Chào mừng bạn đến với Weblog daoduythanh!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giai thoại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giai thoại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015

Anh em văn nghệ sĩ, sau đợt chỉnh huấn, viết bản tự kiểm thảo.



     
    Nhà văn Nguyên Hồng sau khi viết được vài trang, nghỉ tay rít một hơi thuốc lào. Ông đến sau lưng nhà văn Nguyễn Công Hoan nhìn vào tập giấy trắng của bạn. Ngoài mấy chữ “Bản tự kiểm thảo” viết nắn nót, ngồi nửa buổi sáng, Nguyễn Công Hoan chưa viết được chữ nào. Nguyên Hồng cười khà khà:
    - Người ta bảo mỗi tối ông viết được vài ba chục trang tiểu thuyết, sao lần này ông viết chậm thế?
    Nguyễn Công Hoan hóm hỉnh:
    - Viết tiểu thuyết là bịa như thật cho nên nó nhanh. Còn thứ này muốn viết nhanh thì phải viết thật như bịa cho nên khó ơi là khó!
    (Theo 101 Truyện vui Nhà văn VN hiện đại của Nguyễn Bùi Vợi)

    Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

    Nhà thơ Chế Lan Viên: Khổ vì hay… tranh luận

    Những ai có dịp tiếp xúc nhiều với nhà thơ Chế Lan Viên đều thừa nhận ông là người rất sắc sảo, thông minh nhưng tính khí cũng hơi…thất thường, thậm chí có phần nóng nảy và một điều thật lạ, sự nóng nảy ấy ông thường chỉ bộc lộ qua những cuộc cãi vã, tranh luận văn chương. Nó làm cho cuộc sống của nhà thơ vốn dĩ trăm bề khó khăn lại càng thêm… căng thẳng. Nói Chế Lan Viên khổ vì hay… tranh luận cũng không phải không có cơ sở
      Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, một người bạn thuở thiếu thời của Chế Lan Viên từng kể: Một lần ông cùng Chế Lan Viên đi thăm Hunggari. Khi mới chân ướt chân ráo về nước, gặp vợ Chế Lan Viên là nhà văn Vũ Thị Thường, ông được bà Thường hỏi ngay: "Thế hai ông đi với nhau có cãi nhau không đấy?".
      Nguyễn Viết Lãm ngạc nhiên: "Sao chị lại hỏi thế?". Bà Thường giải thích: "Tôi biết tính anh ấy hay phản ứng làm cho anh em giận, lại thích nói thật đau, không chừa người nào".
      Quả là, trong cãi vã, tranh luận học thuật, Chế Lan Viên hay có những phát biểu nặng lời và "không chừa người nào". Lành hiền, điềm đạm như Bùi Hiển, vậy mà trong một hồi ký nhắc lại những ngày sống và làm việc bên cạnh Chế Lan Viên, ông vẫn phải chua thêm một câu "có lúc chúng tôi cũng hơi nổi nóng với nhau".
      Với bác Tú Mỡ (trên Chế Lan Viên tới 20 tuổi), trên diễn đàn văn học, Chế Lan Viên cũng có lúc gay gắt, không chịu nhún nhường. Nhà thơ Ngô Văn Phú kể: Lần ấy, Ban Chấp hành Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam tổ chức một cuộc hội thảo về thơ trào phúng.
      Tại cuộc hội thảo này đã nổ ra tranh luận giữa Chế Lan Viên và Tú Mỡ. Theo quan điểm của Chế Lan Viên thì thơ trào phúng có hai dòng: Một dòng trào phúng kiểu Tú Xương, Tú Mỡ và một dòng trào phúng trữ tình kiểu Maiacốpxki, Aragông.
      Tú Mỡ thì lại cho rằng, trào phúng phải mang được cốt cách dân tộc, và "trào phúng Tây thì chưa chắc đã được thích bằng trào phúng ta". Chuyện có vậy mà rốt cục Chế Lan Viên nóng nảy bỏ hội nghị ra ngoài. Nhà phê bình Hoài Thanh là người chủ trì hội nghị phải chạy theo dàn hòa mãi, Chế Lan Viên mới chịu trở vào.
      Với bậc đàn anh Tú Mỡ, Chế Lan Viên nóng nảy vậy, mà với lão nhà văn Phan Khôi, người trên Chế Lan Viên tới 33 tuổi, khi vấp nhau về quan điểm, ông cũng quyết không… khoan nhượng.
      Chế Lan Viên từng mắng cụ này là "hèn" khi thông qua người vợ đầu của nhà thơ, cụ đánh tiếng khuyên Chế Lan Viên nên giữ thái độ "trung lập" (điều này đã được nhà văn Nguyễn Huy Tưởng ghi lại trong nhật ký ngày 2/9/1956).
      Nhà văn Nguyễn Văn Bổng, trong một cuốn hồi ký cũng đã trích dẫn những lá thư của Chế Lan Viên gửi cho ông vào khoảng cuối những năm năm mươi (của thế kỷ XX), trong đó cho thấy từng có lúc ông bị Chế Lan Viên mắng mỏ gay gắt.
      May vì ông hiểu tính Chế Lan Viên nên chỉ cười trừ, thành thử sau này nhớ lại, Chế Lan Viên đã cảm động cho rằng, sở dĩ Nguyễn Văn Bổng có được cách xử thế ấy là vì ông đã "một bụng thương và hiểu" tính tình của người bạn thơ.
      Nhà thơ Hoàng Minh Châu trong bài "Chế Lan Viên với nghề thơ", đã kể lại chuyện Chế Lan Viên từng có lần nổi khùng lên với ông chỉ bởi trong bản thảo một tập thơ mới của Chế Lan Viên, với tư cách biên tập viên, ông đã khuyên tác giả nên tỉa bớt, chọn lại vì "có đoạn khô và lộ ý giáo dục".
      Thừa nhận cha mình là "nóng tính", trong bài viết có tên gọi "Cha tôi", nữ văn sĩ Phan Thị Vàng Anh đã kể lại một cảnh hiếm hoi cả gia đình chị cùng ra vườn ngắm trăng: "Chỉ những đêm rằm, vườn nhà tôi đầy trăng, cha bảo: "Tắt đèn, ra ngoài hè ngồi xem". Chị em tôi theo ra, ngồi khen trăng được vài phút, cha lại quay sang bàn chuyện văn với mẹ, rồi tranh luận, có khi cãi cọ, quên cả trăng".
      Đúng như nhà thơ Nguyễn Viết Lãm đã nhận xét: Mặc dù Chế Lan Viên "có tấm lòng cao thượng, hào hiệp, hay giúp đỡ người khác" nhưng ông "cũng có những cá tính dễ làm người khác không bằng lòng".
      Bản thân Chế Lan Viên, trước khi giã biệt cuộc đời cũng nói có nhiều người không ưa mình, thậm chí (trong thư gửi Hoàng Trung Thông) ông còn cho rằng sẽ có nhiều người vui khi biết ông "gặp tai nạn" (lúc ấy nhà thơ được xác định là bị ung thư phổi).
      Tuy nhiên, nói như một nhà thơ thì tổng kết lại, số người yêu Chế Lan Viên vẫn đông hơn nhiều những người thù ghét ông. Bởi, nói như nhà phê bình văn học Mai Quốc Liên thì Chế Lan Viên tuy tính khí nóng nảy, song ở khía cạnh đó ông lại thể hiện một nét rất thi sĩ và đáng yêu: "Cãi nhau cái gì ảnh cũng tranh phần thắng, vậy là không phải ảnh có ý xem thường, không như người khác tỏ vẻ "không chấp".
      Tức là ông luôn coi người đối thoại là bình đẳng. Không những thế, vẫn theo nhận xét của Mai Quốc Liên, đằng sau sự nóng nảy kia, Chế Lan Viên lại là người "dễ mủi lòng, dễ xúc động, dễ tha thứ".
      (Theo nguoibanduong.net)

      Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

      Giai thoại về Hồ Xuân Hương

      Hồ Xuân Hương con ông Hồ Sĩ Danh (1706 - 1783), em cùng cha khác mẹ với quận công Hồ Sĩ Đống (1738 - 1786), quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lôi, Nghệ An. Mẹ là người xứ Bắc, khi cha và anh mất, Hồ Xuân Hương tuy không còn nhỏ nhưng với thân phận thê thiếp lẽ mọn, hai mẹ con đành phải đưa nhau trở về đất Bắc sinh sống.
        Ngôi nhà nhỏ ven Hồ tây thuộc phường Khán Xuân, khu vực núi Nùng (Bách Thảo- Hà Nội) dẫu chỉ tranh tre nứa lá, nơi Hồ Xuân Hương vừa xem sách, làm thơ, vừa dạy học trò nuôi mẹ già. Nhờ nhân thủy hữu tình mà khách khứa dập dìu ra vào khá đông.

        Những bài thơ và giai thoại bà để lại trong thời kỳ này khá nhiều. Giai thoại đầu tiên xuất hiện ngay sau khi bà từ Vĩnh Phú về dựng cổ nguyệt đường dạy học, làm thơ.
        Hôm ấy một viên quan lớn trong triều đi vãn cảnh hồ Tây. Trời trong, nước xanh- cảnh vật đẹp đến nao lòng vì bao nhiêu tinh tú của đất trời dường như tụ hội cả ở nơi đây. Nơi mà tâm hồn nhạy cảm của bà nhìn ra và quyết định dừng lại an cư lập nghiệp chứ không tiến vào kinh thành Thăng Long - nơi bao văn võ bá quan, dân kinh kỳ kẻ chợ có máu mặt đều tìm vào - vì vị trí khuất nẻo so với kinh thành...

