưởng thức của công chúng đối với tác phẩm nghệ thuật. Cho nên, giải phóng và phát huy mọi khả năng sáng tạo, thực chất là vấn đề tự do thực sự cho nghệ thuật, xét cả phương diện bên trong và bên ngoài nghệ thuật.
Tự do vốn là điều kiện khởi điểm của sáng tạo. Hẳn không phải ngẫu nhiên trong những năm đầu của sự nghiệp đổi mới, hai chữ “cởi trói đã được nêu lên như một nhu cầu hàng đầu đối với sáng tạo nghệ thuật. Nghệ thuật truyền thống từng bị ràng buộc bởi hệ thống các qui phạm xã hội, những khuôn mẫu kinh nghiệm và nhưng chuẩn mực bất biến về giá trị. Nghệ thuật cách mạng trước thời kỳ đổi mới và hiện nay ở một mức độ nhất định vẫn bị hạn chế bởi truyền thống, bởi những định hướng chính trị – xã hội – đạo đức nghiêm ngặt và giáo điều đang cản trở qúa trình xây dựng một nền nghệ thuật tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, mà thực chất là một nền nghệ thuật cách mạng phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân ta. Do những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhất là trong thời kỳ chiến tranh, với những yêu cầu chính trị – xã hội nhất định mà nghệ thuật phải tập trung giải quyết những vấn đề thực tiễn bức xúc. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, ở một mức độ nhất định trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật một thời gian dài ngoài sức nạng của truyền thống cũng có những “vùng cấm”, làm cho các nghệ sỹ có phần e ngại và kiêng kỵ, không được thật sự bộc bạch tâm tư, nguyện vọng của mình vào tác phẩm.
Khi yêu cầu về tự do sáng tạo và “cởi trói” được đặt ra thì sự đa dạng trong suy nghĩ và sự tìm kiếm về tư tưởng trong nghệ thuật như một nhu cầu khách quan của sự phát triển nghệ thuật. Nhưng hiện nay yêu cầu về tự do sáng tạo gắn liền với việc khẳng định vai trò cá nhân, - tức là cá nhân được giải phóng, nhưng sự giải phóng này đòi hỏi trách nhiệm xã hội cao của nhà nghệ sỹ, đồng thời sự trưởng thành của công chúng khiến cho việc cảm thụ, đánh giá những tác phẩm nghệ thuật hiện nay và soi xét lại qúa khứ không thể theo quan niệm và phương pháp cũ. Cố nhiên, cũng không thể ngây thơ đòi hỏi hoặc mặc nhiên khẳng định có một thứ tự do tuyệt đối như một ảo tưởng của một số người theo cách hiểu của chủ nghĩa duy mỹ trong nghệ thuật. Bởi vì, chẳng có nghệ thuật nào không phục vụ cho một mục tiêu chính trị – xã hội nhất định. Nhưng cũng phải thấy rằng so với thời kỳ trước đổi mới, nghệ thuật Việt Nam hôm nay đã có những bước tiến vững vàng và được thể hiện được không khí tự do sáng tạo; người nghệ sỹ được giải phóng mình, tự do tìm tòi sáng tạo cả trong chủ đề lẫn trong phương pháp sáng tác. Tuy nhiên, kết qủa sáng tạo không chỉ phụ thuộc vào cơ chế dân chủ và tự do sáng tạo, mà phần đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng tác phẩm là năng lực sáng tạo của nghệ sỹ. Cho nên vấn đề đáp ứng yêu cầu dân chủ hóa xã hội, tăng cường nguồn lực, phương tiện cho sáng tạo, phải gắn liền với vấn đề phát hiện năng khiếu, đào tạo bồi dưỡng nhân tài.
Sáng tạo nghệ thuật với tư cách là một phương thức diễn đạt cá nhân không chỉ là tính đặc thù của sáng tạo nghệ thuật, mà còn là tính đặc thù của phong cách sáng tạo của cá nhân người nghệ sỹ.Bởi vậy, đào tạo bồi dưỡng nhân tài trước hết phải phát hiện năng khiếu cá nhân và năng khiếu đó phải được chăm sóc và đào tạo. Có thể nói, trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, đã có nhiều trường (có các trường năng khiếu) âm nhạc, mỹ thuật, trại viết, sân khấu, điện ảnh, v.v. cũng nhằm đào tạo bồi dưỡng nhân tài. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để có một chính sách đãi ngộ thích ứng với việc đào tạo, nhằm khuyến khích tinh thần trách nhiệm của người học và người dạy.