        Tiếng quân lính hô hét dẹp đường, cảnh võng lộng nghêng ngang, tiền hô hậu ủng, phá tan cảnh đẹp của bầu trời nơi đây. Xuân Hương đang giặt ở ven hồ thấy chướng tai gai mắt, liền buông rải quần áo ven bờ, điềm nhiên nhìn thẳng vào kiệu của quan đang đi tới, ngẫm nghĩ trong đầu, tìm tứ thơ, rồi đọc to:
        Võng điều quan lớn đi trên ấy
        Váy rách bà con giặt dưới này.
        Ví cái võng điều của quan lớn với váy rách của bà con quả là chua cay. Xem ra, quan thời xưa chả khác quan thời nay là mấy. Trong khi bà con khổ sở, cùng cực thì quan vơ vét hết cho bản thân. Nhà cao cửa rộng, vợ nọ con kia, còn ô dù võng lọng, nghêng ngang, quát lác, chỉ ăn tàn phá hại, có lợi gì cho dân đâu ?
        Nghe câu đối, cả thầy, cả tớ trợn mắt nhìn Xuân Hương, thấy phong thái ung dung, ngôn từ sóc lỏi, độc địa, biết không thể là đối thủ để nạt nộ, đành lẳng lặng đi qua như không hề nghe thấy...Chuyện này mà để lan truyền ra khắp kinh thành Thăng Long thì mặt quan thành mặt mo, còn nhục hơn bị bà con dùng váy rách che lên mặt. Từ đó, như quả pháo xịt ngòi, quan mất hẳn thói nghêng ngang, hống hách, đi đâu bỏ hết lính dẹp đường ở nhà, Hồ Tây trở lại với khung trời cao rộng, cây xanh, nước biếc, đẹp mê hồn.
        Giai thoại thứ hai bắt nguồn từ hai chữ cổ nguyệt (ghép lại thành chữ Hồ) có người cho là của Chiêu Hổ chòng ghẹo bà.
        Người cổ lại còn đeo thói nguyệt
        Buồng xuân chi để lạnh mùi hương ?(1)

        Câu đối ghép lại đủ cả tên họ bà, còn tách ra lại là sự trách khéo: "Đã tự coi là người cổ hủ, trọng nề nếp, gia phong lại còn thích thói hưởng nguyệt, xem hoa, lả lơi, thi phú ? Đang tuổi xuân thì còn hương sắc, mà không gìn giữ nền nếp, gia phong thì buồng xuân còn để lạnh đến bao giờ ?
        Sát nhà là đền Trấn Võ, có gác chuông cao, treo quả chuông lớn, nhiều chàng nho sĩ đến thăm, cũng học đòi, ti toe làm thơ. Vốn táo tợn, Xuân Hương chẳng chịu tha cho những kẻ đầy bồ chữ nghĩa, tưởng thênh thang học rộng, tài cao mà toàn đồ chè chai giấy lộn ấy. Xuân Hương quyết lộn trái chúng ra:
        - Được gặp các thầy nơi đền cao cửa kín này thật vinh hạnh, thóang trông đã rõ các thầy tài học uyên bác. Dám xin các thầy một bài thơ được không ạ ?
        -Tưởng việc gì chứ thơ thì sẵn lắm, cô cứ ra đề cho.
        -Dạ tiện đây xin các thầy vịnh quả chuông luôn, cứ lấy vần uông làm vần.
        -Tưởng được gãi đúng chỗ ngứa, ai ngờ vớ phải quả chuông rè, chuông câm, ngoài hai tiếng kêu "bính boong" là hết, biết gắn vần uông vào chỗ nào đây ?
        Ngần ngừ, mãi vẫn tắc tị, một thầy đánh liều gạ gẫm :
        - Vần uông không ổn cô ạ, hay là...
        Biết tỏng mớ chữ nghiã giấy lộn trong đôi bồ của các thầy không mấy đáng giá, Hồ Xuân Hương tung chưởng cho họ rơi từ đỉnh gác chuông tới... tận đáy hồ, không sao mọc mũi sủi tăm lên được:
        - Sao lại không ? Em thử làm vài câu cho các thầy nghe nhé :
        Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông,
        Nó bảo nhau rằng ấy cái uông.
        Càng ở càng "sặc nước", quần áo ướt sũng sĩnh vì mồ hôi, nước lạnh

        Hồ Xuân Hương dội lên đầu, các thầy đành ngớ ngẩn cười trừ rồi cút thẳng. Mỗi lần nhớ lại vần uông, cái chuông của thi sĩ họ Hồ, tên Hương lại buốt tận xương hông, không dám giở trò văn vẻ, chữ nghiã ra trước bàn dân thiên hạ nữa.
        Cũng bởi nhà ở gần đền mà Hồ Xuân Hương hay thơ thẩn đi dạo, lần ấy đúng vào dịp Triều đình mở khoa thi, các sĩ tử, văn nhân từ khắp các tỉnh thành trong cả nước dập dìu về kinh thành Thăng Long dự thi rất đông. Trong số đó có “cậu ấm” con quan chánh chủ khảo kỳ thi, cùng đám bạn vàng giầu có. Nhân chơi hồ Hoàn Kiếm thấy cảnh Đền đẹp liền kéo vào. Để tỏ rõ tài thơ phú trước đám bạn vàng, cậu con chánh chủ khảo liền “ Tức cảnh sinh tình” vịnh luôn một bài “thẩn” đề vào ngay vách Đền làm “ kỷ niệm”:
        Khen ai đổ đất đắp nên chùa
        Một nếp thù lù ở giữa hồ,
        Mặt nước bóng chiều đà bảng lảng
        Làm sao vẫn chửa thấy chuông khuơ ?
        Xuân Hương đang thơ thẩn quanh đó, thấy mọi người cười cợt, chỉ trỏ, liền sà vào, bắt gặp bài thơ và tác giả "rặn thơ" liền ôm bụng cười ngặt nghẽo. Cười chán, bà mượn bút mực, vung tay đề tiếp bài thơ “cảnh tỉnh’ của mình bên cạnh để trả lời “cậu ấm” và một xâu đám bạn lòi tói- những cốc chén, sứt mẻ, rạn vành, gẫy quai, thích chơi trèo của chúng:
        Dắt díu nhau lên đến cửa chiền
        Cũng đòi học nói, nói không nên
        Ai về nhắn bảo phường lòi tói
        Muốn sống đem vôi quét trả đền.
        Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, gặp người khẩu khí chững chạc đến thế, cậu ấm đành phải dựa cột...để nghe cho thủng, xong bấm bụng, xủng xong lốc nhốc kéo cả xâu chuỗi về. Chẳng bao giờ dám khoe dại, khoe khôn nơi vách đền nữa. Đền được trả lại vẻ đẹp cổ kính, u tịch trang nghiêm ban đầu. Vì sau đó chẳng ai dám vượt mặt “Bà chúa Thơ Nôm” để đề “thẩn” lên tường, làm bẩn tường nữa.
        Lại một lần nữa, lúc này tiếng tăm của bà đã nổi khắp thành Thăng Long. Đang lững thững từ chùa Trấn Quốc về Cổ Nguyệt đường thì nghe có tiếng lơi lả, chòng ghẹo ở phía sau, biết rõ căn bệnh: ăn không nên đọi, nói chẳng thành lời của các thầy, Xuân Hương lẳng lặng men theo men hồ, đến sát chân núi Nùng, cạnh nhà, mới dùng lời sắc như dao để cắt đuôi:
        - Chả mấy khi được gặp các thầy, em xin đọc hầu các thầy một bài nhé:
        Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
        Lại đây chị dạy phép làm thơ
        Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
        Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa.
        Nghe khẩu khí biết ngay là Hồ Xuân Hương, các thầy ngượng chín cả người. Tưởng đánh trống qua cửa nhà trời, ai ngờ sấm dội, mưa chan...gẫy cả dùi, vỡ cả trống. Tứ, ngũ túc dúm hết lại, suýt thì lộn cổ xuống hồ. Chờ cho Xuân Hương tung tăng vào hẳn trong nhà, các thầy mới dám xiêu vẹo bước. Thật chẳng cái dại nào giống cái dại nào. Đã ngứa nọc, buồn sừng lại gặp phải dậu thưa, hoa rữa, gỡ chẳng ra lại còn bị cười lỡm đến thối nọc, gẫy sừng./.
        (Theo vanchuongviet )

        Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

        Đoàn Chuẩn và những giai thoại

        Đoàn Chuẩn sinh ngày 15/6/1924 tại Hải Phòng trong một gia đình tư sản lớn. Nổi tiếng với tính cách phong lưu, hào hoa có thể so sánh như công tử Bạc Liêu ở miền Nam.
          Giai thoại kể về ông rất nhiều ví như chuyện ông đã từng thuê hàng tá ô để che nắng cho một trong hai chiếc Cadillac khi ông đi tắm biển Hải Phòng. Khi đó, cả Việt Nam chỉ có 02 chiếc Cadillac. Diện tích ô che phủ bao nhiêu thì trả từng đó tiền. Cách ăn mặc của ông cũng vô cùng cầu kỳ, mỗi này ông thường thay vài bộ quần áo và hàng chục đôi giày… chỉ ăn tôm mới bắt 15 phút trước và đã được bóc nõn quấn mỡ kho.