Có một thực tế là, không ít tác phẩm nghệ thuật mặc dầu có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước nhưng không đứng vững lâu dài với thời gian,. Bởi những hoàn cảnh lịch sử, trong điều kiện chiến tranh ác liệt, chúng ta vừa phải động viên sức người, sức của cho chiến trường; lại vừa chưa có kinh nghiệm trong việc nhận chân giá trị của tác phẩm, cũng như bị “trói buộc” bởi những “khuôn mẫu” của những kinh nghiệm trực tiếp. Đã đến lúc phải đề cao cá tính và thiên hướng trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi cá nhân người nghệ sỹ, gắn họ với qúa trình xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vì một tinh thần nhân văn cao cả trong một thời đại mà khoa học – công nghệ đã bước vào một kỷ nguyên mới, - kỷ nguyên trí tuệ. Điều đó không dẫn đến việc khước từ mọi thành qủa của nghệ thuật trước đây, mà cái chính là nghệ thuật hiện đại Việt Nam ngày nay đang giao lưu mạnh mẽ với thế giới bên ngoài, buộc bản thân người nghệ sỹ phải tự đào tạo nâng cao tài năng của mình để phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp đổi mới đất nước.
Trong đời sống nghệ thuật trước đây và cả hiện nay vẫn tồn tại khuynh hướng minh họa và truyền đạt một cách sơ lược cái hình thức bên ngoài của cuộc sống hiện thực, dường như có sự thiếu hụt những cảm xúc chân thành và thiên hướng dấu ấn cá tính trong sáng tạo của người nghệ sỹ.
Xây dựng một nền nghệ thuật tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ chú ý đến việc coi trọng năng khiếu và tài năng của người nghệ sỹ. Điều quan trọng hơn là có năng khiếu mà không được đào tạo, thì nghệ thuật chỉ đẻ ra những nghệ nhân, những người thợ hành nghề theo chủ nghĩa kinh nghiệm, chỉ có thể đáp ứng được phong trào văn nghệ quần chúng. Với nền nghệ thuật bác học, nghệ sỹ nhất thiết phải được đào tạo và việc tôn trọng cá tính, tạo điều kiện cho thiên hướng nghệ thuật phát triển lành mạnh là một yêu cầu phải được đầu tư thích hợp.
Đối với việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, ngoài những kiến thức cần thiết còn phải đặc biệt quan tâm, trân trọng năng lực tìm tòi, khám phá của người nghệ sỹ thông qua cá tính và thiên hướng nghệ thuật của họ. Các dấu ấn cá nhân người nghệ sỹ, các tên tuổi được dân tộc và nhân loại đề cao xưa nay, bao giờ cũng cũng xất phát là cá tính sáng tạo, gắn bó với thời đại mình. Phải chăng khả năng tìm tòi, khám phá hiện thực của người nghệ sỹ thể hiện trong tác phẩm càng có ý nghĩa thì bút pháp cá nhân càng thể hiện rõ. Về nét độc đáo này chúng ta dễ nhận thấy ở nhiều hiện tượng tài năng trong các dòng văn học dân tộc Việt Nam mọi thời đại như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Tuân, Nam Cao và Hồ Chí Minh, v.v…
Cá tính sáng tạo gắn liền với thiên hướng nghệ thuật. Cái lắng đọng nơi tâm hồn mỗi nghệ sỹ là cả một sở trường, một sự tâm đắc, một nỗi đam mê về một mảng hiện thực để họ sống với cái tự do sáng tạo của mình tạo thành thiên hướng. Căn cứ vào thiên hướng nghệ thuật gắn liền với cá tính của người nghệ sỹ, ta có thể gọi Xuân Diệu là nhà thơ tình yêu, Chế Lan Viên là nhà thơ trí tuệ, sự mổ xẻ mặt trái của xã hội trong lĩnh vực kịch là sở trường của Lưu Quang Vũ, khả năng chiếm lĩnh cái trong trẻo, muợt mà và chất đôn hậu trong hội họa là thuộc về Nguyễn Phan Chánh, v.v…
Người nghệ sỹ chân chính của bất cứ thời đại nào trong lịch sử phát triển của nghệ thuật các dân tộc cũng là những con người góp phần mang lại những giá trị của nền văn hóa của các dân tộc. Theo nghĩa chung nhất, để có thể hướng con người đến những giá trị chân – thiện – mỹ, thì cá tính và thiên hướng trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sỹ cũng nằm trong dòng chảy của định hướng văn hóa dân tộc và của thời đại.
Để đào tạo nghệ sỹ có tài năng, yêu cầu trước hết là phải có sự nâng niu, qúi trọng tài năng, dồn tâm sức vun đắp tài năng; chống khuynh hướng chèn ép tài năng, làm cho tài năng bị thui chột, chỉ vì thói hư danh, đố kỵ, ích kỷ và vụ lợi. Mặt khác, việc đào tạo nghệ sỹ không thể chỉ ở việc trang bị tư duy luân lý, mà phải đi sâu phát triển khả năng cảm thụ đối với tư duy hình tượng, làm như vậy để tránh biến những người có năng khiếu và tài năng nghệ thuật trở thành những cán bộ lý luận hoặc những nhà quản lý văn hóa đơn thuần.
Một vấn đề cũng rất quan trọng là việc sử dụng tài năng nhân tài. Trong mọi trường hợp giáo dục và đào tạo mới chỉ là một khâu, một mắt xích trong toàn bộ sự chuẩn bị cho hoạt động và phát triển của các tài năng. Vì vậy, việc tạo nguồn nhân lực cho tài năng cần có sự kết hợp và sự thống nhất giữa gia đình, nhà trường và xã hội, giữa việc đào tạo và việc sử dụng tài năng. Nhà trường có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tài năng, nhưng xã hội không dùng đến và dùng không đúng hoặc chưa phát huy hết khả năng vốn có của nhân tài cũng dẫn đến sự mai một các tài năng. Bởi vậy, việc phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng tài năng là một hệ thống nhất quán, cần phải có chính sách đúng đắn và có kế hoạch quản lý cụ thể của nhà nước.
Dưới góc độ xã hội hóa văn hóa trong hoạt động nghệ thuật, phải thiết lập một hệ thống pháp luật đủ để quản lý và bảo đảm cho nghệ thuật phát triển đa dạng, phong phú mà không gây nên sự hỗn loạn như trong một số ngành nghệ thuật như hiện nay. Quan trọng hơn là phải có luật hành nghề cho người sáng tác, nghiên cứu, phê bình, biểu diễn và kể cả cho người làm kinh tế xung quanh các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Pháp luật phải bảo vệ quyền lợi chân chính của người sáng tác chuyên nghiệp, của các nhà nghiên cứu để họ có thể sống được và sống tốt hơn với sản phẩm sáng tạo của chính mình. Pháp luật cũng phải bảo vệ tự do cho người sáng tạo trong việc tìm tòi, phát kiến cái mới, dù cái mới đó có thể chưa thật hoàn thiện, nhưng lại có ý nghĩa bước đột phá mang tính chất mở đường, định hướng và dự báo của sự phát triển nghệ thuật. Đồng thời, phải có cơ chế chống lại những hành động xấu một cách cố tình và ngăn chặn sự vu cáo không lành mạnh đã từng xẩy ra trong hoạt động nghệ thuật. Nhà nước cũng phải qui định rõ trách nhiệm của người quản lý trong việc sử lý sai dẫn đến thui chột các tài năng. Cố nhiên, trong việc đòi hỏi trách nhiệm của bản thân người nghệ sỹ và người có trách nhiệm quản lý, cũng cần chú ý làm sao cho các qui định của pháp luật không tự hạn chế tự do sáng tạo chân chính của người nghệ sỹ.
Vấn đề định hướng phát triển văn hóa – văn nghệ đã được Đảng ta quan tâm từ lâu. Từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, qua mỗi kỳ đại hội của Đảng và những bức thư gởi cho các văn nghệ sỹ, Đảng ta đã nêu ra những phương châm lớn định hướng cho sự phát triển văn hóa - nghệ thuật, nhằm giải quyết những yêu cầu và nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của mỗi giai đoạn, thời kỳ khác nhau của cách mạng Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới việc vạch ra và xây dựng cơ sở lý luận, ý nghĩa khoa học của những phương châm lớn, định hướng cho sự phát triển văn hóa - nghệ thuật nhằm mang lại những thành qủa to lớn cho hoạt động nghệ thuật. Việc định hướng phát triển nghệ thuật, một mặt xuất phát từ những định hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mặt khác xuất phát từ những yêu cầu về mặt chất lượng của các sáng tác nghệ thuật sao cho phù hợp với nội dung của thời kỳ chuyển tiếp của những giá trị tinh thần, thẩm mỹ truyền thống, bảo tồn và phát phát triển những giá trị truyền thống với qúa trình xây dựng nền nghệ thuật mới tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc làm lành mạnh làm phong phú đời sống tinh thần con người Việt Nam.