          Không chỉ nổi tiếng bởi độ tiêu xài, hay cách ăn mặc, Đoàn Chuẩn còn rất đa tình. Chuyện kể rằng, thời trẻ ông từng dành ba năm thuê người mỗi ngày mang một bông hồng đến tặng người con gái mà ông yêu. Về sau, gia cảnh của nhà Đoàn Chuẩn có phần giảm sút nhưng ông vẫn sống rất vui vẻ và hạnh phúc bên vợ mình.

          Như người đời từng nhận xét "mỗi ca khúc của Đoàn Chuẩn đều khơi nguồn từ một cuộc tình", với người vợ thân thương của mình, Đoàn Chuẩn cũng đã dành tặng ít nhất hai bài: Ca khúc "Đường về Việt Bắc" (còn có tên gọi "Tà áo tím") và một ca khúc được phát hiện sau khi ông mất, ca khúc "Ánh trăng mùa thu" (hiện "nguyên mẫu" bài hát được nhiều người khẳng định không ai khác ngoài người vợ hiền thục của nhà nhạc sĩ). Tuy nhiên, cũng có người cho rằng như thế là chưa "công bằng", khi mà có "bóng hồng" được nhạc sĩ viết tặng tới 6 bài. Về việc này, bà Đoàn Chuẩn có cách nhìn thật tinh tế, bao dung: "Ông nhà tôi lãng mạn, đa tình lắm. Có vậy ông mới viết được bài hát hay thế... Đời ông phóng khoáng. Nghe nhạc ông lúc nào tôi cũng ngạc nhiên - sao ông tài thế? Mỗi bài hát là một mối tình đi qua đời ông".

          Mặc dù không có nhiều sáng tác song những tác phẩm của ông đều trở thành giai điệu quen thuộc của nhiều thế hệ. Ca khúc đầu tiên ông sáng tác là “Ánh trăng mùa thu” năm 1974. Mặc dù số lượng ca khúc Đoàn Chuẩn để lại rất ít, chưa đầy 20 bài, song quá nửa bài trong số ấy chỉ cần nhắc tên là bạn yêu âm nhạc đã cảm thấy xao xuyến, bởi đó là những bài hát vẫn vương vấn, quấn quít với lòng người, với tình yêu và mùa thu Hà Nội từ nhiều chục năm nay: "Thu quyến rũ", "Gửi gió cho mây ngàn bay", "Đường về Việt Bắc", "Gửi người em gái", "Cánh hoa duyên kiếp", "Tà áo xanh", "Vàng phai mấy lá", "Chuyển bến", "Lá đổ muôn chiều"... Một đồng nghiệp của Đoàn Chuẩn đã nhận xét chính xác rằng, Đoàn Chuẩn viết kỹ, trong những sáng tác ông đã cho công bố, không có bài dở. Có lẽ vì sự khó tính ấy mà có bài, phải đến khi nhạc sĩ qua đời, mọi người mới tìm ra?
          Một điều nữa khiến cuộc đời, sự nghiệp của ông trờ thành giai thoại, đó là tất cả các ca khúc của ông đều được ghi tên tác giả là “Đoàn Chuẩn – Từ Linh”. Từ Linh – là một người bạn thân của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, tên thật là Hà Đình Thâu, ông là một nhiếp ảnh gia. Trên thực tế Từ Linh không tham gia sáng tác nhưng Đoàn Chuẩn vẫn ghi tên chung của hai người để tôn vinh người ban tri âm, tôn vinh tình bạn đã góp phần tạo cảm hứng nghệ thuật. Cái tên chung Đoàn Chuẩn – Từ Linh mà nhạc sĩ chọn để sử dụng đến nay vẫn còn là một ẩn số với công chúng./.
          (Theo vanchuongviet)