Một trong những vấn đề có tính định hướng chung nhất khi nghiên cứu vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh thần là phải gắn liền với qúa trình xây dựng và định hướng các giá trị tinh thần mới, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện hại hóa đất nước. Từ những định hướng chung cơ bản đó, phải thể hiện ra những giải pháp lớn vừa có ý nghĩa cấp thiết trước mắt và vừa có ý nghĩa lâu dài của phát triển nghệ thuật nhằm nâng cao và làm phong phú đời sống tinh thần con người Việt Nam. Định hướng cơ bản có tính nguyên tắc đầu tiên là tăng cường mối quan hệ giữa nghệ thuật với sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tăng cường mối quan hệ giữa nghệ thuật với sự nghiệp đổi mới đất nước.
Sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một giá trị, mà mục tiêu vươn tới giá trị đó là : dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn mính. Bởi vì nó không chỉ là sự phản ánh xu hướng phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại ngày nay mà còn là một khát vọng ngàn đời của dân tộc, của nhân dân, của Bác Hồ kính yêu và của Đảng ta. Cho nên, nói đến sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là nói đến một tập hợp những giá trị tổng quát có quan hệ chặt chẽ và ràng buộc với nhau, bản thân nó luôn bao hàm sự thống nhất giữa tính khách quan của sự phát triển kinh tế – xã hội và nguyện vọng chủ quan của nhân dân ta; giữa điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay và xu hướng phát triển tất yếu của thời đại.
Trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung và ở mỗi lĩnh vực của hoạt động tinh thần xã hội nói riêng, các chủ thể xã hội khác nhau đều có thể góp phần khẳng định, bảo vệ và xây dựng cũng như đẩy mạnh qúa trình hiện thực hóa những mục tiêu của sự nghiệp đổi mới đất theo tinh thần nghị quyết của Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta; xây dựng hệ giá trị cao đẹp nhất trong mọi giá trị của cách mạng Việt Nam hiện nay.
Nghệ thuật là một bộ phận khăng khít của sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo. Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa – văn nghệ là một mặt trận”, “Anh chị em là chiến sỹ trên mặt trận ấy”, cho nên cần phải nâng cao tính chiến đấu trong sáng tác, lý luận phê bình để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghệ thuật đã tham gia tích cực vào sự nghiệp đổi mới bằng việc phản ánh sôi động tính hiện thực của đất nước, xây dựng hình tượng sinh động con người Việt Nam trong đổi mới, nhằm khẳng định mạnh mẽ những nhân tố mới, những xu hướng tích cực trong cuộc sống, những giá trị cao đẹp của xã hội và kiên quyết phê phán những trở lực phát triển của đất nước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trên thực tế, trong sự nghiệp đổi mới đất nước đã có rất nhiều nguyên nhân khách quan tác động tiêu cực đến hoạt động nghệ thuật. Bên cạnh những tác động to lớn của kinh tế thị trường, mặt trái của nó cũng gây nên biến động lớn về tư tưởng, tình cảm của tầng lớp văn nghệ sỹ, làm xuất hiện những nhận thức lệch lạc về sự nghiệp cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, trong một thời gian dài về mặt chủ quan, chúng ta nhìn nhận cũng có những phiến diện nhất định về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật với hiện thực cuộc sống. Chủ nghĩa nhận thức luận thẩm mỹ có khuynh hướng đề cao những mặt hạn chế của truyền thống. Về “công tác nghiên cứu lý luận chưa được làm rõ nhiều vấn đề có liên quan đến văn hóa trong qúa trình đổi mới; trong việc xác định những giá trị truyền thống cũng như hệ thống giá trị mới cần xây dựng, trong việc xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, văn hóa và chính trị, văn hóa và và kinh tế…”[1]. Điều này dẫn đến tình trạng một vài tác phẩm văn học nghệ thuật đã “phủ nhận thành tựu cách mạng và văn hóa văn nghệ cách mạng, tách văn nghệ khỏi sự lãnh đạo của Đảng, xúc phạm anh hùng, vĩ nhân của dân tộc; khuynh hướng thương mại hóa, truyền bá lối sống thực dụng, sa đọa, bạo lực phát triển…”. Tính chất chung của các tác phẩm này ít nhiều đều trực tiếp hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy mỹ, tái du nhập chủ nghĩa duy mỹ.
Sự mỹ hóa phản giá trị của những tác phẩm có khuynh hướng tái hiện chủ nghĩa duy mỹ hiện nay dẫn đến sự nghi ngờ về sự nghiệp đối mới do Đảng ta lãnh đạo, ít ra là trong một bộ phận nhân dân. Nghệ thuật không né tránh việc phản ánh mặt trái của xã hội, nhưng để so sánh, để khẳng định những xu hướng tích cực, giá trị tốt đẹp của xã hội, nó cần phải lên án cái sai, cái ác, cái xấu, hướng con người tới cái đúng, cái thiện và cái đẹp. Bởi vậy, tăng cường mối quan hệ của nghệ thuật với sự nghiệp đổi mới trước hết phải xác định định hướng và mục tiêu của nghệ thuật trong điều kiện kinh tế thị trường. Một bên là định hướng xã hội chủ nghĩa, mục tiêu vì con người, còn bên kia là những mặt tích cực và tiêu cực còn hết sức bề bộn mới được hình thành, chưa phát triển đầy đủ ở nước ta. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, những bước đi ban đầu vào kinh tế thị trường ở nước ta đã tác động phức tạp đến đời sống tinh thần nói chung, văn hóa, văn nghệ nói riêng; làm xáo trộn không ít tới suy nghĩ của nghệ sỹ, cả sự phản ánh nội dung cuộc sống trong tác phẩm nghệ thuật.
Tác động của nghệ thuật với sự nghiệp đổi mới trước hết thể hiện ở thái độ ủng hộ của người nghệ sỹ đối với sự phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, là sự ủng hộ quan hệ thị trường trong văn hóa, ủng hộ sự giải phóng văn hóa thoát khỏi những giới hạn khuôn mẫu có tính bền vững của truyền thống, đẳng cấp, mở rộng phạm vi giao lưu, phổ biến văn hóa trong mọi giai tầng của công chúng, tức là thực hiện từng bước dân chủ hóa trong văn hóa, tạo ra khả năng tự điều chỉnh của văn hóa, kể cả hoạt động nghệ thuật.
Sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hướng đến những giá trị đích thực mang tính thời đại, là giá trị về sự giàu có, ấm no, hạnh phúc của mỗi con người, mỗi gia đình và toàn xã hội; về sự công bằng và văn minh của xã hội. Nhưng điều quan trọng hơn đối với nhiệm vụ trung tâm của nghệ thuật nước ta hiện nay là bồi dưỡng con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, tạo cho mỗi người một nhân cách vững vàng, có bản lĩnh ngang tầm sự nghiệp đổi mới của đất nước, mau chóng bắt gặp xu thế phát triển tất yếu của thời đại.
Xây dựng và phát triển nền nghệ thuật theo tinh thần Nghị quyết trung ương V (khóa VIII), về việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phục vụ công cuộc đổi mới là: “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học – nghệ thuật có gía trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người” có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Xây dựng con người Việt Nam “có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung, có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước”[2]. Có thể nói, cơ chế kinh tế thị trường là một thể chế kinh tế không loại bỏ khả năng tạo ra cho chúng ta một một lối sống xã hội “mọi người vì mình và mình vì mọi người”. Bởi vậy, cần hướng văn học nghệ thuật vào việc phản ánh kịp thời cái hiện thực sinh động, chân thật và sâu sắc sự nghiệp của nhân ta trong cách mạng và kháng chiến, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời cần kế thừa và phát triển những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc. Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi nghệ thuật phải thể hiện nổi bật những nhân tố mới tích cực trong xã hội, những nhân vật tiêu biểu của thời đại. Cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong mối quan hệ giữa con người với nhau và quan hệ giữa con người với tự nhiên; kiên quyết phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái ác, cái thấp hèn.
Nhấn mạnh mối liên hệ giữa nghệ thuật với sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ đòi hỏi hoạt động nghệ thuật phải phục vụ mục tiêu chính trị – xã hội, mà còn có ý nghĩa định hướng cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật để nâng cao và phát triển đời sống tinh thần con người Việt Nam hiện nay.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 10