          Thứ Ba, 6 tháng 10, 2015

          Những chiêu trò "tán gái" có một không hai của các danh sĩ xưa

          Không phải chỉ các chàng trai thời nay mới có nhiều chiêu trò “cưa gái" mà ngay từ thời “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, các danh nhân đã có nhiều tuyệt chiêu để chiếm được trái tim của người mình yêu.
          Hạ mình để tiếp cận người đẹp
          Trong số rất nhiều giai thoại tiêu biểu về nhà quân sự, nhà kinh tế và nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam Nguyễn Công Trứ, người ta có nhắc đến giai thoại về chuyện "cưa gái" của ông. Câu chuyện về người đàn ông đa tài, đa tình và đa đoan này gắn liền với một người đẹp có tên là Hiệu Thư.
          Nguyễn Công Trứ sinh ra ở làng Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ngay từ thuở hàn vi, ông đã thể hiện là người mê ca hát, nhất là hát phường vải và ca trù.
          Ngay gần làng Uy Viễn có làng Cổ Đạm - một phường ca trù nổi tiếng vào loại nhất nước. Đây cũng là nơi quy tụ rất nhiều đào nương tài giỏi và xinh đẹp, trong số đó có nàng Hiệu Thư.
          Tương truyền cô đào Hiệu Thư có phong tư diễm lệ, tài hoa xuất chúng, giọng hát tuyệt hay, nhưng có lẽ vì vừa xinh đẹp, vừa tài giỏi nên tính tình rất kiêu kì. Thông thường, nàng chỉ tiếp những vương tôn công tử, những người nổi danh mà thôi.
          Ngày ấy, trong giới đàn ca hát xướng, Nguyễn Công Trứ cũng biết giá trị của mình. Ông nổi tiếng khắp vùng là người đàn hay, đánh trống chầu chưa ai trách, ứng tác bài hát thì đến giới ca nhi không ai không phục. Tài năng là thế, lại rất say mê Hiệu Thư mà nàng vẫn chẳng ngó ngàng đến. Nguyễn Công Trứ đành phải “kính nhi viễn chi”.
          Sau ông nghĩ kế hạ mình xin vào làm kép cho Hiệu Thư, hễ nàng đi hát ở đâu thì ông cũng được đi theo gảy đàn.
          Hiệu Thư liền đồng ý ngay. Vậy là bước đầu trong kế hoạch chinh phục người đẹp của Nguyễn Công Trứ đã thành công. Nhưng vì lần nào đi hát, gánh hát cũng đông đúc nên ông chưa thể thổ lộ được tình cảm với nàng.
          Một tối nọ, gánh hát ca trù làng Cổ Đạm được mời sang hát ở Vĩnh Yên, cách đó khá xa. Hiệu Thư được điều đi phục vụ và nàng xin ông bầu gánh hát mời Nguyễn Công Trứ đi theo để vừa họa đàn, vừa đặt lời ca.
          Trên đường đi, không hiểu vì sao hai người bị tụt lại sau mọi người trong đoàn. Nhận thấy đây chính là cơ hội vàng cho ông nhưng lại vướng bởi có một đứa tiểu đồng nhỏ theo hầu. Đến giữa cánh đồng vắng vẻ, Nguyễn Công Trứ giả vờ sửng sốt vì phát hiện mình đã bỏ quên dây đàn ở nhà.
          Tưởng thật, Hiệu Thư sai chú tiểu đồng chạy về lấy hộ. Thế rồi trên cánh đồng lúa vắng vẻ, chỉ còn đôi trai tài gái sắc, ông đã buông lời tán tỉnh, trêu ghẹo Hiệu Thư. Cô đào xinh đẹp chỉ “ứ hự” chứ không từ chối hay mắng nhiếc gì. Nhưng mối quan hệ giữa hai người cũng chỉ lưng chừng ở đó.
          Nhiều năm trôi qua, Nguyễn Công Trứ đã trở thành Tổng đốc Hải An (Hải Dương ngày nay). Một lần, ông cho tổ chức cuộc hát xướng tại tư dinh, có mời các danh ca đến phục vụ. Không ngờ trong số những người được mời đến lại có cả cô đào Hiệu Thư năm xưa.
          Khi bước ra trình diễn, Hiệu Thư nhận ra quan Tổng đốc đang ngồi nghe hát ở phía trên chính là chàng kép Trứ ngày nào theo mình, nàng liền cất giọng: “Giang san một gánh giữa đồng/Thuyền quyên ‘ứ hự’ anh hùng nhớ chăng?”.
          Nghe câu hát, Nguyễn Công Trứ giật mình nhớ lại chuyện cũ. Nhìn lại nàng ca kĩ vừa cất lời hát đó, quan Tổng đốc thảng thốt hỏi: “Có phải Hiệu Thư đó không?”.
          Khi cuộc hát tàn, hai người ngồi lại tâm sự, Hiệu Thư kể cho Nguyễn Công Trứ nghe quãng đời chìm nổi, phiêu bạt của mình kể từ đêm trên cánh đồng năm ấy. Biết Hiệu Thư vẫn chưa có chồng, quan Tổng đốc liền quyết định cưới nàng làm thiếp.
          Câu chuyện tình của mình đã được ông ghi lại trong một bài thơ: “Liếc trông đáng giá mấy mười mươi/ Đem lạng vàng mua lấy tiếng cười/ Giăng xế nhưng mà cung chẳng khuyết/ Hoa tàn song lại nhuỵ còn tươi/ Chia đôi duyên nợ, đà hơn một/ Mà nét xuân kia vẹn cả mười/ Vì chút tình duyên nên đằm thắm/ Khéo làm cho bận khách làng chơi”.
          Đục tường tìm vào phòng người yêu
          Một trong những tuyệt chiêu "cưa gái" nổi đình nổi đám của danh nhân xưa được người đời nay lưu truyền đó là chiêu đục tường tìm đến phòng người yêu của lưỡng quốc trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo. Ông sinh năm 1651, mất năm 1719, còn gọi là Trạng Bịu, quê ở Tiên Du (Bắc Ninh). Bên cạnh việc nổi tiếng vì là người có tư chất thông minh và danh vọng, khoa bảng lẫy lừng thì câu chuyện tình của ông cũng có nhiều điều khác biệt.
          Giai thoại kể rằng thuở trẻ, khi đang học ở kinh đô, nhân ngày rằm tháng giêng, trạng Bịu cùng với tiểu đồng và bạn bè đi thăm kinh thành. Ông định vào chùa Báo Thiên vãn cảnh thì vừa đến cổng chùa đã thấy một chiếc kiệu hoa với lính hầu, nữ tì đi theo.
          Bước xuống từ kiệu hoa là một người con gái mặt hoa da phấn, vẻ đẹp mặn mà. Trạng Bịu ngây người trước vẻ đẹp của tiểu thư mà quên cả ngắm cảnh. Ông chỉ biết lần theo bước chân người đẹp vào lễ chùa.
          Thấy người đẹp thắp hương cầu Phật, trạng Bịu tiến đến đứng sát bên cạnh, cố tình khấn thật to, cố ý để tiểu thư nghe được: “Nam mô a di đà phật, cầu phật phù hộ cho vợ chồng con bách niên giai lão”. Nghe vậy, các thị tỳ theo hầu nàng cho là trạng Bịu cợt nhả liền mắng nhiếc ông vô lễ, cả gan mạo phạm tiểu thư con nhà danh giá.
          Lạ thay, người đẹp không hề trách cứ gì mà chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở đám người hầu đi lễ phật không được phép mắng người. Nói rồi nàng lên kiệu ra về. Trạng Bịu thấy tiểu thư vừa đẹp người, vừa hay nết, ông âm thầm theo dõi và biết nàng con nhà võ quan Ngô Hiến hầu.
          Trở về xóm trọ, trạng Bịu ngày đêm tơ tưởng bóng đáng người đẹp. Một đêm, ông liều mình trèo tường vào dinh thự, tìm đến thẳng phòng tiểu thư, khoét tường chui vào buồng nàng và trèo lên giường ngủ chung.
          Đang say giấc nồng, tiểu thư bỗng nhiên giật mình tỉnh dậy, hoảng hốt hỏi ông là ai thì trạng Bịu thành thật trả lời: “Từ bữa gặp nhau ở chùa, tôi trằn trọc thương nhớ khôn nguôi, định tìm mai mối, lại sợ làm nhơ đến quan tể tướng, chưa chắc được ngài đoái hoài tới. Nay cả gan ở đây, định đính ước trăm năm với tiểu thư”.
          Nghe tiếng ồn ào, cha người đẹp xuống hỏi chuyện và đem trói trạng Bịu lại. Nhưng khi nghe ông khai là danh sĩ đất Kinh Bắc, lại nghe bài phú mà Nguyễn Đăng Đạo làm thử, nghĩ đây phải là người tài cán, nhiều hoài bão nên đã tha tội.
          Ngô Hiến hầu còn làm phòng riêng cho Nguyễn Đăng Đạo ở, cấp dầu đèn cho học. Năm sau, ông đi thi đỗ đầu kỳ thi Hương, được Ngô Hiến hầu đón về ở rể, tác thành nhân duyên với con gái mình.
          • (Theo Vnexpress)

          Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

          Sự thật và giai thoại về đám tang nhà Công tử Bạc Liêu

          Đám tang của cha Công tử Bạc Liêu - ông Hội đồng Trần Trinh Trạch được tổ chức to nhất Bạc Liêu thời bấy giờ, diễn ra trong suốt 7 ngày, 7 đêm.
          Có 4 người con gái và 3 người con trai nhưng cha Công tử Bạc Liêu - ông Hội đồng Trần Trinh Trạch thương yêu chiều chuộng nhất là cậu Ba Huy. Cho đến khi cuối đời ông cũng chết trong vòng tay của cậu con này.
          Chết vì cảm lạnh
          Ai cũng biết trong các con, ông Trạch thương cậu Huy nhất từ việc đi du học ở Tây, lấy vợ đầm, các con vợ lẽ, con rơi của cậu Huy đều được ông Trạch nhìn nhận hết. Cuộc đời của vợ chồng ông Hội đồng Trạch giản dị bao nhiêu thì đến đời cậu Huy, ông Trạch đều “mở cửa” hết.
          Cậu ba Huy - Công tử Bạc Liêu được cha cho phép sắm máy bay, mua xe đua, lên Sài Gòn sống cuộc sống đế vương, tổ chức các cuộc thi đấu xảo sắc đẹp miệt vườn (sau này cậu ba "quơ" cả hoa hậu lẫn á hậu). Trong gia tộc Trần Trinh chỉ riêng cậu Huy được làm như thế. Dù ông Trạch thấy rõ cậu làm ít hưởng nhiều nhưng ông cũng tự an ủi rằng như cả đời ông khổ sở chỉ biết làm lụng, có biết tắm biển, nghỉ dưỡng là gì đâu.
          Su that va giai thoai ve dam tang nha Cong tu Bac Lieu
           Di ảnh của Công tử Bạc Liêu và người vợ đầu tiên Ngô Thị Đen.
          Năm 1942, đến cuối đời, sau khi mừng thọ tuổi 70 được hơn tháng, ông Hội đồng Trạch nói với cậu Huy đưa xuống Sài Gòn đổi gió, dối già. Thấy cha muốn đi nghỉ ngơi, cậu Huy đã đồng ý đưa ba đi. Xuống Sài Gòn, cậu bắt đầu cho cha đi du lịch. Theo dự kiến sẽ đi thăm quan sở thú, đi lên tòa nhà Majetic cao nhất Sài Gòn để ngắm thành phố rồi đi tắm biển Long Hải, Vũng Tàu, đi lên nghỉ ngơi ở thành phố sương mù Đà Lạt.
          Tuy nhiên, sau khi đi biển Long Hải về, vì tắm biển lâu nên ông Trạch bị cảm lạnh. Cậu ba Huy đã mời bác sĩ về nhà nhưng cảm lạnh bị biến chứng sâu, do tuổi cao, sức đề kháng kém nên ông Hội đồng Trạch đã tắt thở ở Sài Gòn.
          Cậu Huy sợ anh chị em, gia tộc trách mắng vì cái chết bất đắc kỳ tử của ông Hội đồng nên đã lái xe đưa ông Trạch về Bạc Liêu ngay trong đêm hôm đó. Quãng đưỡng 300km từ Sài Gòn về Bạc Liêu, cậu Huy chèn gối đặt ông Trạch ngồi ngay ngắn, không ai biết ông đã chết. Chỉ đến khi về đến dinh thự, mọi chuyện rối ren, người ta mới hay ông Trạch đã qua đời.
          Những đám ma to nhất Bạc Liêu
          Đám tang ông Hội đồng Trần Trinh Trạch do cậu ba Huy làm trưởng ban. Cậu ba thuê hẳn một nhiếp ảnh gia có tiếng ở Bạc Liêu chịu trách nhiệm chụp ảnh ghi lại khoảnh khắc đám tang từ đầu đến cuối, từ nhà lớn đến nghĩa trang gia tộc ở Cái Dày. Áo quan của ông Hội đồng bằng cây huỳnh đàn là thứ gỗ thượng hảo hạng lúc bấy giờ. Đám tang có dàn nhạc Ta, Tiêu, Miên khiến không khí không còn trầm uất như các gia đình khác.
          Họ đã xuất rất nhiều tiền để làm cỗ thiết đãi người đến viếng trong suốt 7 ngày, 7 đêm. Bạt căng ra tận bờ sông. Khách đến viếng sẽ được gia nhân dọn cỗ bàn đàng hoàng. Đám tang ông Hội đồng còn có rất nhiều ăn mày từ các tỉnh lân cận đi về. Họ có cơ hội ăn uống ngon miệng ngày 2 bữa. Họ ăn dầm, ở dề suốt đám tang để chia buồn với gia đình Công tử Bạc Liêu lúc đó. Với những người dân Bạc Liêu, đám tang của cha công tử Bạc Liêu có đến mấy ngàn người đưa tiễn. Khi xe tang đã đến nghĩa trang gia tộc cách thành phố 5km nhưng đoàn người từ thị xã Bạc Liêu lúc đó vẫn nối dài nhau.
          Sau ngày mất của ông Hội đồng Trần Trinh Trạch, bà Hội đồng theo cậu Tám sang Pháp để vui cùng cháu gái con gái trưởng của cậu Huy và bà Ngô Thị Đen vợ công tử Bạc Liêu. Đến năm 1947, bà Hội đồng mất, cháu rể của bà thuê phi cơ chở quan tài của bà về tận Tân Sơn Nhất. Cậu ba Huy thuê xe tang từ Bạc Liêu lên đón thi hài mẹ. Đám tang của bà Hội đồng là đám tang lớn thứ 2 ở Bạc Liêu. Dàn nhạc Ta, Tây, Miên được cậu Huy mời về thổi suốt đám tang, cũng giống như đám tang ông hội đồng, đám tang bà Hội đồng được cử hành như một đám tang đế vương, người ta lại được lần nữa ăn dầm ở dề “chia sẻ tang gia” với Hắc công tử.
          Sau này, đám tang của vợ Công tử Bạc liêu là bà Ngô Thị Đen được xem là đám tang lớn thứ ba tại Bạc Liêu lúc ấy. Bà Ngô Thị Đen mất tại Thụy Sĩ do bị ung thư não. Con gái của bà là Trần Thị Lưỡng đã đưa di hài của bà về quàn tại nghĩa trang Trần Gia ở Cái Dày.
          Theo Infonet